LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hoàn thành với sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của cô
giáo - tiến sĩ Lê Thị Thu Hiền. Qua đây, tôi muốn bày tỏ lời cảm ơn chân
thành và sâu sắc đến cô - người đã tận tình hướng dẫn, khuyến khích và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tất cả các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn
trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã dạy tôi những kiến thức hữu ích trong
suốt 4 năm học tập.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, dù đã rất cố gắng song do điều kiện
về thời gian cũng như năng lực có hạn nên khóa luận không tránh khỏi sai sót.
Tôi hy vọng sẽ nhận được những phản hồi từ các thầy cô và các bạn để khóa
luận này hoàn thiện hơn.
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Thái Uyên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của cô giáo - tiến sĩ Lê Thị Thu Hiền. Kết quả thu được trong đề
tài là hoàn toàn trung thực. Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội
dung khoa học của công trình này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Thái Uyên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
2.3.2.Thời gian nghệ thuật........................................................................43
KẾT LUẬN.....................................................................................................48
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................50
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nhắc đến nước Nga, mọi người không chỉ nhớ đến những khu rừng bạch
dương rực rỡ, mà mọi người còn nhớ đến một nền văn học đồ sộ với những
tên tuổi vĩ đại, trong đó có I. Bunin. Ivan Alekseyevick Bunin (1870 - 1953)
sinh ra trong một gia đình quý tộc lâu đời ở nước Nga nhưng đã suy tàn. Ông
là một nhà văn có cuộc đời nhiều uẩn khúc với sự nghiệp văn chương phong
phú và tài năng ở nhiều mặt. Ông là nhà văn Nga đầu tiên nhận giải Nobel về
văn học, là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của văn học Nga vào cuối
thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX.
Ông không chỉ sáng tác thơ ca và tiểu luận, mà ông còn sáng tác truyện
ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết. Đặc biệt trong lĩnh vực truyện ngắn, ông được
đánh giá cao và Những lối đi dưới hàng cây tăm tối là tuyển tập tổng hợp
những truyện ngắn của ông, được sáng tác trong khoảng thời gian ông bị lưu
đày tại Pháp. Lúc đó, Bunin đã bị dằn vặt vì nghèo đói và hoài niệm về quê
hương. Xa quê hương nhưng những kí ức về đất nước và nhân dân Nga luôn
in đậm trong tâm trí, tình cảm qua từng trang truyện của ông. Với tình hình
như vậy, phong cảnh Nga, tâm hồn con người Nga đã xuất hiện phong phú
hơn, sống động hơn qua những trang văn của ông. Có thể thấy đó chính là
hình ảnh của Nga thông qua sự hồi tưởng của Bunin. Ông đến với văn học bắt
đầu từ thể loại thơ và trong các tác phẩm ông để lại, có 3 tập thơ được sáng
tác ở các giai đoạn khác nhau. Có nhiều ý kiến cho rằng: “Sau Sêkhôp thì bậc
thầy truyện ngắn trong văn học Nga là Bunin”. Do đó có thể giải thích tại sao
truyện của Bunin lại được gọi là những “bài ca văn xuôi”.
Những hình tượng chính trong truyện ngắn của Bunin là thiên nhiên Nga
Tuy nhiên, ông được biết đến khá muộn so với các nhà văn khác do những
hiểu lầm về Cách mạng tháng Mười bởi Bunin luôn mang trong mình tinh
2
thần phản đối nhà cầm quyền Liên Xô. Điều đó đã tạo nên khoảng cách giữa
ông và độc giả thời đó ngày càng xa hơn. Ông đã phát biểu tại lễ trao giải
Nobel rằng mình là một nhà văn lưu vong, một nhà văn không có đất nước.
Mãi đến năm 1950, sau khi Bunin qua đời, một số tác phẩm của ông mới
được xuất bản. Kể từ đó, các tác phẩm của ông ngày càng trở nên phổ biến
không chỉ ở Liên Xô mà trên toàn thế giới.
Trong những năm 60 - 70, tác phẩm của Bunin đã được chào đón. Năm
1961 xuất bản một số tác phẩm. Vào các năm 1965, 1966, 1967 Nhà xuất bản
Văn học Nghệ thuật Matxcơva xuất bản tuyển tập 9 tập của Bunin, trong đó
chỉ có một cuốn tiểu thuyết, phần còn lại chủ yếu là truyện ngắn, truyện vừa
và thơ
Bên ngoài nước Nga, các tác phẩm của Bunin được các nhà khoa học
quan tâm và đưa vào chương trình giảng dạy đại học. Ở Việt Nam, mặc dù
độc giả chỉ biết đến những truyện ngắn của Bunin thông qua những bản dịch
nhưng hầu hết bạn đọc đều yêu thích nhà văn này, yêu thích những câu
chuyện lãng mạn nhưng man mác buồn mà ông thể hiện trong các tác phẩm
của mình.
Do những hạn chế về ngoại ngữ và tài liệu tham khảo, chúng tôi chỉ nêu
những ý kiến có liên quan trực tiếp đến nội dung khóa luận. Ở đây, có thể kể
tên một số tài liệu bằng tiếng Việt có đề cập tới Bunin và những tác phẩm của
ông mà chúng tôi đã tham khảo trong quá trình nghiên cứu: Những lối đi dưới
hàng cây tăm tối (Hà Ngọc dịch), Hơi thở nhẹ (Phan Hồng Giang dịch). Từ
điển Văn học (bộ mới) do Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá chủ biên. Trên trang
Vnca.cand.com.vn cũng có bài viết về Bunin: Một cuộc đời buồn và đẹp. Bài
Bunin sẽ được đi sâu vào khám phá, phân tích. Hi vọng rằng, những tìm hiểu
của chúng tôi sẽ góp phần giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về bức tranh thiên
nhiên, về cuộc sống nông thôn và tình yêu của những người phụ nữ trên đất
4
nước Nga.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Khóa luận hướng đến phân tích những hình tượng
nghệ thuật trong truyện ngắn của Bunin. Từ đó, chúng tôi muốn đưa ra những
đánh giá về vị trí của I.Bunin trong nền văn học Nga.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ những hình tượng nghệ thuật và nghệ
thuật xây dựng hình tượng trong truyện ngắn của I.Bunin, để đạt được mục
đích đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu các nội dung sau:
+ Một số hình tượng nghệ thuật chính trong truyện ngắn của I. Bunin
+ Nghệ thuật xây dựng hình tượng trong truyện ngắn của I.Bunin
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hình tượng nghệ thuật trong truyện ngắn của
I. Bunin.
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận này sẽ là các
truyện ngắn của I. Bunin đã được dịch sang tiếng Việt. Ở Việt Nam, những tác
phẩm của Bunin được dịch không nhiều và cũng được dịch khá muộn, mở đầu
là Tuyển truyện Bunin do Hà Ngọc dịch, Nxb Văn học xuất bản năm 1987;
những truyện ngắn như Say nắng, Hơi thở nhẹ,... Gần đây những bản dịch cũ
được tái bản thành 2 tập truyện: Hơi thở nhẹ (Phan Hồng Giang dịch), Những
lối đi dưới hàng cây tăm tối (Hà Ngọc dịch), Nxb Văn học, 2016.
Tuy nhiên chúng tôi không đi vào phân tích mọi vấn đề của các tác phẩm
mà chỉ chọn đề tài là hình tượng nghệ thuật để có thể đi sâu nghiên cứu đề tài.
5. Phương pháp nghiên cứu
nguyên những hiện tượng có thật, mà là tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông
qua trí tưởng tượng và tài năng của nghệ sĩ, sao cho các hình tượng truyền lại
được ấn tượng sâu sắc, từng làm cho nghệ sĩ day dứt, trăn trở cho người khác”
[12, tr.147].
1.1.2. Đặc điểm của hình tượng nghệ thuật
Theo Lí luận văn học tập 1, hình tượng nghệ thuật mang 5 đặc điểm
cơ bản:
Thứ nhất, hình tượng nghệ thuật như một khách thể tinh thần đặc thù:
“Gọi là khách thể bởi vì đó là thế giới tinh thần đã được khách thể hóa
thành một hiện tượng xã hội tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý
muốn chủ quan của người sáng tạo hay người thưởng thức nữa, cũng không
gắn liền với quá trình tâm lý, thần kinh của tác giả như trong quá trình sáng
tạo” [13, tr.67].
Thứ hai , hình tượng nghệ thuật với tính tạo hình và biểu hiện:
“Tạo hình là việc làm cho khách thể có được một tồn tại cụ thể cảm tính
bên ngoài qua chất liệu, là phú cho thế giới những hình tượng khái quát một
thể xác, hình hài. Nó bao gồm tạo cho hình tượng một không gian, thời gian,
7
những sự kiện và những quan hệ, và rất quan trong là tạo dựng được những
con người có nội tâm, ngoại hình, hành động, ngôn ngữ” [13, tr. 69 - 70].
“Biểu hiện là khả năng bộc lộ cái bên trong, cái bản chất của sự vật, hé
mở những nỗi niềm thầm kín trong tâm hồn. Biểu hiện gợi lên sự toàn vẹn,
đầy đặn của hình tượng, và nhất là thể hiện khuynh hướng tư tưởng tình cảm
của con người, của tác giả trước các hiện tượng đời sống” [13, tr.70].
Thứ ba, hình tượng nghệ thuật là một loại kí hiệu đặc biệt: “Hình tượng
nghệ thuật vừa là sự phản ánh, nhận thức đời sống, lại vừa là một hiện tượng
kí hiệu giao tiếp. Bản chất của hiện tượng ký hiệu có xu hướng cố định hóa,
thường nghĩ ngay tới thế giới nhân vật của ông. Thế giới nhân vật của Bunin
xuất hiện nhiều những con người bình thường, họ chỉ xuất hiện trong một vài
dòng hoặc xuất hiện trong một vài trang truyện và hầu hết độc giả ấn tượng
với người phụ nữ. Khi viết về người phụ nữ, đó là một hành trình khám phá
những bí ẩn trong thế giới nội tâm của các nhân vật. Trong văn học, người
phụ nữ vừa là chủ thể sáng tác, vừa là trung tâm của đối tượng miêu tả. Mỗi
người phụ nữ đều mang trong mình những nét đẹp riêng, không trùng lặp với
bất kì ai. Nếu Ph. Đôtxtôiepxki cho rằng “cái đẹp cứu rỗi thế giới” thì I.Bunin
lại quan niệm “tình yêu là nhựa sống của con người”. Với quan niệm ấy, vẻ
đẹp của những người phụ nữ trong những trang văn của ông được nhìn qua
đôi mắt của những chàng trai trẻ và thường gắn liền với tình yêu. Qua đó,
người nghệ sĩ có thể viết nên những trang truyện độc đáo mà qua việc đọc các
tác phẩm , người đọc có thể thấy được hình tượng những người phụ nữ với
những nét đẹp về ngoại hình cũng như những nét đẹp trong tính cách của họ.
Trong các tác phẩm của mình, Bunin đã viết rất nhiều về người phụ nữ. Qua
khảo sát, chúng ta có thể đề cập đến những truyện ngắn đặc biệt viết về người
phụ nữ, cụ thể như sau: “Hơi thở nhẹ, Say nắng, Natali, Một chuyện tình nho
nhỏ, Cuộc đời tươi đẹp, Ruxia, Những tấm danh thiếp,..”.
Trong truyện ngắn Ruxia, vẻ đẹp của Ruxia tượng trưng cho nét mỏng
9
manh, trong trắng và trẻ trung của người con gái. Nàng xuất hiện với ngoại
hình: “Cô ta tết đuôi sam dài sau lưng, mặt ngăm đen lấm tấm những nốt ruồi
đen, mũi dọc dừa thanh thanh, mắt đen, lông mày đen... Mái tóc khô cứng, hơi
quăn” [4, tr.239]; “Cả mắt cá chân và bàn chân cô ta đều gày gò trong đôi
giày bện, với những khớp xương trồi lên dưới làn da mỏng ngăm đen” [4,
tr.240]. Và trong mắt chàng trai đang yêu, những đặc điểm ấy thật đáng yêu.
Bên cạnh đó, nhà văn cũng viết về trang phục của nàng: “Nàng đi đôi giày
cũng yêu chàng trai và giải thích ban đầu nàng cũng ghét anh, được thể hiện
qua chi tiết: “Cả em cũng thế, - nàng nói. - Mà không đâu, mới đầu em ghét
anh đấy, em ngỡ là anh chẳng chú ý gì đến em cả. Nhưng, ơn Chúa, tất cả
những cái đó đều đã qua rồi” [4, tr.246]. Qua đó cho thấy nàng là người phụ
nữ chủ động, say đắm trong tình yêu.
Ruxia còn được tái hiện như một thiên thần qua chi tiết : “Mọi chuyện
mùa hè năm ấy đều dị thường. Thật lạ lùng rằng chúng chỉ cho mỗi mình
nàng lại gần, cúi cong cái cổ dài thanh thanh, từ phía trên nhìn xuống nàng
với vẻ rất nghiêm nghị nhưng đầy tò mò hiền lành, khi nàng nhẹ nhàng thanh
thoát chạy đến bên chúng, chân đi hài sặc sỡ. Bất thần, nàng ngồi xổm trước
đôi sếu, tấm váy xaraphan màu vàng xòe ra trên bãi cỏ xanh ven đầm ẩm ướt,
ấm áp; với vẻ say sưa thơ trẻ nàng nhìn vào đôi mắt đẹp đen dữ tợn của
chúng, đôi mắt lọt vào giữa mép vòng viền màu xám sẫm”[2, tr.32].
Tất cả những vẻ đẹp trên cho thấy Ruxia là một cô gái hiền từ và thật đặc
biệt được thể hiện qua chi tiết chỉ có cô mới có thể lại gần những con sếu.
Ruxia là một cô gái trẻ trung, ngây thơ, trong sáng, là biểu tượng cho khát
vọng tình yêu, khát vọng được yêu thương. Trong truyện ngắn này, Bunin đã
xây dựng hình tượng Ruxia với những nét đẹp tự nhiên, trong sáng, thánh
thiện với khát vọng yêu thương bởi tình yêu của nàng với chàng trai trong câu
chuyện không thành, họ yêu nhau nhưng không đến được với nhau do sự ngăn
cản của mẹ Ruxia. Bà ta coi chàng trai là thằng đểu và không cho phép chàng
11
trai ấy lấy con gái bà và bà đã đe dọa dùng cái chết nếu như Ruxia bỏ nhà
theo chàng trai. Tình yêu là thứ tình cảm luôn tồn tại song song trong cuộc
sống của mỗi con người, nhưng thay vì lựa chọn tình yêu với chàng gia sư thì
Ruxia đã chọn chữ “hiếu” thay vì chữ “tình”. Với Ruxia trong câu chuyện
này, chữ “hiếu” nặng hơn chữ “tình”. Nàng chấp nhận hi sinh hạnh phúc của
vẻ đẹp không cần chải chuốt mà đó là vẻ đẹp tự nhiên sẵn có. Vẻ đẹp của Olia
khiến nhiều người si mê. Nét đẹp tự nhiên, sẵn có ấy được thể hiện ở chi tiết :
“Olia thì chẳng e sợ gì, kệ cho có vết mực dây ra ngón tay, kệ cho mặt đỏ gay
gắt, đầu tóc rối bù, và khi chạy ngã chân hở ra quá đầu gối cô cũng mặc. Tuy
chẳng phải chăm sóc hay cố gắng đặc biệt gì, trong hai năm qua tất cả những
gì đã khiến cô nổi bật lên trong trường dường như đã cũng đến với cô một
cách hết sức tự nhiên: nào là duyên dáng, thanh lịch, yểu điệu và cặp mắt sáng
long lanh”[4,tr. 192]. Olia là hiện thân của vẻ đẹp tự nhiên, đằm thắm, quyến
rũ nhưng vô cùng trong sáng và đầy sức sống.
Chân dung của Olia được Bunin xây dựng trên phông nền đám đông khi
cô hòa mình vào đám nữ sinh mặc đồng phục, khi thì nổi bật lên trong vũ hội,
trên sân băng bởi: “Trong các cuộc vũ hội chẳng ai nhảy đẹp bằng Olia, chẳng
ai trượt băng nhanh như cô, trong vũ hội cũng chẳng ai được săn đón nhiều
như cô, và cũng chẳng hiểu vì sao chẳng ai được các lớp dưới yêu chuộng
bằng cô”[4, tr.192]. Xinh đẹp, quyến rũ nhưng cũng có nhiều tiếng xì xào bàn
tán nàng nông nổi và không thể sống thiếu những chàng trai dành tình cảm
mến mộ cho mình. Bên cạnh đó, hình ảnh Olia còn được Bunin. khắc họa
trong khung cảnh khu vườn, trong không gian cứng nhắc, đầy khuôn phép của
căn phòng bà hiệu trưởng. Bằng tài năng của mình, tác giả đã tạo nên sự hòa
quyện giữa con người với thiên nhiên. Bunin đã vẽ nên không khí trong lành,
tươi mát của khu vườn sau cơn mưa, sự tươi mát ấy phù hợp với sự trẻ trung,
hạnh phúc của Olia và nàng cảm thấy thế giới này chỉ có một mình nàng.
Không khí tươi mát của khu vườn trái ngược với căn phòng cứng nhắc, đầy
13
khuôn phép của bà hiệu trưởng: “sạch như ly như lau” với “đường ngôi đều
đặn”, “mái tóc uốn rất khéo của bà hiệu trưởng”, với những lời nhắc nhở
nghiêm khắc, mỉa mai của bà. Những chi tiết xung quanh ngoại hình và tính
Khác với những nhân vật nữ trong các truyện ngắn khác, nhân vật Naxtia
trong truyện ngắn Cuộc đời tươi đẹp hiện lên là một người con gái có ngoại
hình đẹp, nhưng khác biệt ở chỗ đó là vẻ đẹp tháo vát, chất phác, đầy sức
sống của một cô gái nghèo bị chèn ép, không có nơi bấu víu. Với hoàn cảnh
khó khăn, không biết nương tựa bấu víu vào ai, Naxtia phải tìm cách để đứng
vững, để sống sót và tự bảo vệ mình trước cuộc sống đói nghèo. Ở truyện
ngắn này, người phụ nữ đã xưng “tôi” và kể lại cuộc đời mình. Bunin đã cho
người đọc tự hình dung về người phụ nữ qua ngôn ngữ, hành động, những
biến cố trong cuộc đời nàng và qua những diễn biến tâm trạng của nàng. Sau
khi chứng kiến bố bị bắt đi đày, nàng đã nghĩ: “Rõ ràng là sống với lẽ phải là
không được rồi, và rõ ràng là phải tính toán thận trọng mới được” [4,tr.52].
Nàng đã suy nghĩ tới việc phải mau mau lấy chồng, nàng thích một người, rất
thích, nhưng anh ta nghèo chẳng kém gì nàng và cuối cùng nàng đã quyết
định từ bỏ người mình thích để lấy một người bạn của bố trong thành phố:
“Tôi nghĩ đi nghĩ lại rồi bằng lòng, mặc dù dĩ nhiên tôi biết là ông ta đã luống
tuổi, rượu chè, tính hay nóng nảy, nó quả đáng là một ông ăn cướp..”[4,tr.52].
Nàng lấy chồng và trở thành một thị dân trong thành phố. Với nàng, tiền là
thứ duy nhất đáng được chú ý, nhưng cuộc sống với ông chồng ấy khiến nàng
khổ sở, mang tiếng là thị dân nhưng lại nghèo chẳng hơn gì nông dân. “Ờ,
may mờ trời cũng còn thương tôi, đem ông ấy đi”[4, tr.53] sau 9 năm khổ sở.
Cuộc đời Naxtia là những chuỗi ngày khó khăn và đầy biến động, cha bị đi
đày, mất cả ruộng bắp cải sắp đến mùa thu hoạch. Sau khi cha bị đi đày, nàng
quyết định lấy một ông chồng đã luống tuổi, tưởng như sẽ được hưởng hạnh
phúc với cuộc sống giàu sang. Thực chất lại không phải như vậy, người nàng
lấy là một người đàn ông mê rượu chè, tính nóng nảy, nghèo. Người đàn ông
15
ấy đã đeo bám người phụ nữ này suốt 9 năm trời. Tên truyện ngắn là Cuộc
bà phải lựa chọn từ bỏ đứa con của mình. Chính cuộc sống khắc nghiệt,
nghèo khổ đã đẩy người phụ nữ ấy tới sự lạnh lùng, tới những lựa chọn,
những mong cuộc sống tốt đẹp hơn.
Nói đến Bunin, nói đến người phụ nữ, chúng ta không thể không kể đến
truyện ngắn Natali. Trong truyện ngắn này, nhà văn đã xây dựng thành công
hình tượng hai nhân vật nữ: Natali và Xônhia. Bên cạnh đó, nhà văn cũng
khắc họa thành công nhân vật “tôi” trong mối quan hệ tình cảm với hai nhân
vật nữ. Những cảm xúc tình yêu hay những dục vọng xác thịt đều được tái
hiện qua mùa hè năm ấy. Xônhia hiện lên là một người quyết liệt chiếm giữ
tình cảm của chàng trai. Đối lập với Xônhia lại là hình ảnh cô nàng Natali
xinh đẹp, nhẹ nhàng và dịu dàng. Ở nhân vật “tôi” đối với hai người con gái
này lại có những cảm xúc hoàn toàn khác nhau. Đối với Xônhia chỉ xuất hiện
tình yêu xác thịt, đắm đuối và mệt nhọc mỗi đêm nhưng đối với Natali thì
khác, nhân vật “ tôi” dành sự quan tâm của mình đối với Natali, theo dõi từng
cử chỉ cũng như từng bước đi của Natali và giữa họ tồn tại tình yêu trong sáng
nhưng cũng rất đau đớn, bởi Natali biết được người con trai mình yêu đang
trong mối quan hệ song song với một người con gái khác. Ở nhân vật “tôi”
này xuất hiện thứ ý nghĩ muốn được kết hôn với Natali, nhưng hằng đêm
nhân vật “tôi” này vẫn chìm đắm trong những ân ái xác thịt với Xônhia. Nhà
văn đã tạo nên thành công cho tác phẩm khi xây dựng được những nhân vật
đều đẹp và hết sức quyến rũ, họ là những cô gái trẻ trung và rất thu hút ánh
nhìn, sự để tâm của mọi người xung quanh.
Hầu hết trong các truyện ngắn của mình , Bunin đã xây dựng những
người phụ nữ luôn bị đẩy vào những thái cực cảm xúc trái ngược nên họ có
những hành động khó hiểu. Cụ thể, trong truyện ngắn Say nắng hiện lên một
thiếu phụ mà ở nàng mọi nét đều rất có duyên. Truyện ngắn này kể về câu
chuyện tình yêu ngắn ngủi nhưng tự nhiên giữa chàng trung úy với người
17
khắc phải chia li, chàng đã nhận ra tình cảm của mình.
Trong truyện ngắn Ngày thứ hai chay tịnh, Bunin cũng khắc họa thành
công hình tượng về một cô tiểu thư giàu có đã dứt khoát gạt bỏ về câu chuyện
tương lai, nàng luôn dửng dưng, lạnh lùng với anh chàng bảnh trai ấy. Dường
như nàng là một cô gái chẳng thiết cái gì cả, bởi những lần chàng trai tặng cô
hoa, socola và những quyển sách thì nàng chỉ chìa tay ra cho chàng trai hôn
rồi nói cám ơn. Nàng được xây dựng với vẻ đẹp: “khuôn mặt nàng ngăm
ngăm màu hổ phách, mớ tóc nàng đẹp tuyệt vời mà lại có phần dữ dội vì vừa
đen lại vừa rậm, đôi hàng lông mày của nàng vừa mềm mại vừa bóng lên, đôi
mắt đen, miệng nàng quyến rũ với đôi môi đỏ thắm mịn màng” [4, tr. 266].
Xuyên suốt truyện ngắn này là hình tượng của người phụ nữ với tình yêu
mỏng manh, thoáng chốc có thể tan vỡ và biến mất. Nhà văn đã xây dựng lên
hình tượng một cô tiểu thư giàu có luôn dửng dưng, lạnh lùng để rồi lại bất
ngờ chấp nhận hiến dâng cho chàng trai ấy với cuộc ái ân chớp nhoáng trong
một đêm và từ đó về sau không bao giờ gặp lại anh ta nữa
Bunin đã xây dựng hình tượng những người phụ nữ không muốn xưng
tên như “người thiếu phụ vô danh nhỏ nhắn”, “là người đẹp không quen biết”
như trong Say nắng. Trong truyện ngắn Ngày thứ hai chay tịnh, nhân vật
người phụ nữ cũng được gọi là “nàng” mà không hề có tên. Những người phụ
nữ trong truyện ngắn của Bunin còn rất đặc biệt, họ luôn có những tính cách
và những hành động khó lí giải, mỗi người đều có dấu ấn và cách sống riêng
nhưng đều là điển hình cho phụ nữ Nga với tâm hồn nhạy cảm, giàu lòng
thương yêu và tràn đầy sức sống nhưng cũng đầy bản lĩnh. Viết về người phụ
nữ, Bunin luôn dành cho họ những tình cảm chân thành và thái độ trân trọng
qua những số phận và tính cách của mỗi nhân vật. Kết thúc truyện thường là
nỗi buồn man mác, nhưng trong truyện ngắn của Bunin, cái buồn ở đây là cái
buồn của tình yêu không trọn vẹn. Tình yêu và hạnh phúc trong truyện ngắn
của Bunin không bao giờ trọn vẹn, nó luôn bị khiếm khuyết, thậm chí là rơi
những nhân vật mang trong mình những nỗi buồn không tên với những nỗi u
20
sầu mà chỉ đọc tác phẩm mới có thể cảm nhận được. Tóm lại, Bunin đã thể
hiện được cái nhìn chiều sâu về con người, đó là những con người thiên về
cảm xúc, thường đứng trước nhiều tình huống cảm xúc bất chợt khiến người
đọc cũng như nhân vật rơi vào trạng thái ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Người phụ
nữ được hiện lên với tất cả những điều chân thật nhất. Nhà văn đã nắm bắt
được tâm lí của người phụ nữ nên những nhân vật nữ trong truyện ngắn của
ông đều gắn với tình yêu, dưới con mắt của những chàng trai, để họ tự bộc lộ
được những vẻ đẹp cũng như góc khuất trong tâm hồn mình.
1.3. Hình tượng thiên nhiên
Bên cạnh việc khắc họa hình tượng người phụ nữ, những truyện ngắn của
Bunin còn xây dựng được những bức tranh phong cảnh man mác buồn, nhưng
rất đẹp. Nhà văn đã vẽ được bức tranh thiên nhiên nước Nga không phải đơn
thuần như các họa sĩ khác, mà ông vẽ nên bức tranh ấy bằng ngôn ngữ.
1.3.1. Sự trù phú của vùng quê nay chỉ còn trong kí ức
Viết về phong cảnh nông thôn Nga là một đề tài khá quen thuộc đối với
các nhà văn Nga, trong đó có I. Bunin, có lẽ người đọc chỉ cần đọc Những quả
táo Antonov là thấy được sự say mê cảnh vật, say mê thiên nhiên Nga của
Bunin. Khi đọc đến những đoạn văn mà Bunin miêu tả về một vùng quê nào
đó, người đọc dễ có cảm giác chân thật, dường như đang được đứng trước nước
Nga, đất nước mà mình chưa hề được đặt chân đến. Nhà văn say mê, đắm đuối
cảnh sắc thiên nhiên, ông được xem là người “viết về nông thôn Nga, chưa có
ai viết sâu sắc được đến thế, có tính chất lịch sử đến thế” [4, tr. 9].
Từ mở đầu đến khi kết thúc tác phẩm, Những quả táo Antonov đã vẽ nên
một bức tranh trong tâm tưởng của nhân vật “tôi” về những năm tháng tươi
đẹp về quá khứ đã qua: “Tôi hồi tưởng lại một mùa thu sớm, đẹp trời, trong