TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ MỸ HẢO HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NỮ TRONG
TRUYỆN NGẮN CỦA LỖ TẤN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Hệ đào tạo: Chính quy
Khoá học: 2011 - 2015
ĐỒNG HỚI, NĂM 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỒNG HỚI, NĂM 2015
Li cm n
Li cm nLi cm n
Li cm n
Xin kính gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo – Th.S Nguyễn Thị Quế
Thanh đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình
thực hiện khóa luận.
Xin chân thành bày tỏ lòng kính biết ơn sâu sắc tới Quý Thầy, Cô giáo
Khoa Khoa học Xã hội, Quý Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Quảng Bình
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em bồi dưỡng tri thức và hoàn thành khóa
học của mình.
Xin được bày tỏ lòng tri ân sâu nặng tới gia đình và bạn bè đã chia sẻ,
động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua.
Trong quá trình thực hiện khóa luận này do điều kiện thời gian cũng
như năng lực còn hạn chế nên chắc chắn còn tồn tại nhiều thiếu sót, mong
nhận được sự góp ý của Quý Thầy, Cô giáo để đề tài hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Lê Thị Mỹ Hảo LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi thực hiện, dưới sự
2.1.1. Bất hạnh trong hôn nhân và gia đình 17
2.1.2. Bất hạnh bởi những hủ tục phong kiến 24
2.2. Phẩm chất tốt đẹp 30
2.2.1. Lòng nhân hậu và đức hi sinh 30
2.2.2. Niềm tin cuộc sống và khát khao hạnh phúc 33
2.2.3. Ý thức phản kháng 38
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 42
CHƯƠNG 3. HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NỮ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN
NGHỆ THUẬT 44
3.1. Nghệ thuật miêu tả 44
3.1.1. Miêu tả ngoại hình 44
3.1.2. Miêu tả hành động 50
3.1.3. Miêu tả cảnh vật 54
3.2. Ngôn ngữ nhân vật 57
3.2.1. Ngôn ngữ đối thoại 58
3.2.2 Ngôn ngữ độc thoại 62
3.3. Giọng điệu 64
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 68
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 1
MỞ DẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học Trung Quốc có bề dày lịch sử hàng ngàn năm. Từ lâu, chúng ta được
tiếp xúc với các tác phẩm văn học Trung Quốc như: Vọng Lư sơn bộc bố, Tĩnh dạ tứ,
Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lí Bạch, Mao ốc vị thu
phong sở phá ca, Thu hứng của Đỗ Phủ, Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Cố
hương, Thuốc của Lỗ Tấn… Và cái tên Lỗ Tấn đã trở nên rất gần gũi quen thuộc của
đặc biệt là truyện ngắn với hai tập truyện tiêu biểu Gào thét và Bàng hoàng. Với
những giá trị vốn có của nó đã có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá, nhận xét về
truyện ngắn của ông và hầu như ở các công trình nghiên cứu đó đều có sự thống nhất
đặt ông ở vị trí “bậc thầy của truyện ngắn”. Xem xét tình hình nghiên cứu truyện ngắn
của Lỗ Tấn, có những công trình nghiên cứu giá trị nội dung, có công trình nghiên cứu
nghệ thuật biểu hiện. Riêng về hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của Lỗ Tấn
có một số công trình nghiên cứu đề cập đến nhưng chưa thực sự hệ thống, trong đó
điển hình như:
Trong Lỗ Tấn – Tác phẩm và tư liệu, Anh Đức đã nói lên cảm xúc của mình khi
lần đầu tiên đọc Lễ cầu phúc. “Giữa cảnh tượng tưng bừng của lễ cầu phúc ấy, Lỗ Tấn
dẫn ta tới gặp một người vô phúc nhất, là chị Tường Lâm, với cái câu hỏi rùng rợn
của chị: Ông à… ông là người có chữ nghĩa, tôi muốn hỏi một điều: con người ta chết
rồi thì liệu còn linh hồn nữa không ông?” [17, 359]. Lỗ Tấn đã dành mối quan tâm đặc
biệt đến những con người có số phận bất hạnh trong xã hội. Và qua đó ta hiểu được
“bao trùm lên tất cả truyện ngắn Lỗ Tấn là tình yêu thương con người, là tinh thần
nhân đạo và nhân bản thấm đậm nơi ông” [17, 356].
Lương Duy Thứ trong Bài giảng Văn học Trung Quốc đã nhắc đến nỗi đau day dứt
tâm hồn thím Tường Lâm cho đến khi chết có thể nói là “muốn làm nô lệ mà không
được”. Trong giáo trình này, Lương Duy Thứ cũng đã khẳng định: “Lỗ Tấn đã nêu lên
một vấn đề có ý nghĩa: yêu cầu giải phóng cá tính và tự do hôn nhân không thể giải quyết
đơn độc và tách rời yêu cầu giải phóng xã hội. Cho nên, cô nữ sinh Tử Quân đã dũng cảm
đứng lên đấu tranh giành tình yêu tự do và hôn nhân tự chủ” [18, 311].
Trong Lỗ Tấn – Linh hồn dân tộc Trung Hoa hiện đại, Trần Lê Hoa Tranh cũng
đã đi vào tìm hiểu bi kịch của người phụ nữ qua truyện ngắn tiêu biểu của Lỗ Tấn. Ở
công trình này, tác giả đã khẳng định bằng ngòi bút của mình Lỗ Tấn không ngần ngại
hào hứng xây dựng hình ảnh người phụ nữ mới của Trung Quốc tương lai độc lập, tự
tin, không lệ thuộc vào người khác, có quyền làm chủ vận mệnh của mình. Trần Lê 3
Lỗ Tấn thì rất nhiều, tuy nhiên chúng tôi chưa nhận thấy một công trình nghiên cứu
chuyên sâu và có hệ thống về hình tượng nhân vật nữ. Chúng tôi chọn đề tài “Hình 4
tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của Lỗ Tấn” để góp thêm tiếng nói vào việc
nghiên cứu về nhà văn lỗi lạc này. Hi vọng khóa luận tốt nghiệp của chúng tôi sẽ đóng
góp một hướng tiếp cận mới khi nghiên cứu về truyện ngắn của Lỗ Tấn. Trong quá
trình triển khai đề tài chúng tôi sẽ tiếp thu có chọn lọc ý kiến của các thế hệ đi trước.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của Lỗ Tấn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Sáng tác của Lỗ Tấn rất phong phú và đa dạng. Do điều kiện nên chúng tôi chỉ
khảo sát hai tập truyện ngắn Gào thét và Bàng hoàng.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này chúng tôi vận dụng phối hợp các phương pháp sau:
4.1. Phương pháp lịch sử - xã hội
Khi nghiên cứu văn học chúng ta cần phải đặt vấn đề nghiên cứu vào thời điểm
mà hiện tượng văn chương đó ra đời và phát triển, xuất phát từ lịch sử - xã hội để khai
thác những nội dung lịch sử - xã hội của tác phẩm văn học. Có như vậy mới đảm bảo
tính khách quan khoa học, chống khuynh hướng nghệ thuật vị nghệ thuật và xuất phát
từ lập trường phục vụ chính trị, phục vụ đấu tranh xã hội.
4.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Người viết sử dụng phương pháp này để so sánh, đối chiếu hình tượng nhân vật
nữ trong truyện ngắn của Lỗ Tấn với các nhà văn khác nhằm chỉ ra những điểm tương
đồng cũng như sự sáng tạo, sự mới mẻ của Lỗ Tấn.
4.3. Phương pháp phân tích – tổng hợp
Trên cơ sở những tư liệu đã được khảo sát, người viết tập trung đề cập vào
những vấn đề cần thiết nhất, có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Để làm sáng rõ các
1.1. Khái niệm
1.1.1. Nhân vật văn học
“Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật. Nó mang tính ước lệ, không đồng
nhất với con người có thật, ngay khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần
với nguyên mẫu có thật. Nhân vật là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về
con người; nó có thể được xây dựng trên cơ sở quan niệm ấy” [1, 242].
Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học.
Nhân vật có thể có tên riêng như Thúy Kiều, Kim Trọng, Xuân Tóc Đỏ, Chí Phèo, Bá
Kiến, A Phủ, Mị… hoặc không có tên riêng mà nhà văn đặt ra một cách ước lệ như
“thằng bán tơ” (trong Truyện Kiều của Nguyễn Du), “chị vợ nhặt” (trong Vợ nhặt của
Kim Lân)… Nhân vật không nhất thiết phải mang hình hài của con người mà có thể
đội lốt vật, muông thú, cây cỏ hay lốt của những sinh thể hoang đường, có khi được sử
dụng như một ẩn dụ, không chỉ một người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi
bật nào đó trong tác phẩm.
Là phương tiện nghệ thuật nhằm khai thác những nét thuộc đặc tính con người,
nhân vật có ý nghĩa trước hết ở các loại văn tự sự và kịch, ở sân khấu, điện ảnh, điêu
khắc, đồ họa. Các thành tố tạo nên nhân vật gồm: tinh thần của cá nhân, tư tưởng, các
lợi ích đời sống, thế giới cảm xúc, ý chí, các hình thái ý thức và hành động. Nhân vật
là phương tiện khái quát tính cách số phận con người.
1.1.2. Hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học
1.1.2.1. Hình tượng nhân vật
Theo góc độ văn học và nghệ thuật, hình tượng được hiểu là sự phản ánh hiện
thực một cách khái quát về nghệ thuật dưới hình thức những hiện tượng cụ thể, sinh
động, điển hình, nhận thức trực tiếp bằng cảm tính.
Hình tượng văn học trong tác phẩm luôn là phương tiện hình thức để nhà văn
bộc lộ giá trị tư tưởng và phong cách nghệ thuật của mình. Mỗi nhà văn khi cầm bút
phải không ngừng sáng tạo tìm tòi để xây dựng hình tượng nhân vật tiêu biểu đặc sắc. 7
ảnh hưởng lớn đến nhân vật nữ trong sáng tác của Lỗ Tấn. 8
Nhân vật nữ trong văn học ngày càng phong phú và đa dạng. Bên cạnh những
đức tính dịu dàng, cần cù chịu khó, họ còn là những người bản lĩnh, có niềm tin, luôn khát
khao hạnh phúc và có tinh thần phản kháng mạnh mẽ. Đó cũng chính là thông điệp mà Lỗ
Tấn đã gửi gắm qua hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của ông. Người viết đề tài
này cũng mong muốn với khả năng của mình giúp cho người đọc có được sự cảm thông
và chia sẻ đối với số phận bất hạnh của người phụ nữ, đồng thời cảm nhận được vẻ đẹp
tâm hồn người phụ nữ Trung Quốc nói riêng và người phụ nữ toàn thế giới nói chung.
1.2. Lỗ Tấn – bậc thầy về truyện ngắn
1.2.1. Vài nét về tiểu sử
Lỗ Tấn tên thật là Chu Thụ Nhân, tự là Dự Tài, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1881
trong một gia đình nho học tại phủ thành Thiệu Hưng thuộc tỉnh Chiết Giang. Năm
1881 tức là sau chiến tranh nha phiến bốn mươi năm, sau Hồng Dương cách mạng ba
mươi năm, bấy giờ bản thân phong kiến Trung Quốc đã hủ bại suy đồi, thế lực xâm
nhập của đế quốc như Anh, Pháp đã bắt đầu lan rộng nhiều nơi trong nước, nhân dân
đã thêm bần cùng thống khổ vì chịu sự bóc lột đè nén của cả hai phía. Lỗ Tấn trưởng
thành cũng là lúc triều đình Mãn Thanh càng ngày càng suy yếu đổ nát. Trung Quốc
dần dần trở thành một nước nửa thuộc địa.
Từ sáu tuổi đến mười bảy tuổi, ông đã đọc đủ các sách kinh sử, có vốn cựu học
chắc chắn. Năm mười sáu tuổi cha chết, cảnh nhà sa sút, bị người xung quanh khinh
rẻ, Lỗ Tấn bắt đầu có ý đoạn tuyệt với quê hương. Năm mười tám tuổi, nhờ bà mẹ
chạy cho được tám đồng bạc đi đến Nam Kinh, thi vào Thủy sư học đường, sau
chuyển sang Khoáng lộ học đường. Bốn năm tốt nghiệp, được tuyển đi du học Nhật
Bản. Trong bốn năm Lỗ Tấn học ở Nam Kinh ấy, Trung Quốc xảy ra ba việc lớn:
Chính biến Mậu Tuất năm 1898, Nghĩa hòa đoàn đấu tranh phản đế và liên quân tám
nước đánh Bắc Kinh năm 1990, ký điều ước Tân Sửu năm 1901. Một người thanh niên
mới ngoài hai mươi tuổi có học thức, có chí khí như Lỗ Tấn mà gặp những biến cố ấy
Ở Phúc Kiến cũng không yên thân, tháng giêng năm 1927, ông đi đến Quảng
Châu, làm chủ nhiệm văn học hệ ở trường Trung Sơn đại học. Ngày 12 tháng 4, Tưởng
Giới Thạch làm phản Cách mạng, giết tại đó hơn ba ngàn người vừa đảng viên cộng
sản, vừa công nông tri thức. Ông chạy cứu cho những học sinh bị bắt mà không được,
bèn từ chức. Ở Quảng Châu, Lỗ Tấn thấy mình cũng có nguy cơ bị hại, tháng 10 trở
lên Thượng Hải. Năm ấy ông đã 47 tuổi.
Tháng 9 năm 1927, Lỗ Tấn rời khỏi Quảng Châu, tháng 10 ông định cư ở
Thượng Hải, ông chuyên viết báo, viết sách mà không dạy học nữa. Lúc bấy giờ chính
là lúc Tưởng Giới Thạch đàn áp Cách mạng nghiêm ngặt tàn khốc lắm, mà Lỗ Tấn lại 10
cứ hoạt động phản đối và cứ hay viết báo công kích, cho nên có ba lần sợ nguy hiểm
đến tính mạng, phải tạm lánh mình trong mấy tô giới. Năm 1932, Nhật Bản đánh
Thượng Hải, nhà trọ Lỗ Tấn ở ngay trong vòng lửa đạn, cũng phải dời ở tô giới Anh.
Năm 1936, ông lâm bệnh, ngày 19 tháng 10 qua đời tại nhà số 9 phố Đại Lục Thân
Thôn, Thượng Hải, hưởng thọ 56 tuổi.
1.2.2. Sự nghiệp văn học
Lỗ Tấn là nhà văn tiêu biểu của văn học Trung Quốc. Ông suốt đời trung thành với
lí tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân khỏi áp bức bóc lột của đế quốc và
phong kiến. Ông đã tình nguyện làm người “thầy thuốc” chữa bệnh tinh thần cho nhân
dân. Ông có ý thức dùng sức mạnh của văn học nghệ thuật để cải tạo xã hội, thức tỉnh
nhân dân, giúp họ trút bỏ những khuyết điểm, nhược điểm về tinh thần, truyền cho họ
niềm tin và nghị lực để đứng lên trong cuộc đấu tranh chống áp bức.
Ngòi bút của Lỗ Tấn là ngòi bút hiện thực tỉnh táo. Ông dũng cảm vạch trần tội ác,
bản chất xấu xa của giai cấp bóc lột. Ông cũng phê phán một cách sâu sắc những “bệnh
tật”, khuyết điểm tinh thần của nhân dân, của dân tộc với thái độ “ai kì bất hạnh, nộ kì bất
tranh” (thương họ bất hạnh, giận họ không đấu tranh).
Để đấu tranh chống kẻ thù, tự phê phán dân tộc mình, Lỗ Tấn đặc biệt thành công
ngợi phương pháp “tả đôi mắt” và “vẽ linh hồn”. Ông cho rằng nhà văn cần phải tập
trung miêu tả đặc trưng tính cách nhân vật với một lượng câu chữ vô cùng tiết kiệm:
“Nếu có vẻ cả bộ tóc, thì dù tinh tế như thật, cũng chẳng có ý nghĩa gì” [15, 542]. Lỗ
Tấn rất giỏi về thủ pháp vẽ rồng điểm mắt, chỉ sơ sài vài câu là đã lột tả được tư tưởng
tình cảm của nhân vật, và cũng vẽ ra được diện mạo và hình dáng của họ, để lại những
ấn tượng mạnh mẽ trong bạn đọc. Với ý nghĩa đó, Lỗ Tấn còn đòi hỏi bản thân phải
“mô tả được linh hồn người Trung Quốc thời hiện đại”.
Khi đề cập đến thủ pháp nghệ thuật của mình, Lỗ Tấn giải thích rằng: “Tôi hết
sức tránh hành văn lôi thôi. Nếu thấy đủ truyền đạt ý tứ của mình cho kẻ khác rồi thì
thôi, không cần thêm thắt, kéo dài nữa. Tuồng cũ Trung Quốc không có bối cảnh, trên
tờ giấy hoa năm mới mua cho trẻ con xem, chỉ có vài người chủ yếu, tôi tin sâu sắc
rằng, với mục đích của tôi, phương pháp đó rất thích hợp, cho nên tôi không tả gió
trăng, đối thoại cũng quyết không kéo dài” [15, 541]. Ở đây, Lỗ Tấn phản đối sự dài
dòng và lôi thôi, chứ tuyệt đối không bài trừ những chi tiết làm nền. Cách mô tả ấy
không tách rời các thủ pháp truyền thống của nghệ thuật cổ điển Trung Quốc. Đó là
đặc điểm trong cấu tứ nghệ thuật của truyện ngắn. Ông phản ánh chân thực những tư
tưởng và cuộc đời của một người Trung Quốc nào đó trong một thời kỳ lịch sử nhất
định. Điều này đã thể hiện được phong độ và khí chất của một nhà văn hiện thực
nghiêm túc. 12
Ngoài ra, bằng sự khái quát cao độ, bằng việc chắt lọc những tình huống từ
cuộc sống thường nhật, Lỗ Tấn đã nhằm đạt được mục đích “lôi hết bệnh tật của họ
ra, làm cho mọi người chú ý tìm cách chạy chữa” [15, 541]. Lỗ Tấn hiểu biết hiện thực
vô cùng sâu sắc. Ông đòi hỏi sáng tác nghệ thuật phải mang lại những ấn tượng mới
cho mọi người, đồng thời nói rõ ý nghĩa của những điều mới mẻ. Không phải chỗ nào
cũng phơi bày sự kỳ dị, tìm cái mới lạ mà nhiều khi Lỗ Tấn cũng đi sâu vào bản chất
cuộc sống. Trước khi bắt đầu sáng tác, bản thân ông đã phân tích một cách chi tiết xã
trần bản chất xấu xa của chế độ phong kiến, đưa tội ác của bọn chúng ra ánh sáng, đồng
thời mổ xẻ thói hư tật xấu của xã hội mê muội. Cũng chính nhờ tinh thần chiến đấu mạnh
mẽ, nội dung tư tưởng sâu sắc và nghệ thuật độc đáo được thể hiện qua truyện ngắn của
mình, Lỗ Tấn xứng đáng ở vị trí bậc thầy về truyện ngắn.
Là một bậc thầy của truyện ngắn thế giới, Lỗ Tấn thấy rõ đặc điểm của truyện
ngắn và đánh giá cao tác dụng của nó. Ông cho rằng những tác phẩm trở thành tấm bia kỉ
niệm của một thời đại thường có ít trên văn đàn, mà dẫu có thì chín phần mười là những
trước tác lớn. Một thiên truyện ngắn có thể trở thành một tòa lâu đài chứa đựng cả tinh
thần thời đại thì thật là ít. Khi nghiên cứu tác phẩm Lỗ Tấn, nhà văn Liên Xô Fadée có
nói: “Lỗ Tấn là một danh thủ truyện ngắn. Ông giỏi biểu hiện ngắn gọn, rõ ràng một tư
tưởng trong một số hình tượng, một sự biến to lớn trong một giai đoạn ngắn, một điển
hình trong một nhân vật cá biệt” [8, 669].
Trong sự đối nghịch gay gắt giữa bạch thoại và văn ngôn vào thời Ngũ Tứ, Lỗ Tấn
là người đầu tiên viết tiểu thuyết bằng bạch thoại. Sau này, khi nhớ về quá trình đó, ông
từng nói: “Ở Trung Quốc, tiểu thuyết không được coi là văn học. Người viết tiểu thuyết
không được gọi là nhà văn, cho nên không ai muốn góp mặt với đời bằng con đường này.
Tôi cũng không có ý đưa tiểu thuyết vào “văn uyển”, chẳng qua là lợi dụng sức mạnh của
nó để cải tạo xã hội mà thôi” [15, 540]. Mục đích sáng tác ban đầu của Lỗ Tấn và nguyện
vọng tham gia văn nghệ của ông là thống nhất với nhau. Ông viết gần ba mươi thiên tiểu
thuyết, thể hiện đầy đủ những đặc điểm lịch sử của thời kỳ từ đêm trước cuộc Cách mạng
Tân Hợi đến trước cuộc nội chiến lần thứ nhất. Trong thời kỳ đó, sự yếu đuối bất lực của
giai cấp tư sản bộc lộ rõ ràng. Từ Ngũ Tứ bắt đầu nổi lên phong trào cách mạng dân chủ
mới do giai cấp vô sản lãnh đạo, nhưng giai cấp công nhân tạm thời chưa liên hiệp với
giai cấp nông dân. Đông đảo nhân dân vẫn phải sống cuộc đời nô lệ. Đó là thời đại đau
thương, là thời đại đan xen giữa hi vọng và thất vọng. Tác phẩm của Lỗ Tấn đã tập trung
vạch trần tội ác của phong kiến, phản ánh được bộ mặt đời sống nhân dân dưới hai tầng áp
bức bóc lột về kinh tế và nô dịch về tinh thần, miêu tả được số phận của trí thức đang
quằn quại trong những mâu thuẫn xã hội gay gắt. Tất cả các tác phẩm ấy sau này được tập
hợp thành hai tập truyện ngắn Gào thét và Bàng hoàng. Không giống với cái gọi là tiểu
thuyết chính trị, tiểu thuyết xã hội mà các trí thức lớp trên thời kỳ dân chủ cũ đề xướng,
cách mạng, làm cho họ hăng hái xông lên. Đây là “tiếng thét trợ uy cho lòng đồng cảm
với những người nhiệt tình”. Tác phẩm tràn đầy nhiệt tình chống phong kiến. Từ
khuynh hướng chung đến mô tả cụ thể đều thống nhất với tinh thần Ngũ Tứ, thể hiện
sắc thái của cách mạng văn hóa và cách mạng tư tưởng. 15
Bàng hoàng gồm 11 truyện viết lúc mặt trận văn hóa mới xảy ra mâu thuẫn.
Trong thời điểm ấy dường như nhiệt tình cách mạng trong mỗi con người bị nguội đi
và Lỗ Tấn thấy mình như bị tách ra khỏi cuộc sống, phải lủi thủi một mình. Khi viết
cuốn này, khác thường lệ, Lỗ Tấn không viết lời tựa mà trích dẫn hai khổ thơ trong Ly
tao của Khuất Nguyên như một đề từ nói giùm tâm sự của ông sau lúc nhóm Tân
thanh niên tan rã:
“Triệu phát nhận ư Thương Ngô hề,
Tịch dư chi hồ Huyền Phố;
Dục thiểu lưu thử linh hỏa tề,
Nhật hốt hốt kỳ tương mộ.
Ngô linh Hy Hòa nhị tiết hề
Vọng Am Tư nhi vật bách;
Lộ am am kỳ tu viễn hề
Ngô tương thướng há nhi cầu sách” [15, 468].
Bàng hoàng đã miêu tả những dự cảm bi quan, những dao động đó của Lỗ Tấn.
Từ Gào thét đến Bàng hoàng về nội dung đề tài và cấu tứ nghệ thuật, mỗi
truyện một kiểu. Đây không chỉ do quá trình sáng tác, Lỗ Tấn có sự nung nấu nhuần
nhuyễn, mà còn là kết quả của một quá trình lâu dài khảo sát cuộc sống và tìm tòi nghệ
thuật. Trong thể hiện, có lúc dùng thủ pháp tả chân như Miếng xà phòng, Cao phu tử,
có lúc nặng về trữ tình như Cố hương, Tiếc thương những ngày đã mất, có lúc là sự
kết hợp hữu cơ giữa tả chân và trữ tình như Lễ cầu phúc, Trong quán rượu, Con người
cô độc… Các tác phẩm đều được thí nghiệm và sáng tạo trên nhiều phương diện. Ngay
Nhân vật của Lỗ Tấn chẳng mấy ai đầy đủ diện mạo, đôi khi ông chỉ gọi là “anh
mặt lưỡi cày”, “anh trán rộng”, “anh mặt vuông”… Họ chỉ hiện lên với nét phác họa
đơn sơ nhưng đó đều là những điểm nhấn nhằm diễn tả tính cách của họ. Chủ yếu họ
hiện ra qua những hành động, lời nói và đôi khi là sự biểu thị nét mặt, qua những câu
chuyện khá cô đúc, chẳng mấy dài dòng, tình tiết lại hết sức đơn giản. Nhưng cái lôi
cuốn của Lỗ Tấn chính là sự tinh tế ở cách nhìn nhận và đánh giá vấn đề.
Sáng tác của Lỗ Tấn đã đáp ứng được yêu cầu đó ở một mức độ nhất định. Xuất
phát từ lòng yêu mến và sự quan tâm đến đời sống của phụ nữ, ngòi bút của Lỗ Tấn đã
dò xét tâm hồn họ trong bóng tối của vật chất để thấy được vẻ đẹp tâm hồn người phụ
nữ Trung Quốc nói chung và người phụ nữ trong truyện ngắn nói riêng.
Cùng với những người nông dân, những người trí thức, người phụ nữ cũng là
những đối tượng chính trong truyện của Lỗ Tấn. Trong các thiên truyện của Gào
thét và Bàng hoàng không có truyện nào không có sự xuất hiện của người phụ nữ. Khi
thì họ là nhân vật chính của câu chuyện, khi thì họ là những nhân vật phụ tham gia vào 17
các tình huống trong truyện. Và mỗi sự xuất hiện lại là một vẻ khác nhau. Nhân vật nữ
trong sáng tác của Lỗ Tấn đều có những hoàn cảnh khác nhau nhưng về cơ bản họ đều
là những con người bất hạnh trong xã hội phong kiến.
2.1. Số phận bất hạnh
Văn chương xét tới cùng là để thể hiện thân phận con người. Tác phẩm văn
chương chỉ có tác dụng khi người nghệ sĩ nhận thức rõ bản chất con người thực tại.
Quả thật, nhân vật nữ trong sáng tác của Lỗ Tấn là người phụ nữ đích thực của cuộc
sống thường ngày bị nén chìm trong vòng tròn im lặng của nỗi bất hạnh. Tinh tế và
nhạy cảm trong cách nhìn hiện thực tâm trạng, với bút pháp độc đáo và dòng vô thức
bản năng, nhà văn đã đi sâu vào nỗi bất hạnh tận cùng của những con người đa sầu, đa
cảm. Người phụ nữ cảm thấy cô đơn sau những ngày làm việc tưởng chừng như quên
mình. Họ lạc lõng trong hiện thực cuộc sống đầy rẫy những bất công, họ cảm thấy phủ
mười tuổi, một mình săn sóc hai đứa em dại, một trai, một gái, lại phải hầu hạ ông bố
nữa” [14, 267-268]. Thay mẹ chăm lo cho cả gia đình, chịu nhiều thiệt thòi nhưng cô
vẫn không hề kêu than. Vì muốn có một chiếc nơ mà cái Thuận đã “khóc non nửa
đêm, ông bố đánh cho một trận, mắt sưng húp hai ba ngày” [14, 268]. Chỉ lo công việc
gia đình nên cô đâm ra nhút nhát, trong nhà có khách, cô chỉ đứng ở xa xa góc nhà.
Cuộc sống vất vả, cái Thuận luôn chịu đựng một mình, không hề nói ra, thường ngồi
đâu khóc đấy, hỏi thì không nói gì. “Có khi khóc suốt đêm, đến nỗi ông Phú cũng phải
gắt lên, mắng là lớn rồi, chưa có chồng mà lại phát điên hay sao” [14, 271]. Mang
bệnh trong người nhưng cô vẫn cứ nhút nhát, không nói cho ai biết về bệnh tình của
mình hết. Lúc đầu bị cảm xoàng, song bệnh tình mỗi ngày một nặng hơn, phải nằm liệt
giường liệt chiếu nhưng cô vẫn cố giấu vì sợ bố lo lắng. Mãi đến mấy ngày trước khi
tắt thở cô mới chịu nói với ông Phú rằng “lâu nay thỉnh thoảng khạc ra máu, đêm đổ
mồ hôi trộm, y như mẹ nó ngày trước” [14, 271].
Cái Thuận không chỉ bất hạnh và chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống gia đình,
cô còn chịu sự bất hạnh bởi cuộc sống tiền hôn nhân. Phải chăng vì gánh nặng của
cuộc sống gia đình và cũng phải chăng vì gánh nặng của áp bức xã hội khiến cho cái
Thuận mất đi sự tự tin của một con người bình thường. Khi lão Trường Canh mượn
tiền nhưng cô không cho, lão cười lạt nói: “Mày đừng có lên mặt, chắc gì thằng chồng
mày đã được như tao” [14, 272-273] cô đã tin là thật. Và đến khi bố cô nói tốt về
người chồng chưa cưới thì cô không còn tin nữa. Sự cả tin đó làm cô đánh mất đi niềm
hạnh phúc mà vốn dĩ cô đáng được hưởng, làm cô có những suy nghĩ tiêu cực: “gì thì
gì cũng không thích nữa”. Điều đó làm cô mất niềm tin ở tương lai, làm hao mòn dần
sức sống khiến cô ngày càng tiều tuỵ đi. Thực ra chồng tương lai của cô là người: “Ăn
mặc tươm tất lắm, trông con người cũng ra dáng đáo để. Nước mắt lưng tròng kể lể
nào là đi chống thuyền bao nhiêu năm nay, làm ăn cực khổ, thắt lưng buộc bụng, cốt 19
dành tiền cưới vợ thì bỗng dưng vợ lăn đùng ra chết… Thì ra anh ta cũng tốt thật đấy
phải sáng tạo” [14, 384]. Emerson từng nói: “Hạnh phúc là một mùi thơm mà người ta