Gia tri nhan dao moi me qua de tai tri thuc tieu tu san trong Doi thua - Pdf 21

Công ty Cổ phầ n Đầ u tư Công nghệ Giáo dụ c IDJ
Biên tậ p viên: Trầ n Hả i Tú www.hoc360.vn
O
GI Á TRỊ NHÂN ĐẠ O MỚ I MẺ TRONG TÁC PHẨ M “ĐỜ I THỪ A”
CỦ A NAM CAO
Đờ i thừ a là truyệ n về mộ t nhà văn nghèo bấ t đắ c dĩ. Đề tài ấ y không thậ t mớ i:
đư ơ ng thờ i, đã có Mự c mài nư ớ c mắ t (Lan Khai), Nợ văn (Lãng Tử ), nhiề u trang tuỳ bút củ a
Nguyễ n Tuân, nhiề u vầ n thơ củ a Tả n Đà, Nguyễ n Vỹ , Trầ n Huyề n Trân…, hai câu th ơ rấ t
quen thuộ c củ a Xuân Diệ u: “Nỗ i đờ i cơ cự c đang giơ vuố t – Cơ m áo không đùa vớ i khách
thơ ”… Tấ t cả đề u đã nói thấ m thía về cả nh nghèo túng đáng thư ơ ng củ a ngư ờ i cầ m bút.
Đờ i thừ a cũng như mộ t số sáng tác củ a Nam Cao gầ n gũi vớ i nó về đề t ài, giọ ng
điệ u, tư tư ở ng: Trăng sáng, Nư ớ c mắ t, Số ng mòn… – đã ghi lạ i chân thậ t hình ả nh buồ n
thả m củ a ngư ờ i tri thứ c tiể u tư sả n nghèo. Tuy không đế n nỗ i quá đen tố i, “tố i như mự c”
lắ m khi “đen quánh lạ i” – chữ dùng củ a Nguyễ n Tuân -, như cuộ c số ng củ a quầ n chúng lao
độ ng thư ờ ng xuyên đói rét thê thả m, như ng cuộ c số ng củ a nhữ ng ngư ờ i “lao độ ng áo
trắ ng”, nhữ ng “vô sả n đeo cổ cồ n” đó cũng to àn mộ t màu xám nhứ c nhố i: “không tố i đen
mà xam xám nhờ nhờ ” (Xuân Diệ u). Vì nghèo túng triề n miên, vì “chế t mòn” về tinh thầ n.
Trong bứ c tranh chung về cuộ c số ng ng ư ờ i tiể u tư sả n nghèo, Nam Cao đã góp vào nhữ ng
nét bút rấ t mự c chân thậ t và sắ c sả o, làm cho hình ả nh vừ a bi vừ a hài củ a lớ p ngư ờ i này trở
nên đầ y ám ả nh.
Trong mả ng sáng tác về đề tài tiể u tư sả n củ a Nam Cao, Đờ i thừ a có mộ t vị trí đặ c
biệ t. Cũng như tiể u thuyế t Số ng mòn, Đờ i thừ a là sự tổ ng hợ p củ a ngòi bút Nam Cao trong
đề tài tiể u tư sả n, là tác phẩ m đã thể hiệ n khá hoàn chỉ nh tư tư ở ng nghệ thuậ t cơ bả n củ a
nhà văn. Có điề u, trong khuôn khổ truyệ n ngắ n, sự tổ ng hợ p ấ y không xả y ra tr ên bề rộ ng
mà chủ yế u tậ p trung đi vào bề sâu.
Giá trị củ a Đờ i thừ a không phả i chỉ ở chỗ đã miêu tả chân thậ t cuộ c số ng nghèo khổ ,
bế tắ c củ a ngư ờ i trí thứ c tiể u tư sả n nghèo, đã viế t về ngư ờ i tiể u tư sả n không phả i vớ i ngòi
bút vuố t ve, thi vị hoá, mà còn vạ ch ra cả nhữ ng thói xấ u củ a họ v.v…
Cách nói đó dư ờ ng như xác đáng, song chỉ thấ y mộ t lớ p ý nghĩa, lớ p thứ nhấ t, lớ p
bên trên củ a tác phẩ m. Mà vớ i Nam Cao, cách nhìn như vậ y thậ t tai hạ i, vì nó “bấ t cậ p”, vô
tình thu hẹ p và hạ thấ p rấ t nhiề u tầ m tư tư ở ng củ a truyệ n. Khác vớ i các tác phẩ m củ a

Nhưng cái xã hội ấy nếu kích thích sự thức tỉnh ý thức cá nhân thì đồng thời, đã đẩy
cá nhân vào tình trạng bị đè bẹp. Đó là tất cả tấn bi kịch đang diễn ra ngấm ngầm trong đời
sống tinh thần thế hệ 1930 khi đó. “Hoài bão lớn” mà Hộ quyết đạt tới bằng một ý chí phi
thường đã không thể thực hiện được. Hộ gặp Từ giữa lúc người con gái bất hạnh đó đang
“đau đớn không bờ bến”: bị một g ã Sở Khanh bỏ rơi với đứa bé mới đẻ… Hộ đã “cuối xuống
nỗi đau khổ của Từ (…) mở rộng đôi cánh tay đón lấy Từ”. Tr ước số phận đau khổ của con
gnười, anh không còn có thể coi “nghệ thuật là tất cả” mà đã hành động như một con người
chân chính. Nhưng điều đó đã gây nên nguy cơ phá hỏng sự nghiệp của anh. Từ khi “ghép
cuộc đời của Từ vào cuộc đời của hắn, hắn có cả một gia đình phải chăm lo”. Hộ không thể
“khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất” như trước đây, mà trái lại, phải ra sức kiếm tiền.
Và “những bận rộn tẹp nhẹp, vô nghĩa lí nh ưng không thể không nghĩ tới, ngốn một phần
lớn thì giờ của hắn”. Nhưng không phải chỉ thì giờ.
Vì phải kiếm tiền – trong điều kiện, khả năng của Hộ, cách ki ếm tiền duy nhất là
sáng tác – Hộ không thể viết thận trọng, nghi êm túc theo yêu cầu của nghệ thuật chân
chính. Anh “phải cho in nhiều cuốn văn viết vội v àng (…) phải viết những bài báo để người
Công ty Cổphần Đầu tư Công nghệGiáo dục IDJ
Biên tậ p viên: Trầ n Hả i Tú www.hoc360.vn
Q
ta đọc rồi quên ngay sau lúc đọc”. Đây là điều vô cùng đau đớn với một người như Hộ.
Không phải anh không được viết, mà là phải viết thứ văn chương mà một người có lí tưởng
nghệ thuật cao đẹp, có lương tâm nghề nghiệp, có khát vọng vươn tới đỉnh cao nghệ thụât
như anh, không thể nào chấp nhận được. Thế là, Hộ đã phản bội lại chính mình. Nhà văn
chân chính nơi anh cảm thấy hết sức đau đớn, nhục nh ã chứng kiến gã “bất lương”, “đê
tiện” cũng chính là anh đang làm thứ hàng giả: “Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Toàn những
cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những t ình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường
quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi. Hắn chẳng đem một chút mới lạ
gì đến cho văn chương”.
Là người hiểu rất rõ viết văn là một hoạt động sáng tạo không ngừng, phải “kh ơi
những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”, Hộ cay đắng nhận ra rằng
mình “là một kẻ vô ích, một người thừa”, bởi vì, “hắn chẳng đem một chút mới lạ g ì đên cho

Trước mắt Hộ, có một con đường giải thoát: thoát li vợ con. Có thế anh mới có thể
rảnh rang theo đuổi sự nghiệp văn ch ương là lẽ sống của đời anh. Tức là để đạt được “hoài
bão lớn”, thực hiện được lí tưởng mà anh hằng say mê, anh phải tự gỡ bỏ sợi dây ràng buộc
của tình thương. Đã có cả một triết lí cao siêu, đầy hấp dẫn bênh vực, khuyến khích anh
làm điều đó. Một triết gia nổi tiếng ph ương Tây đã ném ra câu nói hùng hồn: “Phải biết ác,
biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ”. Câu nói có giọng điệu của chủ nghĩa si êu nhân của
Nitsơ, tư tưởng gia tiền bối của chủ nghĩa phát xít đó, không phải không có sức hấp dẫn đối
với những kẻ đang khát khao “sống cho mạnh mẽ” , khao khát khẳng định cá nhân như Hộ.
Nhưng mặc dù nỗi đau đớn vì “đời thừa” to lớn đến đâu, nỗi mong mỏi được giải
thoát mãnh liệt đến đâu. Hộ vẫn không thể lựa chọn cách giải quyết ấy . Bởi vì, thoát li vợ
con để rảnh thân – dù là vì gì chăng nữa – vẫn cứ là tàn nhẫn, vứt bỏ lòng thương. “Hắn có
thể hi sinh tình yêu, thứ tình yêu vị kỉ đi; nhưng hắn không thể bỏ lòng thương; có lẽ hắn
nhu nhược, hèn nhát, tầm thường, nhưng hắn vẫn còn được là người”. Như vậy là, với Hộ,
tình thương là tiêu chuẩn xác định tư cách làm người; không có tình thương, con người chỉ
là “một thứ quái vật bị sai khiến bởi l òng tự ái”. Khi cuộc đời tàn nhẫn buộc anh phải lựa
chọn một trong hai thứ: nghệ thuậ t và tình thư ơ ng, anh đã hi sinh nghệ thuật để giữ lấy
tình thương, hi sinh lẽ sống thứ nhất cho lẽ sống thứ hai, d ù đây là sự hi sinh quá lớn đối
với anh. Như vậy là, một lần nữa, người nghệ sĩ say mê lí tưởng nghệ thuật, có thể hi sinh
tất cả cho nghệ thuật ấy, đã hi sinh nghệ thuật cho tình thương, cái mà anh còn thấy cao
hơn cảnghệ thuật. Việc dứt khoát đặt t ình thương, trách nhiệm đối với con người lên trên
nghệ thuật như vậy, cũng như lời phát biểu của Hộ về thế n ào là một tác phẩm văn chương
“thật giá trị” cho thấy cái gốc nhân đạo sâu vững của nh à văn lớn Nam Cao.
Sự lựa chọn của Hộ ở đây khó khăn, phức tạp v à cao hơn sự lựa chọn của Điền
trong Trăng sáng. Ở Điền là sự lựa chọn giữa hai con đường nghệ thuật: lãng mạn thoát li
và hiện thực nhân đạo; lựa chọn giữa hai lối sống: h ưởng lạc, phù phiếm, chạy theo sự
quyến rũ của những “người đàn bà nhàn nhã ngả mình trên những cái ghế xích đu, nhún
nhẩy”, phản bội lại vợ con và tất cả những người nghèo khổ lam lũ lầm than, hay trở về chỗ
đứng giữa họ, chung thuỷ với họ. Từ bỏ nghệ thuật l ãng mạn thoát li để đến với nghệ thuật
hiện thực, với Điền, là cưỡng lại sự quyến rũ tội lỗi, là sự thức tỉnh của lương tâm, sự giác
ngộ của tâm hồn. Sự lựa chọn ấy đem đến cho Điền niềm y ên tâm và sức mạnh mới.

phải đi đày, một buổi chiều âm thầm kia, ngồi trong một làn khói nặng u buồn mà nhớ quê
hương (…) Lòng hắn rũ buồn”…
Như một thông lệ, người nghệ sĩ bất đắc chí ấy t ìm đến sự giải sầu giải uất trong
men rượu. Nhưng cả rượu cũng chẳng làm vơi đi mà chỉ như càng làm cho anh thấm thía
thêm nỗi khổ sở đắng cay của mình. Và anh trút nó vào vợ con mà anh thấy là nguồn gốc
trực tiếp của tình cảnh bế tắc của đời anh. Con ng ười giàu tình thương, đã từng hi sinh
những gì quý giá, thiêng liêng của mình cho tình thương và trách nhiệm đối với vợ con đó,
đã hơn một lần đối xử phũ phàng thô bạo với vợ con mình, như một gã vô lại. Anh đã gây
khổ cho người vợ rất đáng thương, “rất ngoan, rất phục tùng, rất tận tâm” đối với anh và
cũng khổ sở không kém gì anh. Tức là anh đã vi phạm vào nguyên tắc, đạo lí làm người cao
nhất của chính mình.
Thành ra muốn “nâng cao giá trị sự sống” bằng cao vọng về sự nghiệp th ì cứ phải
sống như một kẻ “vô ích”, một “người thừa”; chỉ còn cò thể cố giữ lấy tình thương như là lẽ
sống cuối cùng thì lại cứ tàn nhẫn, luôn gây khổcho những người cần được yêu thương,
đáng được yêu thương.
Cái bi kịch thứ nhất – không thực hiện được hoài bão lớn – tuy rất đau đớn nhưng
còn lí do để an ủi: hi sinh sự nghiệp vì tình thương,c òn bi kịch thứ hai này – lẽ sống tình
Công ty Cổphần Đầu tư Công nghệGiáo dục IDJ
Biên tậ p viên: Trầ n Hả i Tú www.hoc360.vn
T
thương bị vi phạm – thì không có gì an ủi, biện hộ được. Và nếu Hộ phải từ bỏ con đường
sự nghiệp là do áp lực của hoàn cảnh, thì sự vi phạm vào nguyên tắc tình thương lại trực
tiếp do bản thân anh. Vì thế mà nó chua xót vô cùng,. T ỉnh rượu, nhớ lại hành vi của mình,
Hộ hối hận tới đau đớn. Khi rón rén bước lại gần người vợ đang nằm bế con ngủ mệt tr ên
võng, nhận ra từ cái “dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não”, “cái tướng vất vả lộ ra cả đến
trong giấc ngủ”, từ khuôn mặt xanh xao, có cạnh, có đôi mắt thâm quầng, đến b àn tay
“xanh trong xanh lọc”, “lủng củng rặt những xương”…, tất cả đều “lộ một cái gì mềm yếu,
một cái gì ẻo lả”, “một vẻ bạc mệnh, một cái g ì đau khổ và chật vật”, Hộ đã “khóc núc nở”,
nước mắt “bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh”… Anh đau đớn v ì nghĩ
đến lối cư xử tồi tệ của mình đối với người vợ đáng phải được anh an ủi, che chở đó… Tiếng

U
báo động về sự huỷ diệt giá trị sự sống và nhân cách. Đó cũng là lời kêu cứu thống thiết:
hãy bảo vệ tình thương để cứu lấy con người, và con người hãy tự cứu lấy mình!
[…] Xây dựng nhân vật Hộ, Nam Cao không quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách
bằng những nét cá tính độc đáo gây ấn tượng đậm – khác với đám nhân vật trong Giông tố ,
Số đỏ , Tắ t đèn và cảChí Phèo. Ông tập trung đi sâu vào đời sống nội tâm nhân vật và làm
nổi bật bi kịch tinh thần của ng ười trí thức đó. Và ở đây, nổi bật sở trường miêu tả, phân
tích tâm lí con người của nhà văn, nhất là khi miêu tả sự diễn biến tâm lí và cho thấy quy
luật tâm lí con người. Có thể nói, trong đội ngũ tác giả văn xuôi đông đảo nhiều t ài năng
đương thời, chưa có ai có được ngòi bút tinh tế, sâu sắc trong việc khám phá, thể hiện tâm
lí như Nam Cao. Sức hấp dẫn nghệ thuật của Đờ i thừ a – và của mảng sáng tác về người
tiểu tư sản của Nam Cao – một phần quan trọng cũng là ở đó.
Nguyễ n Hoành Khung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status