ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THANH HỒNG
NHỮNG CÁCH TÂN VỀ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN
NGẮN CỦA MỘT SỐ CÂY BÚT NỮ THỜI KÌ 1986 ĐẾN NAY
(NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƯ, ĐỖ BÍCH
THUÝ)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62 22 34 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Hà Nội - 2016
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Văn Đức
Phản biện:
Phản biện:
Phản biện:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấn luận án cấp
cơ sở họp tại . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
vào hồi
Tạp chí Dạy và học ngày nay (11), tr.70,71,28.
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1. Sau năm 1986, văn học Việt Nam đã có những khởi sắc đặc biệt.
Không giống như ở thời kỳ trước, văn học thời kỳ này đã phản ánh hiện
thực theo cách mới, quan niệm mới. Với đặc thù là một thể loại nhỏ gọn
và cơ động, truyện ngắn bắt nhịp rất nhanh với những vấn đề của đời
sống.
1.2. Bước vào thời kỳ đổi mới sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
năm 1986, các cây bút nữ ngày càng thể hiện rõ thế mạnh của mình
trong lĩnh vực văn chương.
1.3.Trong nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nguyễn Thị Thu Huệ,
Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy chưa hẳn đã là những đại diện tiêu
biểu nhất. Nhưng họ là những phong cách riêng rất độc đáo không thể
trộn lẫn.
2. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.1.Tìm hiểu một số cách tân về nghệ thuật của một số cây bút nữ
thời kỳ đổi mới có thể đem lại cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc trước
sự vận động, chuyển biến của một tư duy văn học mới về con người
thời kỳ đổi mới.
2.1.2. Chọn đề tài Những cách tân về nghệ thuật trong truyện ngắn của
một số cây bút nữ thời kỳ 1986 đến nay (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn
Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy), chúng tôi tìm hiểu ở ba phương diện:
- Những cách tân nghệ thuật trên phương diện tình huống và kết
của ba cây bút nữ nói riêng và sáng tác của các nhà văn trong tiến trình
đổi mới và hội nhập của văn học Việt Nam đương đại.
Ứng dụng vào khảo sát một vài tác giả văn học Việt Nam đương
đại, kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa cung cấp phương pháp
luận và kiến văn cần thiết cho việc tham khảo trong nghiên cứu và
giảng dạy ở nhiều cấp độ.
7
5. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần thư mục tham khảo,
nội dung chính của luận án gồm bốn chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Những cách tân về tình huống và kết cấu truyện
Chương 3: Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người và những
cách tân trong nghệ thuật xây dựng nhân vật
Chương 4: Những cách tân trên phương diện ngôn ngữ và giọng
điệu
8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Giới thuyết về truyện ngắn và xu hướng cách tân nghệ thuật
trong truyện ngắn Việt Nam thời kì 1986 đến nay
1.1.1. Giới thuyết về truyện ngắn
Truyện ngắn, một thể loại văn tự sự, nó thường là các câu chuyện
kể bằng văn xuôi, có xu hướng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các
câu chuyện dài như tiểu thuyết. Thông thường, truyện ngắn có độ dài từ
“làn sóng mới” ít nhiều còn mang tính chất “tìm đường”, một số truyện
ngắn còn mang tính chất “thử nghiệm”, chưa thực sự đạt đến độ hài hòa,
nhuần nhuyễn giữa ý tưởng, ý nghĩa của tác phẩm với hình thức nghệ
thuật mới lạ
1.2. Tình hình nghiên cứu truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1986
Trong lịch sử văn học Việt Nam trước 1986, đặc biệt là trước
1975, dường như ít thấy xuất hiện bóng dáng của các cây bút nữ. Những
năm sau chiến tranh, đặc biệt là thời kỳ đổi mới, văn học Việt Nam khởi
sắc với sự xuất hiện của hàng loạt cây bút nữ. Ngày càng nhiều những
gương mặt nữ xuất hiện và chiếm ưu thế đã tạo nên sự mới mẻ, hấp dẫn.
Các cây bút nữ thực sự khẳng định được tài năng và bản lĩnh nghệ thuật
của mình. Sáng tác của các cây bút nữ thường đi sâu vào bi kịch, những
nỗi đau với sự trải nghiệm sâu sắc. Không chỉ có những khám phá mới
về nội dung mà các cây bút nữ còn có những cố gắng trong tìm tòi nghệ
thuật nhằm xây dựng cho mình một phong cách riêng
1.3 .Tình hình nghiên cứu về các tác giả
1.3.1. Nguyễn Thị Thu Huệ
1.3.2.Nguyễn Ngọc Tư
1.3.3. Đỗ Bích Thúy
10
CHƯƠNG 2: NHỮNG CÁCH TÂN TRONG NGHỆ THUẬT XÂY
DỰNG TÌNH HUỐNG VÀ KẾT CẤU TRUYỆN
2.1. Những cách tân trong nghệ thuật xây dựng tình huống truyện
Tình huống truyện ngắn thường là sự tái hiện ở mức đậm đặc nhất,
tiêu biểu nhất những mâu thuẫn, xung đột, những vấn đề lớn của xã hội,
của thời đại, của nhân loại thông qua một sự kiện có tác động mạnh mẽ
đến nhận thức, cảm xúc, sự lựa chọn và cách thức hành động, để thể
đó mang tính quyết định để giải quyết mâu thuẫn, đưa cuộc sống vận
động theo một hướng quyết định, chuyển sang một trạng thái khác
trước.
2.1.2.3. Tình huống tâm trạng
Tình huống tâm trạng là kiểu tình huống phổ biến trong truyện
ngắn trữ tình. Với kiểu tình huống này, nhân vật trải qua một trạng thái
phức tạp, nhưng tính chất phức tạp đó không được chú trọng ở hành
động mà hiện lên qua những trạng thái tâm lí, tình cảm, cảm xúc của
nhân vật. Với tình huống tâm trạng, truyện để lại trong tâm trí người
đọc ấn tượng, dư ba về đời sống tinh thần, thế giới tâm hồn phong phú
của nhân vật trong một hoàn cảnh nào đó.
2.2. Những đổi mới trong kết cấu truyện ngắn
Kết cấu là phạm trù nằm ở trung tâm những nghiên cứu có tính
nội quan về tác phẩm văn học (thi pháp học, ký hiệu học, tự sự học…).
Kết cấu là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm, bao
gồm sự liên kết bề mặt và kiến trúc nội dung bên trong, đồng thời “kết
cấu là phương tiện cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật”, đảm
nhận những chức năng nghệ thuật rất đa dạng. Trong văn học, kết cấu là
một phương tiện cơ bản của sáng tác nghệ thuật, đảm nhận vai trò tổ
chức các thành tố: quan niệm, không – thời gian, điểm nhìn trần thuật,
lời văn…. Kết cấu góp phần truyền tải nội dung tư tưởng của nhà văn
muốn gửi gắm tới bạn đọc, tạo cho tác phẩm một bố cục chặt chẽ, rõ
ràng, đồng thời, kết cấu cũng thể hiện bản lĩnh sáng tạo của mỗi tác giả.
12
2.2.1. Kết cấu đảo lộn thời gian của sự kiện
Một trong những hình thức mới mẻ mà truyện ngắn Việt Nam
thời kỳ sau 1986 đem lại và đạt được nhiều thành tựu trên phương diện
Gió không ngừng thổi, Ngải đắng ở trên núi (Đỗ Bích
Thúy),…
2.2.3. Kết cấu mở (Kiểu kết thúc để ngỏ)
Kết cấu mở là cách thức tổ chức chi tiết, sự kiện trong thế phát
triển “chưa hoàn thành” của hiện thực; tác phẩm đã kết thúc nhưng vẫn
còn những dư âm và khoảng để ngỏ trong lòng người đọc. Truyện ngắn
có thể không có kết thúc hoặc kết thúc chưa đưa ra một kết luận thỏa
đáng sau cùng. Ở những truyện ngắn theo kết cấu mở, nhà văn có vai
trò đặt vấn đề, gợi mở những cách tiếp cận, đánh giá…độc giả trở thành
người đồng sáng tạo với tác giả, mỗi câu chuyện sẽ đi trọn hành trình
của nó trong nhận thức, tư tưởng của bạn đọc. Để tạo nên những khoảng
trống cho tác phẩm, nhà văn thường tạo ra những chi tiết bất ngờ vào
cuối truyện mà không đưa ra lời giải thích thỏa đáng.
2.2.4. Hiện tượng vượt khung thể loại trong truyện ngắn của
các tác giả nữ
Một trong những đặc điểm nổi bật của văn học Việt Nam sau
1986 là sự đan xen, thâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại. Sự giao thoa
này cho phép các thể loại mở rộng đường biên của mình, vừa phát huy
thế mạnh mà mình vốn có, vừa thu hút được những ưu thế của các thể
loại khác. Với những đặc điểm tương đồng và dị biệt, trong quá trình
phát triển giữa truyện ngắn và tiểu thuyết có sự tương tác, ảnh hưởng
lẫn nhau.
14
CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG QUAN NIỆM NGHỆ
THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ CÁCH TÂN TRONG NGHỆ
THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
3.1. Đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người
nhiều người rơi vào tình trạng tự đánh mất mình mà không ý thức được.
Bên cạnh đó, xuất hiện hàng loạt nhân vật tha hóa song không có
khả năng thức tỉnh, tha hóa đến không còn nhân tính, mù quáng trước
những dục vọng thấp hèn. Nhân vật hầu hết không ý thức được sự tha
hóa của mình, không có khả năng phân biệt thiện – ác, bị sai khiến bởi
bản năng và thú tính.
3.1.2.3. Con người bi kịch
Cảm hứng bi kịch nhân văn được coi là “một trong những dấu
hiệu của sự chuyển đổi”. Nó cho thấy khả năng tiếp cận hiện thực ở cả
những miền khuất lấp, những cảnh ngộ đáng thương của con người. Có
thể nói, trong văn học giai đoạn hiện nay, số phận cá nhân – thân phận
con người trở thành mối quan tâm hàng đầu.
Nhân vật bi kịch là loại nhân vật trong tư tưởng luôn chứa đầy
mâu thuẫn, xung đột, kết cục dẫn đến đau thương, bế tắc, tuyệt vọng.
Mỗi cá nhân là một tiểu vũ trụ, ai cũng có những ước mơ, khát vọng,
song thực tế cho thấy không phải bao giờ ước mơ cũng trở thành hiện
thực, những khát vọng chân chính thường va chạm với hoàn cảnh sống,
với cái xấu, cái ác.
Các nhà văn nữ thường hay khắc họa những bi kịch của con
người trên phương diện tâm lý và tình cảm. Trong trang viết của các cây
bút nữ, nỗi đau khổ của con người hiện lên với nhiều hình nhiều vẻ rất
xúc động.
3.1.2.4. Con người cô đơn
Văn học hiện đại vươn mình ra khỏi lãnh giới chật hẹp của văn
chương trung đại để khám phá và thể hiện đắc lực như cầu giải phóng
cái Tôi cá nhân của chính mình. Với mảng văn học đương đại, và đặc
biệt là văn học đầu thế kỉ XXI, nổi lên những số phận bơ vơ, những cái
“Tôi” lạc loài giữa đồng loại, tự giải mã câu hỏi tâm hồn mình bằng
16
tâm trạng nhân vật.
17
3.2.1.2. Nghệ thuật miêu tả hành động
Tính cách, suy nghĩ, đặc điểm của nhân vật còn được thể hiện
qua việc làm, cử chỉ. Hành động, cử chỉ của một người nói lên bản chất,
tính cách của người ấy. Vì vậy, khi xem xét thế giới nhân vật trong
truyện ngắn của các tác giả nữ, không thể không chú ý đến nghệ thuật
miêu tả hành động của các nhân vật. Đây là một trong những thành
công của các tác giả trong việc thể hiện tính cách, tâm hồn của con
người.
3.2.2. Nghệ thuật miêu tả nội tâm
3.2.2.1. Đối thoại và độc thoại nội tâm
Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy, là sự thể hiện sinh
động và chính xác những suy nghĩ, tính cách và đời sống tâm lí của con
người. Ngôn ngữ trong tác phẩm lấy chất liệu từ ngôn ngữ đời sống,
thông qua sự chọn lọc, sắp xếp của nhà văn trở thành phương tiện khám
phá cuộc sống của con người. Do vậy, kỹ thuật xử lý ngôn ngữ có vai
trò rất quan trọng tring quá trình xây dựng nhân vật. Trong tác phẩm
của Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy ta thấy các
tác giả rất tài tình trong việc lựa chọn và xử lí ngôn ngữ đặc biệt là
trong việc xây dựng đối thoại và độc thoại nội tâm cho nhân vật.
3.2.2.2. Nghệ thuật miêu tả tâm lý
Mỗi kiểu nhân vật đòi hỏi những cách thức riêng trong nghệ
thuật miêu tả và xây dựng nhân vật. Truyện ngắn thời kỳ đổi mới đã đi
sâu khám phá thế giới bí ẩn của tâm hồn của con người đặc biệt về mặt
tâm lý. Nhà văn bên cạnh việc miêu tả hành động còn đi sâu tái hiện
những trạng thái và quá trình tâm lý vốn rất đa dạng, phức tạp trong thế
nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật.
Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là
không gian song hành: Không gian sông nước - đất liền, không gian
gia đình - xã hội và không gian sân khấu – không gian thực của
cuộc sống.
19
Trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, nhân vật thường
được đặt vào một không gian hẹp, thời gian có thể chỉ là một khoảnh
khắc diễn ra trong cuộc đời. Đó là không gian và thời gian của nỗi niềm
riêng tư cá nhân chứ không phải khung cảnh rộng lớn của cộng đồng
dân tộc trong thời chiến tranh. Không gian trở đi trở lại trong nhiều tác
phẩm của Thu Huệ là hình ảnh cuộc sống gia đình, cá nhân tách biệt với
xung quanh; không gian của những căn phòng tù túng mà ở đó con
người phải đối mặt trước bao bộn bề của cuộc sống. Nếu không đặt
nhân vật của mình trong không gian chật chội, nhỏ hẹp của những căn
phòng tù túng thì Nguyễn Thị Thu Huệ sẽ đưa nhân vật vào một không
gian rộng lớn hơn như: bên giếng nước, rạp chiếu phim, cơ quan làm
việc, khu vườn dành cho những người yêu nhau, dãy phố có 108 cây
bằng lăng…Nhưng trong thế giới ấy, các nhân vật của chị cũng không
thể nào hòa nhập được với xã hội và cuộc đời.
Trong trang viết của Đỗ Bích Thúy, để nhằm làm nổi bật tính
cách cũng như số phận của nhân vật, tác giả hay đặt nhân vật của mình
trong không gian sống, không gian sinh hoạt thường nhật của họ.
*Thời gian nghệ thuật
Thời gian nghệ thuật chính là một hình tượng thời gian được
sáng tạo nên trong tác phẩm nghệ thuật. Nó chính là một phương tiện để
phản ánh đời sống và nó được rong ruổi ngược xuôi, đảo chiều một
đương đại, quan niệm về điển hình thay đổi khi lí tính bị hoài nghi. Thứ
nhất: Hòa chung trong dòng chảy thời đại đó, các nhà văn nữ không thể
không chịu ảnh hưởng của những quan niệm đương đại khi xây dựng
nhân vật. Thứ hai, mỗi nhân vật trong tác phẩm được đặt vào một hoàn
cảnh khác nhau để bộc lộ tâm trạng, tính cách. Thứ ba, không có một
khuôn mẫu tính cách nào trong sáng tác của mỗi tác giả. Tất cả họ đã vẽ
nên bức tranh sinh động, nhiều màu sắc về những cảnh đời, những số
phận riêng biệt trong xã hội, để từ đó, người đọc có cái nhìn đa chiều,
sâu sắc hơn về con người và cuộc sống. Tất cả họ đã vẽ nên bức tranh
sinh động, nhiều màu sắc về những cảnh đời, những số phận riêng
21
biệt trong xã hội, để từ đó, người đọc có cái nhìn đa chiều, sâu sắc hơn
về con người và cuộc sống.
3.2.3.2. Kĩ thuật đa bội điểm nhìn
Trước đây, truyện ngắn thường có một tình huống truyện, các
mâu thuẫn, xung đột xoay quanh một tâm điểm duy nhất. Nhân vật
được nhìn dưới một trong hai điểm nhìn trần thuật phổ biến: điểm nhìn
khách quan từ ngôi thứ ba giấu mặt hoặc điểm nhìn của ngôi thứ nhất là
người có tham gia vào câu chuyện để kể lại.
Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích
Thúy hầu hết sử dụng điểm nhìn truyền thống. Song, bên cạnh đó, trong
một số truyện, họ đã cố gắng sử dụng kĩ thuật đa tâm điểm. Nhân vật
không chỉ được đánh giá bởi một người mà còn được nhìn dưới con mắt
của nhiều nhân vật khác. Cách làm này tạo ra cái nhìn đa chiều về nhân
vật. Chân dung con người, tính cách, nội tâm nhân vật… hiện lên dần
dần qua từng cái nhìn. Đây chính là một trong những bước cách tân, đổi
mới, đột phá trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của các tác giả nữ.
trong những tình huống dở khóc dở cười của nhân vật.
4.1.3. Giọng trữ tình, suy tư, chiêm nghiệm
23
Bên cạnh một chất giọng hài hước, mỉa mai, có lúc, giọng văn
của Nguyễn Thị Thu Huệ lại rất trữ tình, đằm thắm.
Khác với nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ, trong văn chương của
Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư, ta thấy xuất hiện những câu triết lý
không quá cao siêu, mà là những kinh nghiệm được đúc rút từ chính
cuộc sống của nhân vật.
4.2. Ngôn ngữ
Ngôn ngữ truyện ngắn hôm nay là ngôn ngữ đời thường, nó bớt đi
sự óng mượt, chau chuốt mà trần trụi, thậm chí thô nhám, xô bồ, suồng
sã. Chưa bao giờ, ngôn ngữ văn chương gần với ngôn ngữ sinh hoạt, thế
sự đến như thế. Con người trong văn chương sống thực như con người
ngoài đời sống.
4.2.1. Những đặc trưng nghệ thuật trong ngôn ngữ của Nguyễn
Ngọc Tư:
4.2.1.1.Ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ:
4.2.1.2.Tính nhip điệu trong văn Nguyễn Ngọc Tư
a. Sử dụng các cấu trúc lặp:
b. Dùng các cấu trúc đăng đối về mặt ý nghĩa, thanh điệu
c. Nhịp điệu được tạo nên từ mạch cảm xúc bên trong của nhân
vật
4.2.2. Những đặc trưng nghệ thuật trong cách sử dụng ngôn ngữ
của Nguyễn Thị Thu Huệ
4.2.2.1.Ngôn ngữ đời thường
về mặt thể loại đã xuất hiện trong một số truyện ngắn tiêu biểu như:
Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư), Những buổi chiều ngang qua
cuộc đời (Đỗ Bích Thúy, và Chị tôi (Nguyễn Thị Thu Huệ)… Qua đó, ta
thấy được những cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của các tác giả
nữ. Đồng thời, ghi nhận được những thành tựu của họ đóng góp vào sự
hiện đại hóa của nền văn học nước nhà thời kì đổi mới. Nhiều truyện
ngắn thực sự là những tác phẩm đa thanh, giàu tính đối thoại. Những
kiến tạo tác phẩm mới mẻ, nhiều tầng bậc đã đem lại cho truyện ngắn
25