Những cách tân về nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kì 1986 đến nay (nguyễn thị thu huệ, nguyễn ngọc tư, đỗ bích thúy) - Pdf 51

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THANH HỒNG

NHỮNG CÁCH TÂN VỀ NGHỆ THUẬT TRONG
TRUYỆN NGẮN CỦA MỘT SỐ CÂY BÚT NỮ
THỜI KÌ 1986 ĐẾN NAY
(NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƢ, ĐỖ BÍCH THUÝ)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THANH HỒNG

NHỮNG CÁCH TÂN VỀ NGHỆ THUẬT TRONG
TRUYỆN NGẮN CỦA MỘT SỐ CÂY BÚT NỮ
THỜI KÌ 1986 ĐẾN NAY
(NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƢ, ĐỖ BÍCH THUÝ)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62 22 34 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Văn Đức


2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...........................................................................3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..........................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu .........................................................................................4
5. Đóng góp của luận án ..............................................................................................5
6. Cấu trúc của luận án ................................................................................................6
Chƣơng 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ..............................................7
1.1. Tình hình nghiên cứu lí thuyết về truyện ngắn và xu hƣớng cách tân nghệ
thuật trong truyện ngắn Việt Nam thời kì 1986 đến nay ......................................7
1.1.1. Lí thuyết về truyện ngắn ....................................................................................7
1.1.2. Xu hướng cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay .9
1.2. Tình hình nghiên cứu những cách tân trong truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1986 ...13
1.3. Tình hình nghiên cứu về cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của các
cây bút nữ: Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tƣ, Đỗ Bích Thúy .................17
1.3.1. Nguyễn Thị Thu Huệ .......................................................................................17
1.3.2. Nguyễn Ngọc Tư ..............................................................................................21
1.3.3. Đỗ Bích Thúy...................................................................................................27
Chƣơng 2. TỪ SỰ ĐỔI MỚI QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON
NGƢỜI… ĐẾN NHỮNG CÁCH TÂN TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG
NHÂN VẬT..............................................................................................................30
2.1. Từ sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con ngƣời… ..................................30
2.1.1. Quan niệm nghệ thuật về con người ...............................................................30
2.1.2. Hình tượng con người trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn
Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy .............................................................................................33
2.2. … đến những cách tân trong nghệ thuật xây dựng nhân vật ......................42
2.2.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình và hành động .................................................43
2.2.2. Nghệ thuật miêu tả nội tâm .............................................................................47
2.2.3. Một số thủ pháp nghệ thuật khác ....................................................................70


Chƣơng 3. NHỮNG CÁCH TÂN TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG TÌNH

trước được thay thế bằng cảm hứng đời tư, thế sự. Xu hướng ngợi ca được thay thế
bằng cái nhìn phê phán hiện thực. Thói quen nhìn cuộc sống ở khía cạnh lạc quan,
tươi đẹp được thay bằng sự khai thác trực diện những tồn đọng của xã hội, những
khát vọng của đời sống cá nhân con người. Văn học giai đoạn này vì thế đa giọng
điệu, đa sắc màu và gây nhiều tranh cãi hơn.
Với đặc thù là một thể loại nhỏ gọn và cơ động, truyện ngắn bắt nhịp rất
nhanh với những vấn đề của đời sống. Truyện ngắn nhanh nhạy len lỏi vào mọi ngõ
ngách của xã hội, phản chiếu mọi tâm điểm nóng bỏng của hiện thực. Nhà văn
Nguyên Ngọc nhận xét: “Đây có thể coi là một thời kỳ có nhiều truyện ngắn hay
trong văn học Việt Nam, tiếp theo “vụ được mùa truyện ngắn” những năm 1960 và
một vụ mùa khác, trong chiến tranh”. Tuy nhiên, truyện ngắn lần này có những nét
khác biệt rõ rệt. “Những năm 1960 từng để lại nhiều truyện ngắn đẹp như thơ, trong
veo, trữ tình. Truyện ngắn thời chiến tranh thì vạm vỡ, chắc chắn. Đặc điểm nổi bật
lần này là cầm cái truyện ngắn trong tay có thể cảm thấy cái dung lượng của nó
nặng trĩu. Có những truyện ngắn chỉ mươi, mười lăm trang thôi mà sức nặng có vẻ
còn hơn cả một cuốn tiểu thuyết trường thiên”. [139]
Vì vậy, khi tiến hành thực hiện đề tài: Những cách tân về nghệ thuật trong
truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kỳ 1986 đến nay (Nguyễn Thị Thu Huệ,
Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy), chúng tôi muốn bước đầu nhận diện một số cách
tân của các tác giả nữ nói riêng, thể loại truyện ngắn nói chung, qua đó có những
nhìn nhận chung về tiến trình đổi mới của văn học nước nhà.
1.2. Bước vào thời kỳ đổi mới sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm
1986, các cây bút nữ ngày càng thể hiện rõ thế mạnh của mình trong lĩnh vực văn
chương. Bên cạnh các cây bút sáng tác từ trước 1975, các gương mặt nữ như Y Ban,
Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Lý Lan, Phan Thị Vàng Anh, Trần Thùy Mai,

1


Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy đã xuất hiện….Nhiều tác phẩm


2


2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài luận án là Tìm hiểu những cách tân về nghệ thuật trong truyện ngắn
của một số cây bút nữ thời kỳ 1986 đến nay (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc
Tư, Đỗ Bích Thúy), cho nên, đối tượng nghiên cứu trước hết là những cách tân nghệ
thuật của các tác giả đó (thể hiện ở các điểm tiêu biểu như: quan niệm nghệ thuật về
con người và nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật xây dựng tình huống và kết
cấu truyện, giọng điệu và ngôn ngữ truyện) cùng các sáng tác truyện ngắn tiêu biểu
của họ. Luận án chỉ khu biệt phạm vi nghiên cứu trong các truyện ngắn của Nguyễn
Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, còn các thể loại khác như tiểu
thuyết, tản văn… được nhắc đến như các tư liệu tham khảo. Các tập truyện ngắn
trong giới hạn của đề tài gồm các tập truyện ngắn đánh dấu sự xuất hiện của các nhà
văn nữ trên văn đàn như Hậu thiên đường (Nguyễn Thị Thu Huệ - 1994), Ngọn đèn
không tắt (Nguyễn Ngọc Tư – 2000), Sau những mùa trăng (Đỗ Bích Thúy – 2000)
cùng các tập truyện tiêu biểu khác như Nào, ta cùng lãng quên, Thành phố đi vắng,
… (Nguyễn Thị Thu Huệ), Giao thừa, Ngày mai của những ngày mai, Nước chảy
mây trôi, Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư,… (Nguyễn Ngọc Tư), Tiếng đàn môi sau
bờ rào đá, Người đàn bà miền núi (Đỗ Bích Thúy),…
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi khảo sát những truyện ngắn tiêu biểu của ba cây bút nữ trên ba
phương diện:
- Từ sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người… đến những cách tân
trong nghệ thuật xây dựng nhân vật.
- Những cách tân nghệ thuật trên phương diện kết cấu và tình huống truyện.
- Sự đổi mới về nghệ thuật trần thuật (ngôn ngữ và giọng điệu).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

văn học Việt Nam để thấy vị trí và đóng góp riêng của các tác giả trong tiến trình
đổi mới, hiện đại hoá văn học nước nhà.
4.3. Phương pháp nghiên cứu văn học sử
Chúng tôi đặt các tác giả nữ vào bối cảnh lịch sử để nghiên cứu. Những giá trị
truyện ngắn của các tác giả nữ được đánh giá trong mối tương quan với thành tựu
văn học đương thời, nét mới, nét độc đáo của tác phẩm được nhìn nhận trong thời
điểm nó ra đời.
4.4. Phương pháp so sánh
Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu để thấy được sự đổi mới
nghệ thuật qua từng chặng đường truyện ngắn của các tác giả. Đồng thời, chúng tôi
tiến hành so sánh tác phẩm của các tác giả nữ đó với nhau và với các nhà văn khác

4


trong cùng thời kỳ để ghi nhận đóng góp của họ cho sự phát triển của văn học Việt
Nam thời kỳ đổi mới.
4.5. Phương pháp phân tích tổng hợp
Phân tích tổng hợp là phương pháp quan trọng. Thông qua đó, ta thấy được sự
cảm nhận riêng của từng nhà văn về con người và cuộc sống. Bên cạnh đó, mọi biểu
hiện sinh động trong sáng tác cần được soi chiếu bằng nhiều góc nhìn dưới con mắt
phân tích. Từ đó chúng tôi tổng hợp khái quát các kết quả phân tích để đi đến kết
luận minh chứng cho những luận điểm mà luận văn đưa ra.
4.6. Phương pháp phân loại, thống kê
Đối với từng khía cạnh, cấp độ trong việc tìm hiểu những cách tân về nghệ
thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy,
khi cần thiết, chúng tôi thực hiện việc khảo sát, phân loại và thống kê bằng những
số liệu cụ thể.
4.7. Phương pháp tiếp cận lí thuyết thi pháp thể loại
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận lí thuyết thi pháp học của Việt Nam và



Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu lí thuyết về truyện ngắn và xu hƣớng cách tân
nghệ thuật trong truyện ngắn Việt Nam thời kì 1986 đến nay
1.1.1. Lí thuyết về truyện ngắn
Truyện ngắn, một thể loại văn tự sự, thường là các câu chuyện kể bằng văn
xuôi, có xu hướng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các câu chuyện dài như tiểu
thuyết. Thông thường, truyện ngắn có độ dài từ vài dòng đến vài chục trang và chỉ
tập trung vào một tình huống, một chủ đề nhất định. Trong khi đó, tiểu thuyết chứa
được nhiều vấn đề, phủ sóng được nhiều phương diện rộng lớn của đời sống. Do đó,
truyện ngắn thường hết sức hạn chế về nhân vật; thời gian và không gian trong
truyện ngắn cũng không trải dài như trong tiểu thuyết. Truyện ngắn có thể kể về cả
cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện, hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân
vật. Đôi khi, truyện ngắn chỉ là những khoảnh khắc của cuộc sống, chẳng hạn,
Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu diễn ra trong vài tiếng. Nhưng cái chính của
truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời.
Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét
bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người. Chính vì vậy,
trong truyện ngắn thường rất ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp.
Trong Từ điển văn học do nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 1984,
truyện ngắn được quan niệm là một loại “truyện”: “Truyện “thuộc loại tự sự - có hai
thành phần chủ yếu là cốt truyện và nhân vật. Thủ pháp nghệ thuật chính là kể.
Truyện thừa nhận vai trò rộng rãi của hư cấu và tưởng tượng”. [124,tr.134]. Trong
cuốn Từ điển văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên, các
soạn giả đã nhấn mạnh đến một số đặc điểm mấu chốt của thể loại truyện ngắn là
“ngắn”, “được viết ra để tiếp thu một cách liền mạch, đọc một hơi không nghỉ”,
“thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong
quan hệ nhân sinh hay đời sông tâm hồn con người. Vì thế trong truyện ngắn

Hai cuốn sách Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí do Tạ Duy Anh chủ biên và
Sổ tay truyện ngắn do Vương Trí Nhàn sưu tầm, biên soạn đều đi tìm hiểu những
đặc điểm, đặc trưng của truyện ngắn, kĩ thuật viết truyện ngắn, để từ đó giúp độc
giả có cách nhìn, cách tiếp cận khá phong phú, sinh động về truyện ngắn.
Hai công trình Truyện ngắn – những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại của
Bùi Việt Thắng và Truyện ngắn: lý luận tác gia và tác phẩm của Lê Huy Bắc đã bổ
sung những nghiên cứu lí luận về thể loại này. Các tác giả đã đúc kết các vấn đề lí
luận gắn với thực tế phát triển của lịch sử Việt Nam và khảo sát các tác phẩm truyện
ngắn ở nước ngoài.

8


Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ năm 2007 đã công bố công trình Truyện ngắn
Việt Nam, Lịch sử - Thi pháp – Chân dung do ông làm chủ biên đã đưa ra một cái
nhìn toàn cảnh về thể loại truyện ngắn Việt Nam thời trung đại đến nay qua các giai
đoạn phát triển, các đặc điểm thi pháp và các tác giả, tác phẩm tiêu biểu.
Tựu trung lại, các công trình nghiên cứu từ trước tới nay đều gặp nhau ở một
số vấn đề sau:
Thứ nhất, cố gắng tìm hiểu để đưa ra một định nghĩa về khái niệm “truyện ngắn”.
Thứ hai, đưa ra những nhận xét, cách đánh giá về vai trò của truyện ngắn
trong cấu trúc thể loại của nền văn học: phân biệt với thể loại tiểu thuyết, và truyện
ngắn có mối liên hệ như thế nào với các thể loại khác.
Thứ ba, xác định những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn.
Thứ tư, phân chia truyện ngắn thành những tiểu loại cơ bản.
1.1.2. Xu hướng cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986
đến nay
Cách tân được coi là một vấn đề then chốt của sự phát triển. Trong cuộc sống
hiện đại ngày nay, muốn phát triển, đi lên thì không thể không có sự cách tân. Nội
hàm khái niệm cách tân trong thể loại truyện ngắn nói riêng cũng mang những đặc

tác” giữa các điểm nhìn, các ngôi và hệ quả tất yếu của nó sẽ là đa dạng hóa các
giọng điệu trần thuật, phá vỡ sự độc tôn của một “giọng chủ âm” trên văn bản tự sự.
Tất cả đều hướng đến một phương pháp đọc mới đòi hỏi sự sáng tạo của người đọc.
Đó là cách đọc không thụ động, đòi hỏi người đọc chủ động suy nghĩ, sáng tạo cùng
tác giả. Với những cách tân ở nhiều mức độ khác nhau, truyện ngắn Việt Nam đã có
những thành tựu đáng kể trong nỗ lực hòa nhịp cùng dòng chảy văn học đương đại
thế giới. Những cách tân mạnh mẽ đó đã phá vỡ ranh giới của hàng loạt quan niệm
mang tính định giá về: chủ nghĩa hiện thực, về vai trò của chủ đề tư tưởng trong tác
phẩm, về tầm vóc và quy mô của các tự sự.
Thứ hai, xuất hiện xu thế tiểu thuyết hóa truyện ngắn. Sau 1975, đặc biệt là
sau 1986, tính chất “một chủ thể”, tính chất “nhát cắt” bó hẹp của thể loại truyện
ngắn đã bị phá vỡ. Cuộc sống bộn bề với nhiều mảng hiện thực phức tạp đan xen
lẫn nhau. Nhà văn cũng không còn yên tâm với cái nhìn và sự cắt nghĩa giản đơn,
một chiều. Truyện ngắn đã có sự nới rộng biên độ trên nhiều phương diện. Trong đó
có sự gia tăng dung lượng và mở rộng khả năng bao quát hiện thực, xoáy sâu vào
những bi kịch nhân sinh, là cái nhìn đa chiều về số phận con người. Đó chính là xu
thế tiểu thuyết hóa truyện ngắn. Ta có thể nhận thấy điều đó qua nhiều truyện ngắn
của Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Mạc Can, Võ Thị Hảo, Y Ban, Trần Thùy
Mai, Nguyễn Ngọc Tư… Lối kết cấu truyện ngắn theo kiểu truyền thống dường như
đang bị phá vỡ khi xuất hiện ngày càng nhiều các truyện ngắn lồng ghép nhiều chủ
đề, nhiều ý tưởng, nhiều khi các chủ đề đan xen với nhau, với nhiều khoảng mờ

10


không dễ nhận ra như Kiếm sắc, Giọt máu, … của Nguyễn Huy Thiệp, Cánh đồng
bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh, Hồn trinh nữ
của Võ Thị Hảo, Bóng đè, Vu quy của Đỗ Hoàng Diệu… Cùng với sự lồng ghép của
chủ đề là sự mở ra nhiều tuyến của cốt truyện, của hệ thống nhân vật, sự phức tạp
của hệ thống tình tiết, sự đan xen nhiều giọng điệu trần thuật. Có thể dễ dàng nhận


giờ truyện ngắn lại phát triển phong phú về số lượng lẫn hiệu quả nghệ thuật như
hôm nay”[196].
Đi sâu vào các khuynh hướng chính trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975,
nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những cách tiếp cận khác nhau. Căn cứ vào cảm
hứng, Nguyễn Thị Bình nhận thấy văn xuôi, trong đó có truyện ngắn giai đoạn này
nổi bật ba khuynh hướng: “khuynh hướng nhận thức lại hiện thực”, “khuynh hướng
đạo đức thế sự”, “khuynh hướng triết luận”. Nguyễn Văn Long nói đến bốn khuynh
hướng, đó là: “khuynh hướng sử thi”, “khuynh hướng nhận thức lại”, “khuynh
hướng thế sự, đời tư” và “khuynh hướng triết luận”. Đáng chú ý trong các công
trình nghiên cứu tổng quan về truyện ngắn Việt Nam đương đại là luận án tiến sĩ
Truyện ngắn Việt Nam sau 1986 – nhìn từ góc độ thể loại của tác giả Lê Thị Hương
Thủy, Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam năm
2013. Tác giả đi sâu khảo sát và phân tích các vấn đề: Truyện ngắn – quan niệm và
sự đổi mới tư duy thể loại; Các dạng thức xây dựng nhân vật và tổ chức kết cấu văn
bản truyện ngắn; Ngôn ngữ và điểm nhìn trần thuật. Theo tác giả luận án, truyện
ngắn Việt Nam đương đại đã có sự thay đổi theo hướng ngày càng uyển chuyển của
tư duy thể loại. Đây cũng có thể coi là một nhận xét có tính khái quát về sự cách tân
nghệ thuật trên nhiều mặt của truyện ngắn ngày nay: “Truyện ngắn Việt Nam thời
kì đổi mới đã có những biến đổi sâu sắc trên phương diện nghệ thuật xây dựng nhân
vật, tổ chức văn bản truyện ngắn”, “truyện ngắn Việt Nam đương đại cũng đã có
những thay đổi đáng kể từ góc độ ngôn ngữ và phương thức tổ chức trần thuật”.
[206, tr.147]. Nguyễn Thị Năm Hoàng, tác giả Luận án tiến sĩ Truyện ngắn Việt
Nam sau 1975 – nhìn từ góc độ thể loại, bảo vệ tại trường Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015, cũng đi sâu khảo sát và phân tích
sự đổi mới về thể loại truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ở các khía cạnh: tình huống
và kết cấu truyện ngắn, nhân vật, ngôn ngữ. Tự trung lại, các nhà nghiên cứu đã chỉ
ra sự vận động, đổi mới, biến chuyển một cách khái quát của thể loại truyện ngắn
thời kì sau 1975, đặc biệt là sau 1986. Trong Luận án này, chúng tôi muốn nhìn
nhận sự vận động, cách tân của truyện ngắn Việt Nam thời kì sau 1986 qua những

diện lí thuyết, phải đặt vấn đề tìm hiểu những đặc điểm của nữ văn sĩ, với tất cả mặt
mạnh yếu của nó, để góp phần nhỏ thúc đẩy việc bồi dưỡng và phát triển lực lượng
sáng tác của nửa phần dân tộc và nhân loại này. [114]. Lý Hoài Thu cũng cho rằng
“Sự xuất hiện đồng loạt các cây bút nữ ngỡ có lúc họ làm chủ văn đàn cũng tỏ ra rất
“vừa tay” với thể loại này”. [ 201, tr.181]
Sau 1986, trong nền văn học đương đại Việt Nam đã xuất hiện cụm từ “nữ
khuynh” (Chữ dùng của các tác giả trong bài Chúng tôi phỏng vấn bốn cây bút nữ13


Tạp chí Văn nghệ quân đội 3/1993) trong văn học. Có thể nói, sự xuất hiện ồ ạt của
các cây bút nữ cũng như số lượng khổng lồ các tác phẩm của họ trình làng và hơn hết
là chất lượng các sản phẩm mà họ tạo ra có thể khẳng định, đây là thời đại mà văn
chương của phái nữ đang chiếm ưu thế. Thậm chí, một số nhà nghiên cứu đã sử dụng
những cụm từ “gương mặt nữ”, “âm hưởng nữ quyền” để phác họa diện mạo văn học
Việt Nam đương đại. Đến bây giờ, có nhà nghiên cứu văn học đã phải thốt lên rằng:
“Đã hình thành một tỷ lệ giữa phái yếu và phái mạnh là 2/3- một tỉ lệ đáng gờm bởi
nhìn vào đó sẽ thấy truyện ngắn trẻ hôm nay (và văn chương nói chung) mang gương
mặt nữ” [183] có lẽ cũng là một nhận định đáng để chúng ta suy xét. Vì thế, có người
còn nhận xét rằng: “Văn học đang mang gương mặt nữ - ngày càng trắc ẩn và khoan
dung, ngày càng tinh tế và đằm thắm”. [3,tr.85]. Các cây bút nữ thực sự khẳng định
được tài năng và bản lĩnh nghệ thuật của mình. Với sự tinh tế nhạy cảm vốn có,
“dường như phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam giới. Họ luôn gần gũi với cái
lỉnh kỉnh, dở dang của đời sống.”[142]. Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào đã chỉ ra đặc
điểm riêng, những đóng góp riêng của các nhà văn nữ vào nền văn học đương đại của
nước nhà: “Phụ nữ thường mạnh ở chỗ họ đưa tất cả cuộc đời và tâm hồn họ vào
trang sách, hoặc nói như Tây, họ tự ăn mình” [44]. Vì thế mà: “Các cây bút nữ hôm
nay mở cuộc tìm tòi trên một cái diện rất rộng và họ đạt đến hiệu quả ngay” (Ngô Thế
Oanh). Phạm Thị Thanh Phượng trong Luận án tiến sĩ Truyện ngắn các nhà văn nữ
đương đại – Tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại cũng đề cao vài trò đặc biệt
của sáng tác các nhà văn nữ. Luận án đã đi sâu tìm hiểu đặc trưng thể loại truyện

một hiện tượng, Bích Thu còn có những ý kiến đánh giá về giá trị văn xuôi phái đẹp
rất tinh tế: “Văn chương của phái đẹp hiện nay sắc và sâu khi khai thác đề tài thế sự
đời tư với nội dung nhân tình thế thái bằng lối viết dịu dàng mà bén ngọt, riết róng
mà đồng cảm, sẻ chia với những thân phận, những con người sống quanh
mình”[200]. Ý kiến này thể hiện người viết tỏ ra hiểu rõ văn chương của phái đẹp
cả ở bề rộng của đề tài được phản ánh, cả ở chiều sâu của nghệ thuật được thể hiện.
Nếu Bích Thu viết về các tác giả nữ để thấy đóng góp của họ đối với văn học
thời kì đổi mới trên phương diện tổng thể thì Bùi Việt Thắng lại dõi theo họ khách
quan và cụ thể như một người trọng tài trong mỗi sân chơi. Là người chứng kiến
những cuộc thi của Tạp chí Văn nghệ Quân đội trong thập kỉ 90, Bùi Việt Thắng
nhận xét về sự xuất hiện và dấu ấn của các cây bút nữ : “Họ là những gương mặt
làm sáng giá “thể loại nhỏ”[188]. Trong hai bài viết Khi người ta trẻ 1 [193] và Khi
người ta trẻ 2 [194], ông cũng ghi nhận sức sáng tác dồi dào, khỏe khoắn, “cách lí
giải những vấn đề muôn thuở phù hợp với nhân sinh quan của con người hiện đại”
của đội ngũ sáng tác nữ. Bùi Việt Thắng cũng là người tuyển chọn, viết lời giới
thiệu cho nhiều tập truyện có sự hội tụ của các cây bút nữ như Truyện ngắn bốn cây
bút nữ (NXB Văn học, 2002), Mùa thu vàng rực rỡ (NXB Quân đội nhân dân,
2006), Có một thời yêu (NXB Quân đội nhân dân, 2007). Theo ông, thực tiễn văn
học, đặc biệt trong lĩnh vực truyện ngắn, những cây bút nữ đã góp phần quan trọng,
làm cho văn đàn sôi nóng lên, hấp dẫn hơn nhờ vào sự đa hương sắc của tác phẩm

15


gắn liền với tên tuổi nhiều thế hệ từ Lê Minh Khuê, Trần Thùy Mai đến Nguyễn
Ngọc Tư: “Dù họ viết khác nhau nhưng điểm chung dễ nhận thấy là các cây bút nữ
thường vắt kiệt mình trên trang giấy, mỗi tác phẩm như một trận chiến đấu ngôn từ
nhằm làm phát lộ cái đẹp”.. Về lĩnh vực này, ông như một người “trang điểm khéo”
để sự xuất hiện của các cây bút nữ được nhiều hơn sự mến mộ của bạn đọc.
Ngoài ra còn có một số tác giả viết về các cây bút nữ như Phạm Xuân Nguyên:

1.3. Tình hình nghiên cứu về cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của
các cây bút nữ: Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tƣ, Đỗ Bích Thúy
Trong nền văn học Việt Nam thời kỳ từ 1986 đến nay, Nguyễn Thị Thu Huệ,
Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy là những cây bút có tên tuổi. Số lượng các bài viết,
những công trình nghiên cứu về các tác giả này rất nhiều. Những công trình đó đã
đánh giá được tài năng cũng như những đóng góp của họ trong nền văn học dân tộc.
1.3.1. Nguyễn Thị Thu Huệ
Nguyễn Thị Thu Huệ sinh ngày 12/8/1966. Quê quán: Xã Thạch Phong,
huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Trú quán: Hà Nội. Tốt nghiệp đại học tổng hợp Hà
Nội, khoa Ngữ văn. Chị là một trong số những tác giả nữ gặt hái được rất nhiều
thành công khi tuổi đời còn khá trẻ:
- Giải thưởng truyện ngắn Hội văn học nghệ thuật Hà Nội 1986
- Giải nhì cuộc thi truyện ngắn Tác phẩm tuổi xanh Báo Tiền Phong 1993
- Giải nhất cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội 1994
- Tặng thưởng Hội nhà văn 1994
- Giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2012
Tác phẩm: Đến nay, Nguyễn Thị Thu Huệ đã ra mắt bạn đọc nhiều tập truyện
ngắn được độc giả và giới phê bình đánh giá cao như: Cát đợi, Hậu thiên đường,
Phù thủy, Nào ta cùng lãng quên, Thành phố đi vắng...
Vừa mới xuất hiện, Nguyễn Thị Thu Huệ đã gây một tiếng vang lớn khi giành
giải nhất cuộc thi truyện ngắn lần thứ 5 (1992-1994) do Tạp chí Văn nghệ Quân đội
tổ chức với hai truyện ngắn Hậu thiên đường và Mùa đông ấm áp. Không dừng lại ở
các giải thưởng, chị tiếp tục khẳng định mình bằng một loạt các sáng tác có giá trị
khác. Đại hội nhà văn Hà Nội nhiệm kì XII (2017-2020) diễn ra vào ngày 8-9/8/2017,
nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ đã trúng cử vào Ban chấp hành và được bầu làm Chủ
tịch Hội Nhà văn Hà Nội.
Nhận định về phong cách nghệ thuật, lối viết cá tính, đặc sắc không thể trộn
lẫn của Nguyễn Thị Thu Huệ, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nhận định xác đáng.
Nhà nghên cứu Nguyễn Văn Lưu phê bình về tập truyện Cát đợi nêu ấn tượng:
“Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ có một chất gì đó vỡ ra ào ạt, khuấy đảo sôi sục

phù hợp với thị hiếu của đám đông. Với những cách tân, thể nghiệm và nỗ lực khám
phá không ngừng nghỉ, Thu Huệ đã thể hiện được sự cách tân rõ rệt trong nghệ
thuật tổ chức truyện ngắn của mình. Hai bài viết tiêu biểu là Năm truyện ngắn dự
thi của một cây bút nữ (1994), và Phác thảo về Thu Huệ qua Tứ tử trình làng
(2002): “Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ hấp dẫn rộng rãi người đọc vì giàu chất
đời…nhiều truyện ngắn hay của Nguyễn Thị Thu Huệ là nhờ người viết biết bứt lên
được trên những cái gì đó cao hơn con người, đó là đời sống tâm hồn vốn không rõ
ràng, rành mạch, vốn bí ẩn khó lí giải bằng lí trí. Và: “Thu Huệ quan tâm đến gia
đình trong xã hội hiện đại đang tồn tại và tan rã như thế nào, bởi những nguyên
nhân nào”, tình huống “tuy hẹp nhưng đặc sắc”, ngôn ngữ “có độ căng của nhịp

18


điệu”. Ông còn chỉ ra câu văn của Nguyễn Thị Thu Huệ thường ngắn, cấu trúc đơn
giản, giọng điệu linh hoạt “lúc bạo liệt lúc thật thà, lúc thâm trầm, lúc triết lí, có lúc
đỏng đảnh lại có lúc dịu dàng đến bất ngờ”. Nghiên cứu thế giới nghệ thuật truyện
ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, đặc biệt là khám phá những cách tân, đổi mới trong các
tác phẩm của chị, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng đã phát hiện trong tác phẩm của
Nguyễn Thị Thu Huệ “một sự vật vã khắc khoải canh cánh trong mỗi nhân vật, đặc
biệt là nhân vật nữ[180]. Điều này phù hợp với quan niệm của Nguyễn Thị Thu Huệ
rằng chị luôn quan tâm đến số phận của người phụ nữ vì không chỉ họ làm nên cuộc
sống, bảo vệ và phát triển cuộc sống mà vì chị hiểu họ, dù có thể chưa đầy đủ. Chị
muốn chia sẻ với họ niềm vui, nỗi buồn. Đồng thời, ông cũng nhận thấy hạn chế
trong văn Thu Huệ: “Cây bút này hơi tham, chưa dám gạt bỏ, còn muốn nói nhiều,
nói hết trong truyện”.
Về thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Lý Hoài Thu
cũng đưa ra những nhận xét tinh tế: “…cái nhìn phẫn nộ và phản ứng quyết liệt,
Thu Huệ dành cho thế giới đàn ông: từ những người loe xoe lôi những bông hoa
trên bàn họp để tặng phụ nữ, đến anh chàng nhồm nhoàm ăn uống một cách thô tục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status