BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
TRẦN THỊ HUYỀN
SỰ THỂ HIỆN CỦA LỜI MỜI VÀ LỜI CHÀO
TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
trong bộ môn Tiếng Việt, khoa Ngữ Văn trường Đại học Tây Bắc.
Nhân dịp khóa luận được công bố em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc tới cô Bùi Kim Tuyến và các thầy cô trong tổ bộ môn tiếng Việt đã
giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình trong quá trình thực hiện khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2013
Tác giả khóa luận
Trần Thị Huyền
K50 ĐHSP Ngữ Văn MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn khóa luận 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu 2
3.2. Phạm vi nghiên cứu 2
4. Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận 3
5. Ý nghĩa của khóa luận 3
5.1. Ý nghĩa lý luận 3
5.2. Ý nghĩa thưc tiễn 3
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 3
6.1 Phương pháp nghiên cứu. 3
6.2 Nguồn ngữ liệu 4
7. Cấu trúc của khóa luận 4
3.1.3.2. Lời chào gián tiếp 34
3.1.4. Nghi thức chào trong tiếng Việt 35
3.1.4.1. Nghi thức chào gặp mặt 35
3.1.4.2. Chào chia tay 40
3.1.5.Cách thức chào hỏi (chào theo vai giao tiếp) 42
3.1.5.1. Lời chào của người vai dưới với người vai trên 42
3.1.5.2. Lời chào giữa những người ngang vai giao tiếp 43
3.1.5.3. Lời chào của người vai trên với người vai dưới 43
3.2. Sự thể hiện của lời chào trong truyện ngắn Nam Cao 43
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn khóa luận
Trong quan niệm của các nhà nghiên cứu văn hóa, lời chào, lời mời ra đời
cùng với sự ra đời của văn hóa giao tiếp của mỗi dân tộc, thể hiện phép lịch sự,
tôn trọng, khiêm nhường, trình độ văn hóa của mỗi con người trong quá trình
giao tiếp. Nó góp phần tạo lập, củng cố, duy trì, phát triển các mối quan hệ
giao tiếp. Vì thế, nó trở thành đối tượng của nhiều ngành nghiên cứu khoa học
khác nhau trong suốt nhiều thập kỉ, đặc biệt là ngành khoa học xã hội: Văn
hóa, dân tộc, văn học, ngôn ngữ học. Cho đến nay việc nghiên cứu về lời chào,
lời mời đã được nhiều công trình nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này và đã có
những kết luận có ý nghĩa về mặt khoa học. Tuy nhiên, chưa có một công trình
chuyên biệt nào nghiên cứu về sự thể hiện của lời mời và lời chào trong truyện
ngắn Nam Cao.
Nam Cao (1917 – 1951) tên khai sinh là Trần Hữu Tri, sinh trong một gia
đình nông dân ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lí Nhân,
tỉnh Hà Nam. Ông là người có tấm lòng đôn hậu, chan chứa yêu thương, gắn bó
trong cách từ chối lời mời”. Các tác giả đã tìm hiểu khá sâu sắc về các kiểu dạng
mời chào khác nhau trong giao tiếp tiếng Việt. Tuy nhiên do mục đích nghiên
cứu của mỗi đề tài là khác nhau nên kết quả đạt được cũng khác nhau.
Thực tế cho thấy chưa có một đề tài chuyên biệt nào nghiên cứu về sự thể
hiện của lời mời và lời chào trong truyện ngắn Nam Cao. Vì vậy, chúng tôi
quyết định lựa chọn khóa luận này trên cơ sở thừa nhận kết quả nghiên cứu của
các tác giả đã nghiên cứu trước đó và bước đầu tìm hiểu về sự thể hiện của lời
mời và lời chào trong truyện ngắn Nam Cao.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là nghiên cứu những lời thoại hẹp hơn
là những lời thoại liên quan đến lời mời, lời chào trong truyện ngắn Nam Cao.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận chủ yếu là nghiên cứu lời mời, lời
chào qua những lời thoại trong truyện ngắn Nam Cao. 3
4. Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận
Mục đích của khóa luận này là tìm hiểu sự thể hiện của lời mời và lời
chào trong truyện ngắn Nam Cao.
Từ mục đích trên khóa luận cần giải quyết một số nhiệm vụ sau:
a. Nghiên cứu lý thuyết về lời mời và lời chào trong giao tiếp tiếng Việt.
b. Khảo sát chỉ ra lời mời và lời chào trong truyện ngắn Nam Cao.
c. Chỉ ra phong cách nghệ thuật của nhà văn Nam Cao.
5. Ý nghĩa của khóa luận
5.1. Ý nghĩa lý luận
Trên cơ sở nghiên cứu về sự thể hiện của lời mời và lời chào trong truyện
ngắn Nam Cao giúp chúng ta có cái nhìn sâu rộng hơn về những biểu hiện của
lời mời và lời chào trong giao tiếp tiếng Việt, đồng thời cho thấy phong cách
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận có cấu
trúc gồm 3 chương cụ thể:
Chương 1: Những cơ sở lí thuyết chung
Chương 2: Sự thể hiện của lời mời trong truyện ngắn Nam Cao
Chương 3: Sự thể hiện của lời chào trong truyện ngắn Nam Cao
5
CHƯƠNG 1
NHỮNG CƠ SỞ LÍ THUYẾT CHUNG
1. Hành vi ngôn ngữ
1.1. Lí thuyết về hành động nói
Với cuốn sách how to do things with words (tạm dịch là: người ta hành
động như thế nào bằng lời nói), Austin được coi là người xây dựng và đặt nền
móng cho lí thuyết về hành động nói. Và nhờ việc phân biệt phát ngôn khảo
nghiệm và phát ngôn ngôn hành, Austin đã phát hiện ra bản chất của ngôn ngữ.
Ông gọi hành động nói là hành động phát ngôn, hành động nói năng. Mệnh đề mà
ông phát hiện ra là “khi tôi nói tức là tôi hành động”, tức là chúng ta thực hiện
một hành động đặc biệt mà phương tiện là lời nói. Đó chính là hành động nói.
Theo Austin có ba loại hành động nói lớn:
- Hành động tạo lời (locutionary act).
- Hành động mượn lời (perlocutionary act).
- Hành động ở lời (illocutionary act).
1.1.1 Hành động tạo lời
Hành động tạo lời là hành động sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như: ngữ
hiện hành động đó. Khi ta hứa với ai một điều gì đó thì ta phải có trách nhiệm
thực hiện lời hứa còn người nghe có quyền chờ đợi kết quả của lời hứa đó.
Điểm đáng lưu ý là lý thuyết về hành động nói chủ yếu liên quan đến
hành động ở lời. Các phát ngôn ngôn hành là sản phẩm, cũng là phương tiện của
hành động ở lời.
1.1.3 Hành động mượn lời
Hành động mượn lời là những hành động “mượn” các phương tiện ngôn
ngữ hay nói đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn
ngữ nào đó ở người nghe, người nhận, hoặc chính người nói.
(3). Đồng chí hiệu phó phụ trách chuyên môn của một trường phổ thông
trung học có sinh viên về thực tập tuyên bố:
- Ngày mai, tôi sẽ đi dự một số tiết có sinh viên thi giảng.
Có hai trường hợp mà hành động mượn lời của phát ngôn này có thể xảy ra:
+ Với những sinh viên chăm chỉ, tập giảng nhiều và có năng lực chuyên
môn tốt thì sẽ rất vui mừng vì có dịp được thể hiện mình, được cọ sát về chuyên
môn nhiều hơn.
7
+ Với những sinh viên nghiệp vụ sư phạm còn yếu lại tỏ ra lo lắng, sợ có
người dự sẽ run thêm và giờ giảng của mình bị đánh giá khắt khe hơn.
1.2. Điều kiện sử dụng các hành động ở lời
Austin xem các điều kiện sử dụng các hành động ở lời là những điều kiện
“may mắn” (Felicity conditions) nếu chúng được bảo đảm thì hành động mới
“thành công”, đạt hiệu quả nếu không nó sẽ thất bại. Với các điều kiện “may
mắn” đưa ra, Austin cho rằng: hành động ở lời là cái được thực thi một cách trực
tiếp bởi một hiệu lực có tính quy ước đi liền với một kiểu phát ngôn nhất định
phù hợp với thủ tục có tính quy ước. Chính vì vậy, hành động ở lời có tính xác
định (xác định theo quy ước) .
Trên cơ sở lời hứa trong tiếng Anh, Searle đã điều chỉnh và bổ sung điều
kiện thực hiện các hành động tại lời của Austin. Theo quan điểm của Searle, mỗi
cho người nói hơn. (Với hành động hứa đòi hỏi người hứa phải muốn thực hiện
lời hứa và người nghe cũng muốn lời hứa được thực hiện. Tuy nhiên, cũng có
trường hợp người hứa không muốn thực hiện lời hứa và người nghe cũng không
muốn người hứa thực hiện hành động hứa đó. Ví như trường hợp giáo viên hứa
sẽ kỉ luật nghiêm minh đối với học sinh mắc lỗi.
1.2.3 Điều kiện chân thành
Đây là điều kiện về trạng thái tâm lý tương ứng của người phát ngôn. Xác
tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín; ra lệnh thì đòi hỏi lòng
mong muốn; hứa hẹn đòi hỏi ý định của người nói; hỏi thì mong muốn được giải
đáp điều mình hỏi.
Ví dụ:
(5).
a. Thầy giáo chủ nhiệm là người rất quan tâm tới lớp.
b. Bạn hãy tận tâm với công việc hơn!
c. Bạn có thấy quyển sách của tôi đâu không?
d. Chị hứa hè này sẽ đưa bọn em đi chơi.
Trong ví dụ trên, thì ví dụ 5a là hành động khảo nghiệm xác tín, đòi hỏi
người nói phải tin điều khẳng định là đúng, 5b là hành động cầu khiến: mong muốn
anh tốt hơn trong công việc, 5c là hành động hỏi: tôi mong muốn được trả lời, 5d là
hành động hứa: đòi hỏi chị phải thực hiện việc cho các em đi chơi vào hè này.
9
1.2.4 Điều kiện căn bản
Đây là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói và người nghe bị
ràng buộc khi hành động đó đã được phát ra. Trách nhiệm đó có thể rơi vào
hành động sẽ được thực hiện (hành động hứa, thỉnh cầu) hoặc với tính chân thực
của nội dung đã được trình bày.
2. Lý thuyết hội thoại
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên và phổ biến của ngôn ngữ
đồng thời nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Hội
cận là hai phát ngôn gần kề nhau, do hai người nói khác nhau nói ra, nó được tổ
chức thành bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai trong đó bộ phận riêng thứ nhất
đòi hỏi phải có bộ phận riêng thứ hai. Trong một cặp kế cận, lượt lời thứ nhất có
chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai tức là khi nói ra một điều gì đó thì
người ta mong muốn hoặc dự đoán hay chờ đợi một điều gì đó khác sẽ xảy ra.
Hai lượt lời này có sự liên kết với nhau rất chặt chẽ.
Các cặp kế cận thông thường hay gặp là những cặp hành vi ngôn ngữ như:
hỏi – trả lời; chào – chào; cầu khiến – chấp nhận/từ chối cầu khiến; cám ơn –
đáp lời cám ơn; xin lỗi – đáp lời xin lỗi v.v
Ví dụ:
(8).
a. Hỏi – Trả lời
SP1: Bạn đã ăn cơm chưa?
SP2: Tớ chưa ăn.
b. Chào - Chào
SP1: Cháu chào bác ạ!
SP2: Ừ. Chào cháu.
c. Cầu khiến – Chấp nhận/từ chối
SP1: Lấy hộ anh quyển sách.
SP2: Vâng.
Hoặc SP2: Anh tự đi mà lấy.
d. Cảm ơn – Đáp lại lời cảm ơn
SP1: Cảm ơn anh nhiều.
SP2: Có gì đâu mà ơn với huệ. 11
e. Xin lỗi – Đáp lại lời xin lỗi
SP1: Xin lỗi mình không cố ý.
SP2: Không sao chuyện nhỏ mà.
tiếp theo được mong đợi, phần không được chuộng là hành động tiếp theo không
được mong đợi. Một số khuôn hình chung của cấu trúc được ưa chuộng:
PHẦN THỨ NHẤT
PHẦN THỨ HAI
Yêu cầu
Khen tặng
Mời
Nhận định
Mắng
Hỏi
Phê bình
Được chuộng
Chấp thuận
Tiếp nhận
Nhận lời
Tán thành
Cãi
Trả lời theo sự
chờ đợi
Phủ định
Không được chuộng
Từ chối
Khước từ
Từ chối
Không tán thành
Thừa nhận
Trả lời không thuận theo sự
của con người, đồng thời ngôn ngữ còn là công cụ của tư duy); ngôn ngữ phát
triển từ từ liên tục, tích góp, không đột biến, không nhảy vọt. Mặt khác ngôn ngữ
không do hạ tầng cơ sở đẻ ra, cũng không thuộc thượng tầng kiến trúc. Cơ sở hạ
tầng là toàn bộ quan hệ sản xuất của xã hội ở một giai đoạn phát triển nào đó; kiến
trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, tôn giáo,
nghệ thuật,…của xã hội và các cơ quan tương ứng chúng. Không ai đồng nhất
ngôn ngữ với cơ sở hạ tầng, nhưng ý kiến coi ngôn ngữ thuộc kiến trúc thượng
tầng lại khá phổ biến. Ngôn ngữ không thuộc kiến trúc thượng tầng bởi vì:
Mỗi kiến trúc thượng tầng đều là sản phẩm của một cơ sở hạ tầng, trong
khi đó ngôn ngữ không phải do cơ sở hạ tầng nào đẻ ra mà là phương tiện giao
tiếp của toàn thể xã hội, được hình thành và bảo vệ qua các thời đại. Khi cơ sở hạ
tầng cũ bị thủ tiêu thì kiến trúc thượng tầng của nó cũng sụp đổ theo và thay thế
vào đó một kiến trúc thượng tầng mới tương ứng với một kiến trúc hạ tầng mới.
Ngôn ngữ biến đổi liên tục, không đếm xỉa đến tình trạng của cơ sở hạ tầng,
nhưng nó không tạo ra một ngôn ngữ mới mà chỉ hoàn thiện cái đã có mà thôi.
Kiến trúc thượng tầng luôn luôn phục vụ cho giai cấp nào đó, còn ngôn
ngữ không có tính giai cấp. Luận điểm chính của cái gọi là “ học thuyết mới về
ngôn ngữ” của Mac là tính giai cấp của ngôn ngữ. Ông cho rằng, không có ngôn
ngữ nào không có tính giai cấp. Sự thực không phải như vậy. Ngôn ngữ ra đời
cùng với xã hội loài người, nhưng xã hội loài người không phải ngay từ đầu đã
14
phân chia thành các giai cấp. Cho nên không thể nói tới ngôn ngữ giai cấp trong
thời kì đó. Chúng ta có thể dễ dàng chấp nhận thời kì cộng sản nguyên thủy là
ngôn ngữ chung thống nhất cho toàn xã hội. Nhưng khi xã hội đã phân chia
thành các giai cấp thì ngôn ngữ có biến thành ngôn ngữ giai cấp hay không?
Những người ủng hộ tính giai cấp của ngôn ngữ cho rằng nếu không có xã
hội thống nhất mà chỉ còn các giai cấp thì cũng không có ngôn ngữ thống nhất
nữa. Sự thực ngược lại. Các giai cấp đối địch vẫn phải liên hệ về kinh tế với
nhau, giai cấp tư sản vẫn phải dựa vào giai cấp vô sản để mà sống, giai cấp vô
mới có, và chính vì chỉ ngôn ngữ mới có nên ngôn ngữ mới thành đối tượng
nghiên cứu của một khoa học riêng biệt là: ngôn ngữ học.
Tiểu kết
J.L.Austin cho rằng hành động nói được chia làm ba loại hành vi ngôn
ngữ lớn, đó là hành vi tạo lời, hành vi ở lời và hành vi mượn lời. Trên cơ sở tiếp
thu các điều kiện sử dụng hành vi ở lời của J.L.Austin, Searle cho rằng một hành
vi ở lời phải có bốn điều kiện. Mỗi điều kiện là một điều kiện cần, còn toàn bộ
hệ điều kiện là điều kiện đủ để có được hành vi ở lời. Đó là điều kiện nội dung
mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành và điều kiện căn bản.
Trong hội thoại, các hành vi ngôn ngữ không tồn tại một cách độc lập,
riêng rẽ mà luôn có mối quan hệ khăng khít với các hành vi ngôn ngữ khác đứng
trước và sau nó, mỗi hành vi ngôn ngữ đều ảnh hưởng tới những hành vi khác
xung quanh nó, nó có thể là hệ quả của hành vi ngôn ngữ đứng trước và là tiền đề
cho hành vi ngôn ngữ phía sau, lượt lời trước kéo theo lượt lời sau nó. Tất cả hình
thành nên cặp kế cận . Một cặp kế cận luôn gồm có hai bộ phận, bộ phận thứ nhất
và bộ phận thứ hai. Trong đó bộ phận riêng thứ nhất phải đòi hỏi có bộ phận riêng
thứ hai. Bộ phận thứ hai của một cặp kế cận có thể có hai cấu trúc, cấu trúc được
ưa chuộng và cấu trúc không được ưa chuộng. Trong quá trình giao tiếp khi thực
hiện bộ phận thứ hai với cấu trúc không được ưa chuộng người nói phải cố gắng
làm sao để cấu trúc có bộ phận thứ hai không được ưa chuộng ít xuất hiện, để
không làm ảnh hưởng tới mối quan hệ với người đối thoại.
Ngôn ngữ được xem là một hiện tượng xã hội. Và khi đề cập tới một hiện
tượng xã hội, người ta thường xem xét chúng trên cơ sở của hai phạm trù của
16
một cơ cấu xã hội: cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Dĩ nhiên, không thể
xếp ngôn ngữ vào cơ sở hạ tầng, bởi nó chỉ là phương tiện mà con người dùng
để giao tiếp với nhau. Cũng không thể xếp ngôn ngữ vào thiết chế thuộc thượng
tầng kiến trúc vì mọi thiết chế của thượng tầng kiến trúc như nhà nước, pháp
với phát ngôn). Trạng thái tâm lí của một hành vi ngôn ngữ được Searle xác
định là trạng thái thực có của Sp1 trong khi phát ngôn. Trạng thái tâm lí của
hành vi mời là mong muốn của Sp1, nội dung mệnh đề của hành vi mời là hành
động tương lai của Sp2. Chẳng hạn:
(10). - Mời bác dùng trà.
- Mời chị xơi nước.
2.1.2. Tác dụng của lời mời
Trong đời sống văn hoá của người Việt, lời mời có một vị trí hết sức quan
trọng. Lời mời không chỉ là một nghi thức giao tiếp mà còn trở thành nét văn
hóa xã giao của người Việt.
Với người Việt, đời sống sản xuất nông nghiệp lúa nước đã tạo nên sự kết
nối bền vững trong cộng đồng. Lối sống trọng tình đã ảnh hưởng sâu sắc đến các
hành vi giao tiếp. Xu hướng cởi mở, thân thiện nhằm kéo gần các mối quan
hệ thể hiện rõ ở các hành vi giao tiếp trong đó có lời mời.
18
Với người Việt Nam, việc mời nhau là việc thể hiện nhân cách giữa tôi và
anh, nó cho biết anh dựa trên văn hóa nào để ứng xử. Qua hành vi mời tự nó sẽ
nói lên vị thế của mình trong xã hội. Tuổi càng cao, chức vị càng lớn thì nhân
cách phải càng được chú trọng, thái độ ứng xử nói năng càng phải để mọi người
tôn trọng. Điều này luôn được các thế hệ tiếp theo học hỏi, phát triển tốt hơn, trở
thành truyền thống đạo đức trong lời mời của người Việt. Đặc biệt lời mời trong
bữa cơm gia đình Việt phản ánh rõ nét mối quan hệ sâu sắc giữa các thành viên
trong gia đình. Lời mời xuất hiện suốt bữa cơm gia đình, xen lẫn những câu
chuyện khác tạo nên sự đầm ấm, vui vẻ. Với người Việt, xét quan hệ giao tiếp
theo tuổi tác thì người trẻ mời người già trước, theo địa vị xã hội thì người có
địa vị thấp mời người có địa vị cao trước, xét tính chất quan hệ giao tiếp thì chủ
mời khách trước…
2.1.3. Vấn đề nhận diện lời mời
Trong ngữ pháp truyền thống khi muốn nhận diện một hành động nói nào
- Mời bằng ngôn ngữ
- Mời bằng ngôn ngữ + điệu bộ cử chỉ
- Mời bằng điệu bộ, cử chỉ
Trong khuôn khổ của đề tài, người viết quan tâm hơn tới hình thức mời
bằng ngôn ngữ, tức là hành vi mời được thể hiện qua lời mời.
Lời mời cũng hết sức đa dạng (mời họp hành, mời tham quan du lịch, mời
hội hè đình đám, mời ăn uống tiệc tùng, mời sinh nhật…). Song căn cứ vào đích
hướng tới của phát ngôn thì cơ bản lời mời được phân thành hai loại:
- Những lời mời không đích thực
- Những lời mời đích thực
a. Những lời mời không đích thực
Thực tế giao tiếp cho thấy rằng không phải bất kì phát ngôn nào có chứa
động từ ngữ vi mời đều là những hành vi mời đích thực. Nhiều phát ngôn mời
dưới dạng tường minh hoặc hàm ẩn xét trên phương diện lợi ích – tổn thất thì
không hề mang lại lợi ích cho Sp2. Trong những ngữ cảnh cụ thể, những phát
ngôn mời này có thể được hiểu như là hành vi ngôn ngữ khác như hành vi chào,
hành vi bộc lộ, hành vi yêu cầu…
20
Mời để chào
* Mời để chào khi gặp mặt
Ví dụ: Một bạn sinh viên đến thăm nhà thầy giảng viên trong khoa. Trong
lúc gia đình thầy đang ăn cơm, thấy sinh viên đến, thầy mời:
(13). Sp1: Em vào nhà dùng cơm với gia đình
Sp2: Vâng, nhà thầy đã dùng bữa rồi đấy ạ?
Lượt lời của Sp1 là một lời mời nguyên cấp, tức là hành vi mời không sử
dụng động từ ngữ vi mời. Xét trong ngữ cảnh cụ thể này, phát ngôn của Sp1
được hiểu như là một lời chào. Bởi vì, nếu coi lượt lời của Sp1 là hành vi mời
thì sự tiếp nhận lời mời này ở Sp2 có hai khả năng:
- Sp2 nhận lời và cùng dùng cơm.