BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC ĐINH THỊ NGÂN
SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN THEO HƯỚNG
TÍCH CỰC HOÁ HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC
SINH TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Vì vậy, tôi rất mong muốn nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô
giáo và bạn bè để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện
Đinh Thị Ngân DANH MUC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
KÍ HIỆU
DIỄN GIẢI
1
ĐDDH
Đồ dùng dạy học
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5.1. Đối tượng nghiên cứu 2
5.2. Phạm vi nghiên cứu 3
6. Đóng góp của đề tài 3
7. Cấu trúc của đề tài 3
CHƯƠNG I: CỞ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1. Cơ sở lí luận 4
1.1. Các khái niệm cơ bản 4
1.1.1. Khái niệm trực quan 4
1.1.2. Khái niệm PTTQ 4
1.1.3.Tính tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh 4
1.1.4. Sử dụng PTTQ theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
4
1.2. Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học 5
1.2.1. Tri giác 5
1.2.2. Khả năng chú ý 5
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 23
CHƯƠNG III: THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM 25
3.1. Những vấn đề chung 25
3.1.1. Mục đích thể nghiệm 25
3.1.2. Đối tượng, thời gian, phạm vi thể nghiệm 25
3.1.3. Tiến hành thể nghiệm 25
3.1.4. Nội dung đánh giá thể nghiệm 25
3.2. Thiết kế thể nghiệm (đã có trong phần phụ lục) 27
3.3.1. Kết quả dự giờ, làm việc với GV, HS 27
3.3.2. Kết quả kiểm tra đánh giá 28
TIỂU KẾT CHƯƠNG III 30
KẾT LUẬN 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Theo tinh thần của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta đã
xác định: Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu. Thông qua đổi mới toàn diện
giáo dục đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, cải cách nền
giáo dục Việt Nam với các biện pháp cụ thể: Đổi mới chương trình, cơ cấu tổ
chức, phương pháp dạy và học theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá,
phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, tiểu học đóng vai trò là nền tảng, tạo
nền móng vững chắc cho sự phát triển nhân cách của người học. Cho nên việc
đổi mới phương pháp dạy học ở bậc học này diễn ra mạnh mẽ.
Phương tiện trực quan (PTTQ) là yêu cầu không thể thiếu trong quá trình
dạy học tiểu học. Vì nó phù hợp với đặc điểm nhận thức của lứa tuổi này. Học
sinh (HS) nhận thức được bởi dưới sự tổ chức, dẫn dắt của giáo viên (GV) có sự
Phương tiện trực quan ngày càng giữ vai trò quan trọng trong dạy học ở
tiểu học nói chung và dạy học môn Khoa học lớp 5 nói riêng. Song hiện nay,
việc sử dụng PTTQ chưa đạt hiệu quả cao, chưa phát huy được hết vai trò của
nó trong quá trình dạy học. Do đó, sau khi thực hiện đề tài này tôi hy vọng rằng
sẽ xác lập được các biện pháp và quy trình sử dụng các phương tiện trực quan
vào quá trình dạy học ở tiểu học nhằm phát huy tính tích cực trong nhận thức
của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Khoa học lớp 5.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng PTTQ ở lớp 5
trường tiểu học 15/10 thị trấn Nông trường Mộc Châu.
Xây dựng được quy trình chung và quy trình sử dụng cụ thể PTTQ cho
một bài dạy trên lớp theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS trong
dạy học môn Khoa học lớp 5.
4. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài. Kế thừa và phát huy lí luận
của các đề tài đi trước.
b. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Tham khảo ý kiến của giáo viên về hướng nghiên cứu của đề tài.
Khảo sát thực tế và thu thập các thông tin, số liệu thống kê và các vấn đề
liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu ở trường tiểu học.
Tiến hành thực nghiệm để xem xét hiệu quả và tính khả thi của việc sử
dụng PTTQ trong dạy học môn Khoa học lớp 5 ở tiểu học.
c. Phương pháp thống kê
Dùng phương pháp thống kê để phân tích và xử lý các kết quả thu được
qua điều tra và thực nghiệm.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài khảo sát, nghiên cứu việc sử dụng PTTQ trong dạy học Khoa học
lớp 5 nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh.
Tiến hành thiết kế và thể nghiệm 4 bài
Bài : Phòng tránh bị xâm hại
Bài: Lắp mạch điện đơn giản
Bài: Hỗn hợp
Bài: Cây con mọc lên từ hạt 4
CHƯƠNG I: CỞ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm trực quan
Trong hoạt động dạy học trực quan được hiểu là khái niệm dùng để biểu thị
tính chất của nhận thức, trong đó thông tin thu được từ các sự vật, hiện tượng của
thế giới bên ngoài nhờ sự cảm nhận trực tiếp bởi các cơ quan cảm giác của con
người [7].
1.1.2. Khái niệm PTTQ
PTTQ là những phương tiện mà giáo viên và học sinh sử dụng trong quá
trình dạy học nhằm tạo ra những biểu tượng, hình thành những khái niệm cho
HS thông qua tri giác trực tiếp các sự vật hiện tượng như: cỏ, cây, mô hình,
tranh ảnh [7].
1.1.3.Tính tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
Bản chất của dạy học tích cực là người dạy phải tính đến nhu cầu, nguyện
vọng của người học, những đặc điểm tâm sinh lí và cấu trúc tư duy của người
học, là chiến lược, phương pháp, thủ pháp dạy của thầy giáo sao cho phù hợp
với chiến lược, phương pháp, thủ pháp của trò, việc dạy phải xuất phát từ người
học, vì người học, phải đáp ứng nhu cầu của người học và nhu cầu xã hội. Dạy
học tích cực là người dạy phải lấy người học là trung tâm, xuất phát từ người
học, hướng học sinh vào các hoạt động học tập một cách chủ động, tự giác, tích
Những đặc điểm trên của HS tiểu học cho thấy, trong dạy học Khoa học ở
lớp 5, muốn hình thành một biểu tượng hoặc khái niệm cho HS, GV cần phải tổ
chức cho các em đối tượng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các
PTTQ như: tranh ảnh, mô hình, vật thật, thí nghiệm
1.2.2. Khả năng chú ý
Tính không chủ định chiếm ưu thế trong chú ý của HS tiểu học. Các em
chỉ chú ý vào những gì mình thích, những gì mới mẻ, sinh động, những gì khơi
gợi được sự rung cảm. Các em rất khó để chú ý vào những gì nhàm chán, cũ kĩ,
đơn điệu.
Sức tập trung chú ý của HS phụ thuộc vào khối lượng vật thể được chú ý.
Cùng một lúc, các em không thể chú ý đến nhiều đối tượng hoặc chi tiết của đối
tượng. Do vậy, trong quá trình sử dụng PTTQ, GV không nên yêu cầu HS quan
sát nhiều đối tượng một lúc mà cho HS quan sát từng đối tượng riêng rẽ với từng
nhiệm vụ cụ thể.
Độ bền vững và chú ý của các em phụ thuộc vào đối tượng chú ý và mức
độ hoạt động với sự vật. Vì thế, các PTTQ như tranh ảnh, vật thật, mô hình hay
các thí nghiệm phục vụ cho việc dạy học Khoa học ở lớp 5 cần phải rõ ràng, đơn
6
giản và trong đó chủ yếu chỉ nên thể hiện các hiện tượng khoa học cần thiết
nhất. Giáo viên cũng cần tạo điều kiện tối đa cho các em làm việc với chúng.
Tính chủ định trong chú ý của HS cũng được hình thành dần trong quá
trình học ở tiểu học. Để giúp HS rèn luyện được chú ý có chủ định, thường trước
khi yêu cầu các em tiến hành một hoạt động nào, GV cần giúp các em xác định
rõ mục đích của hoạt động ấy.
1.2.3. Trí nhớ
Trí nhớ hình tượng trực quan ở HS tiểu học lớn hơn trí nhớ từ ngữ lôgíc.
Điều này thể hiện ở chỗ các em nhớ những gì được cầm, nắm, nhìn hơn là
những thứ được đọc, được nghe, được tả
HS tiểu học có khả năng ghi nhớ máy móc rất tốt. Bởi vì, các em thường
điểm tựa để các em nhận biết những khái niệm.
- Về khả năng khái quát hoá: Hoạt động khái quát hoá của HS lớp 1, 2, 3
hoàn toàn dựa trên những dấu hiệu mà các em dễ thấy, dễ gây xúc động, còn ở
lớp 5 HS đã biết dựa trên những dấu hiệu bên trong, bản chất hơn. Lúc này, các
em đã biết trừu xuất những cái bản chất của sự vật, hiện tượng ra khỏi những
dấu hiệu không bản chất và đưa vào nội dung khái niệm.
- Về khả năng phán đoán: HS bậc đầu tiểu học thường chỉ phán đoán
theo một chiều và dựa vào dấu hiệu duy nhất nên phán đoán của các em
thường mang tính khẳng định. HS các lớp cuối đã biết hình dung ra nhiều
phương pháp và các tình huống khác nhau vì thế các phán đoán của các em
thường mang tính giả định. Ở thời kỳ này các em đã biết chứng minh và lập
luận về những phán đoán của mình.
- Về trình độ suy luận: HS bậc đầu tiểu học thường chỉ dựa vào dấu hiệu
cảm tính, còn cuối bậc tiểu học các em đã biết suy luận dựa vào những dấu hiệu
bên trong. Đặc biệt, các em có thể suy luận dựa trên những tài liệu có tính trừu
tượng hơn (ngôn ngữ). Dù vậy, quá trình suy luận của các em sẽ dễ dàng hơn
nếu có sự trợ giúp của PTTQ.
Những đặc điểm trên về tư duy của HS tiểu học còn cho thấy, việc sử
dụng các PTTQ vẫn còn rất cần thiết cho các em tiến hành thao tác tư duy trong
học tập. Qua việc phân tích những khía cạnh tâm sinh lý và trình độ nhận thức
của HS tiểu học, có thể thấy rằng các em hoàn toàn có đủ khả năng tìm tòi, phát
hiện tri thức từ các PTTQ. Điều đó chứng tỏ, việc sử dụng PTTQ theo hướng
tích cực hoá hoạt động nhận thức cho các em là rất cần thiết và có tính khả thi.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Chương trình, sách giáo khoa Khoa học lớp 5
2.1.1. Mục tiêu dạy học Khoa học lớp 5
Dạy học môn Khoa học ở tiểu học đặc biệt ở lớp 5 nhằm bước đầu cung
cấp cho HS những kiến thức cở bản về:
8
- Đặc điểm và ứng dụng của một số vật liệu thường dùng như mây, tre,
song, sắt gang, đồng, thép, nhôm, đá vôi, gạch, ngói, xi măng, thuỷ tinh, cao su,
chất dẻo, sợi.
9
- Sự biến đổi của các chất
+ Ba thể của chất: chất lỏng, chất khí, chất rắn (đặc điểm về hình dạng).
+ Hỗn hợp và dung dịch (cách tạo ra hỗn hợp và dung dịch, cách tách các
chất ra khỏi một hỗn hợp hay một dung dịch).
- Sử dụng năng lượng: than đá, dầu mỏ, khí đốt, mặt trời, gió, nước và
năng luợng điện (vai trò của các nguồn năng lượng trong đời sống sinh hoạt và
sản xuất, cách khai thác các nguồn năng luợng có hiệu quả và phòng tránh lãng
phí năng lượng).
3. Thực vật và động vật
- Sự sinh sản của thực vật
+ Cơ quan sinh sản (cơ quan sinh sản của thực vật có hoa gồm nhị và nhuỵ).
+ Sự sinh sản (sự sinh sản của thực vật có hoa; trồng cây bằng hạt, thân,
lá, rễ).
- Sự sinh sản của động vật
+ Sự sinh sản của một số động vật đẻ trứng, một số động vật đẻ con (biết
được chu trình sinh sản của một số loài động vật, sự nuôi và dạy con của một số
loài thú).
4. Môi trường và tài nguyên thiên nhiên
- Môi trường và tài nguyên (khái niệm về môi trường, khái niệm cơ bản
về tài nguyên; vai trò của môi trường tự nhiên và các loại tài nguyên đối với đời
sống con người).
- Mối quan hệ giữa môi trường và con người (tác động của con người đối
với môi trường rừng, môi trường đất, môi trường nước và không khí; các biện
pháp để bảo vệ môi trường).
2.2.2. Sách giáo khoa
trường Tiểu học 15/10
2.2.1. Mức độ sử dụng PTTQ của GV trong quá trình dạy học môn Khoa học
Qua tìm hiểu, quan sát và thực tế dạy học cho thấy, nếu phương tiện trực
quan càng dễ tìm kiếm thì càng được nhiều GV sử dụng thường xuyên. Tranh
ảnh là loại phương tiện trực quan mà GV sử dụng thường xuyên nhất trong quá
trình dạy học, bởi chúng dễ tìm, dễ tạo. Đặc biệt đối với một trường thuộc vùng
núi như trường Tiểu học 15/10 thì các loại phương tiện càng có giá trị kinh tế
thấp càng được nhiều GV sử dụng như sơ đồ, tranh ảnh, một số vật thật đơn giản
như tre (Bài 22: Tre, mây, song). Các loại phương tiện trực quan như: vật thật,
hiện tượng thí nghiệm tuy là những phương tiện có nhiều ưu điểm, có tác dụng
cung cấp cho các em những tri thức cụ thể về các sự vật, kỹ năng nhìn thấy tính
chất của chúng nhưng do khó kiếm tìm, khó thực hiện và khi thực hiện phải mất
11
nhiều thời gian và chi phí cao nên chúng ít được GV sử dụng. ( Ví dụ như các
mẫu tơ sợi tự nhiên và nhân tạo dùng làm thí nghiệm đốt cho HS quan sát và rút
ra đặc điểm chính của tơ sợi - Bài 32: Tơ sợi).
2.2.2. Cách thức sử dụng PTTQ trong dạy học môn Khoa học lớp 5
Qua dự giờ dạy mẫu của các GV trong trường tôi nhận thấy rằng: Mặc dù
các thầy cô giáo đã nhận thức đúng vai trò của PTTQ trong việc phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của người học nhưng nhìn chung GV còn lúng túng
trong quá trình sử dụng. Thông thường GV căn cứ vào nội dung bài dạy, yêu cầu
HS quan sát PTTQ sau đó đặt câu hỏi cho HS trả lời. Vì vậy, hệ thống câu hỏi
còn lộn xộn, đôi khi còn chưa hợp lý, chưa hướng cho HS quan sát được cái
tổng thể trước rồi mới đi sâu vào từng chi tiết cụ thể, từ bên ngoài vào bên trong.
Hơn thế nữa, GV còn chưa chú ý đến việc đầu tư, sưu tầm nhiều các loại PTTQ
khác nhau nên hiệu quả sử dụng các loại PTTQ và hiệu quả dạy học chưa cao.
Ví dụ: Bài 65: Tác động của con người đến môi trường rừng. GV thường chỉ
cho HS quan sát lần lượt 4 hình ảnh có trong SGK trang 134 rồi sau đó đặt câu
hỏi cho HS trả lời như: Con người khai thác gỗ và phá rừng để làm gì? Nêu các
đầu tư cho môn này còn chưa thích đáng.
Đồ dùng và phương tiện dạy học đã được trang bị và cung cấp nhưng
vẫn còn thiếu, cơ sở vật chất phục vụ cho môn học chưa đảm bảo.
Từ những thực trạng trên, để việc sử dụng PTTQ trong dạy học môn Khoa
học ở lớp 5 đạt hiệu quả cao, phát huy được tính tích cực trong hoạt động nhận
thức của học sinh, tôi xin đưa ra một số giải pháp như sau:
2.2.4. Các giải pháp thực hiện
Để sử dụng phương tiện trực quan trong quá trình dạy học có hiệu quả cần
thực hiện theo các giải pháp sau:
Lựa chọn một cách thận trọng các PTTQ sao cho phù hợp với mục đích
và nhiệm vụ của bài học, xem trong các trường hợp nào thì dùng vật thật, các vật
tượng trưng hoặc các vật tạo hình, trường hợp nào thì dùng chúng phối hợp với
nhau, cần chú ý đến số lượng (nếu có thể) và kiểm tra lại tình trạng của chúng
một cách thận trọng trước khi sử dụng (nhất là đối với các thí nghiệm).
Giải thích mục đích trình bày trực quan theo một trình tự nhất định tuỳ
theo yêu cầu nội dung của bài dạy.
Đảm bảo cho tất cả HS quan sát sự vật hiện tượng được rõ ràng, đầy đủ,
nếu có thể phân phát các vật cho HS (theo nhóm hoặc cá nhân), cần chú ý đến
quy luật cảm giác, tri giác của người học.
Đảm bảo phát triển óc quan sát - năng lực quan sát nhanh, chính xác, độc
lập. Quan sát toàn bộ sau đó mới quan sát bộ phận, quan sát tập trung vào những
chi tiết, bộ phận chủ yếu, không quan sát tràn lan, tích cực phân tích, so sánh,
tổng hợp, khái quát hoá, tự rút ra kết luận cần thiết.
Đảm bảo phù hợp với các phương pháp trình bày trực quan. Cụ thể:
13
- Giáo viên dùng lời nói để hướng dẫn HS tự quan sát. trong quá trình
quan sát HS tự rút ra các thuộc tính và các mối liên hệ trực tiếp của chúng.
- Trên cơ sở HS quan sát các đối tượng và trên cơ sở tri thức các em
tích luỹ được, giáo viên dẫn dắt các em suy nghĩ và nêu ra những mối liên hệ
trường tiểu học nói chung và trường Tiểu học 15/10 nói riêng mặc dù đã được
14
cung cấp nhưng vẫn còn thiếu. Các thầy cô đều nhận thức được vai trò, tầm
quan trọng của PTTQ trong dạy học Khoa học ở lớp 5 nhưng chưa biết rõ mục
đích sử dụng chúng cũng như còn lúng túng trong việc sử dụng và khai thác triệt
để các nguồn thông tin đựợc chứa đựng trong các PTTQ.
15
CHƯƠNG II: BIỆN PHÁP, QUY TRÌNH SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN
TRỰC QUAN THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HOÁ HOẠT ĐỘNG
NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
MÔN KHOA HỌC LỚP 5
16
Môn Khoa học lớp 5, ngoài những phương tiện trực quan như vật thật,
ảnh, mô hình thì các thí nghiệm chiếm một vai trò quan trọng. Thí nghiệm là
một dạng phương tiện trực quan có hiệu quả và đa số giáo viên thích dùng vì nó
tạo nên những hiện tượng mà HS ít được quan sát trong thực tế. Các thí nghiệm
có khả năng hấp dẫn HS, kích thích trí tò mò, sáng tạo và lòng yêu khoa học của
các em. Các thí nghiệm nếu được sử dụng tốt thì sẽ phát huy được tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh.
Từ thực tiễn quan sát, qua các tiết dự giờ dạy mẫu của các thầy cô giáo,
tôi rút ra được một số biện pháp sử dụng phương tiện trực quan sau đây có thể
phát huy được tính tích cực nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học môn
Khoa học lớp 5.
- Sử dụng phối hợp các phương tiện trực quan với nhau một cách nhuần
nhuyễn trong một giờ học.
- Sử dụng các thí nghiệm có tính chất nêu vấn đề để kích thích tính tích
cực của học sinh trong quá trình học tập môn Khoa học.
- Sử dụng các thí nghiệm có tính chất nghiên cứu của học sinh để phát
huy tính độc lập, sáng tạo của học sinh khi giải quyết các vấn đề khoa học.
2.3. Quy trình sử dụng phương tiện trực quan theo hướng tích cực hoá hoạt
động nhận thức của học sinh trong dạy học môn Khoa học lớp 5
2.3.1. Quy trình sử dụng chung
Để đảm bảo cho quá trình dạy học ở tiểu học đạt chất lượng cao thì việc
sử dụng các PTTQ trong một bài dạy lên lớp cần phải được thực hiện theo
những quy trình nhất định. Quy trình sử dụng PTTQ cho một bài dạy trên lớp
theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh có thể được quy trình
hoá theo các bước chung như sau:
Giai đoạn 1: Lựa chọn biện pháp
Bước 1: Xác định mục đích, yêu cầu, nội dung bài học. Nhiệm vụ của
bước này nhằm trả lời câu hỏi: với mục đích, yêu cầu, nội dung của bài dạy này
phối bởi những yếu tố phụ, nhờ đó mà học sinh nhận thức được rõ ràng những
đặc tính khách quan của sự vật, hiện tượng. Nó là cơ sở là điểm xuất phát của
quá trình nhận thức cảm tính của học sinh, để rồi sau đó diễn ra sự trừu tượng
hoá, khái quát hoá. Ngoài ra, thí nghiệm còn góp phần tăng hứng thú học tập đối
với môn Khoa học, phát triển kĩ năng, kĩ xảo thực hành. Trong dạy học căn cứ
vào hoạt động của GV và HS ta có thể chia thí nghiệm thành hai loại thí nghiệm:
Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên và thí nghiệm của học sinh.
Thí nghiệm mang tính chất nêu vấn đề là thí nghiệm biểu diễn của giáo
viên kết hợp với việc hướng dẫn học sinh tích cực, tự lực giải quyết vấn đề, lĩnh
hội nội dung bài học.
Ví dụ Bài 37: Dung dịch
Giáo viên giới thiệu bài bằng cách đặt vấn đề: Khi ta cho một thìa đường
vào cốc nuớc, dùng thìa khuấy nhẹ để hoà tan đường và hỏi: Đường trong cốc đã
18
đi đâu? Và nêu khi hoà tan đường vào trong nước ta được một dung dịch. Vậy
dung dịch là gì? Làm thế nào để tạo được một dung dịch hay tách một chất ra
khỏi dung dịch? Bài học hôm nay qua thí nghiệm chúng ta sẽ tìm hiểu điều đó.
GV giới thiệu dụng cụ thí nghiệm: thìa nhỏ, cốc lớn, một vài cốc nhỏ,
đường và nước đun sôi để nguội, một cái đĩa, nước sôi, và muối.
GV phát các dụng cụ cho từng nhóm HS, hướng dẫn học sinh cách thực
hiện để tạo ra một dung dịch. HS thực hiện sau đó tự nhận xét để rút ra đặc điểm
của từng loại dung dịch mà mình đã tạo được.
- GV hỏi: Dung dịch mà các em vừa tạo được là gì?
+ Dung dịch có tên là nước đường, nước muối.
Đặc điểm của dung dịch như thế nào?
+ Nước đường có vị ngọt, nước muối có vị mặn.
GV giải thích: vì đường có vị ngọt nên khi được hoà tan trong nước sẽ
làm cho dung dịch có vị ngọt
Điều kiện để tạo ra dung dịch là gì?
nghiệm đóng vai trò quan trọng vì nó có khả năng hấp dẫn HS, kích thích trí tò
mò, sáng tạo và lòng yêu khoa học của các em. Do đó, trong quá trình dạy học
GV nên sử dụng các thí nghiệm mang tính chất nghiên cứu của học sinh hay nói
cách khác là tổ chức cho các em tự nghiên cứu và tự làm các thí nghiệm phục vụ
cho quá trình lĩnh hội tri thức mới.
Khi tổ chức cho HS tự mình nghiên cứu và thực hiện các thí nghiệm khoa
học là GV đang bồi dưỡng cho các em lòng yêu khoa học, khả năng tìm tòi,
khám phá các hiện tượng, sự vật. Nên khi tổ chức, GV cần lưu ý nêu rõ mục
đích khi yêu cầu HS làm thí nghiệm, hướng dẫn HS cách để làm các thí nghiệm
(cách tiến hành thí nghiệm, cách ghi chép các kết quả nghiên cứu ), tạo mọi
điều kiện để giúp đỡ HS (về thời gian) tránh để HS gặp quá nhiều khó khăn
trong quá trình thực hiện dẫn tới nản trí, chán ghét các hoạt động thực hành.
Ví dụ: Bài 53: Cây con mọc lên từ hạt
Để giúp học sinh biết được điều kiện nảy mầm của hạt trong nội dung bài
dạy "Cây mọc lên từ hạt", GV yêu cầu học sinh gieo một vài hạt đậu, ngô,mướp
hoặc lạc trước đó vài ngày, mỗi hạt gieo vào một chiếc cốc khác nhau có đánh
số thứ tự để phân biệt và mỗi cốc được đặt ở những nơi có điều kiện về nhiệt độ,
ánh sáng, độ ẩm khác nhau. Theo dõi thường xuyên từ lúc gieo hạt cho đến lúc
hạt mọc thành cây con. Ghi chép lại hành báo cáo theo mẫu (ở Bảng 1).