Chất thơ trong tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kỳ đổi mới qua 3 tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Khúc bi tráng cuối cùng (Chu Lai), Tàn đen đốm đỏ (Phạm Ngọc Tiến) - Pdf 29

Chất thơ trong tiểu thuyết viết về chiến tranh
thời kỳ đổi mới qua 3 tác phẩm: Nỗi buồn chiến
tranh (Bảo Ninh), Khúc bi tráng cuối cùng (Chu
Lai), Tàn đen đốm đỏ (Phạm Ngọc Tiến) Nguyễn Thị Thanh Phương Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Văn học Việt Nam; Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn: PGS.TS. Lê Dục Tú
Năm bảo vệ: 2014 Keywords. Văn học Việt Nam; Tiểu thuyết; Nghiên cứu văn học

Content
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Suốt ba mươi năm kháng chiến chống ngoại xâm, tiểu thuyết viết về chiến tranh đã góp phần
quan trọng vào việc hình thành diện mạo nền văn học dân tộc. Sau 1975, trên tinh thần đổi mới
tư duy nghệ thuật, tiểu thuyết về chiến tranh vẫn tiếp tục phát triển và góp phần không nhỏ vào
sự đổi mới thể loại tiểu thuyết ở Việt Nam.
Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Khúc bi tráng cuối cùng (Chu Lai), Tàn đen đốm đỏ
(Phạm Ngọc Tiến) thực sự là ba tác phẩm mang đến cho người đọc cái nhìn mới về hiện thực
chiến tranh và cuộc sống của người lính thời hậu chiến, bổ khuyết những khoảng trống mà tiểu
thuyết viết về chiến tranh giai đoạn trước 1975 chưa có điều kiện khám phá. Đây cũng chính là
một đóng góp quan trọng của ba tác giả kể trên trong hành trình cách tân nghệ thuật tiểu thuyết.
Ngoài những cách tân trên một số phương diện thì theo người viết vẻ đẹp của chất thơ là một
trong nét hấp dẫn, góp phần tạo nên thành công của ba cuốn tiểu thuyết nêu trên. Theo khảo sát
thống kê, chất thơ trong tiểu thuyết đặc biệt tiểu thuyết viết về chiến tranh Việt Nam chưa có

Cũng trong cuộc thảo luận này, Vũ Quần Phương nhận xét: “Nếu cái đáng khen trong cuốn
sách là chân thực trong tâm trạng, thì chỗ cần lưu ý tác giả cũng là tính chân thực cần có, trong
khi dựng lại bối cảnh hậu phương miền Bắc và những trận đánh trả máy bay Mỹ. Bảo Ninh đã
đánh mất cái hào khí rất đẹp của năm tháng ấy, có thể nó ấu trĩ, nhưng nó có cảm giác tác giả có
những điều không hài lòng nên có cái nhìn thiên kiến, có chỗ cực đoan. Đọc những chi tiết
khủng khiếp, đay nghiến, thấy tác giả ác, ta chưa thấy được nhân tố làm nên chiến thắng ở đây”
[16, tr. 4]. Nhìn chung, các ý kiến của các cây bút nhìn chiến tranh quá gần, thậm chí cảnh giác
với nguy cơ chiến tranh, e sợ tác giả rơi vào tình trạng giải thiêng cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại
của dân tộc.
Xu hướng đánh giá cao đóng góp của Bảo Ninh trong sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam
hiện đại, tiêu biểu có Nguyên Ngọc. Trong cuộc thảo luận về tiểu thuyết Thân phận tình yêu
(Báo Văn nghệ số 37 năm 1991), ông khẳng định: “Cuốn sách Thân phận của tình yêu của Bảo
Ninh là sự nghiền ngẫm về chiến thắng, ý nghĩa và giá trị to lớn và dữ dội của chiến thắng. Nó
chỉ cho chúng ta biết rằng, chúng ta đã làm nên chiến công vĩ đại thắng Mỹ với cái giá ghê gớm
đến chừng nào. Một đặc sắc nữa của cuốn sách này là tác giả viết với tư cách hoàn toàn của
người trong cuộc, không đứng ngoài, đứng trên nhìn ngắm mà đứng trong, thậm chí ở tận đáy
của cuộc chiến tranh. Anh viết về cuộc chiến tranh “của anh” gần như bằng tất cả máu của anh.
Về mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới”. [50, tr. 5].
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh mang lại một góc nhìn mới về chiến tranh, bổ sung cho
cách nhìn đã quen, là tiểu thuyết về cuộc chiến tranh ấy (chiến tranh chống Mỹ) với tư cách là
một cuộc chiến tranh. Tác giả đã trừu tượng bớt đi cái phần mục đích, chiến công, nhân tố thắng
lợi để chỉ kể về cuộc chiến tranh với tất cả tính chất chiến tranh của nó. Văn học ta đã nói nhiều
đến tính chính nghĩa, tính anh hùng, tính cách mạng của cuộc chiến tranh, nhưng chưa nói được
gì đáng kể về tính tàn bạo, tính hủy diệt bi thảm của nó, những tính chất không chỉ thể hiện ở cái
chết nơi chiến trận, mà còn mở rộng ra thành cái chết trong tâm hồn, tình yêu thành sự dở dang.
Có thể nói, tác giả lộn trái cuộc chiến tranh ra để ta được nhìn vào cái phía trong bị che khuất,
lấp một chỗ trống chưa được lấp. Đây là tiểu thuyết về nhà văn, về sự hình thành một kiểu nhà
văn, dự báo những thay đổi đáng kể của ý thức văn học. Không nghi ngờ gì, Bảo Ninh đã đóng
góp đáng kể, nhiều mặt cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
Đánh giá cái nhìn về hiện thực chiến tranh, cách viết về chiến tranh thời hậu chiến, trong bài

chiến tranh của một người lính – nhà văn. Tính chất hồi ức đã chi phối giọng điệu, tạo ra kiểu
thời gian chồng chéo, đan cài vào nhau trong dòng chảy gần như dòng ý thức triền miên suốt gần
350 trang sách” [20, tr. 267]
Trong cuốn Bàn về tiểu thuyết, với bài viết Những biến đổi trong cấu trúc thể loại tiểu thuyết
sau 1975, Bùi Việt Thắng nhấn mạnh tới vấn đề “vai trò của ký ức đối với những thay đổi của
cấu trúc tiểu thuyết, nó được coi như một thành tố quan trọng dùng để tổ chức tác phẩm. Trong
Thân phận của tình yêu (1990) của Bảo Ninh, tỷ lệ quá khứ - hiện tại là ba trên một. Ký ức chính
là dòng hồi tưởng “đi tìm thời gian đã mất” trong tâm lý nhân vật, nối quá khứ với hiện tại. Lối
kiến trúc tiểu thuyết kiểu lồng ghép các “mảnh vỡ tâm trạng” khiến người đọc rất khó tiếp nhận
theo lối truyền thống. Kiểu kết cấu này giống nhứ kỹ thuật thiết kế các ngôi nhà ống, người ta cố
tạo ra những “giếng trời” – tức là những “khoảng trống”, dễ nhận ra trong Thân phận tình yêu”
[57, tr. 83].
Trong Thi pháp hiện đại, Đỗ Đức Hiểu đánh giá Thân phận tình yêu là một hiện tượng ngôn
từ lạ lùng, mang tính đa thanh, tính đối thoại, là tiểu thuyết mở, nảy sinh từ trực giác, vô thức
(không loại trừ ý thức và lý trí). Đó là cuộc hành trình của những mộng du, tỉnh mê, huyền bí. Đi
tìm thời gian đã mất của Marce Proust là điểm gặp gỡ của Bảo Ninh với lý luận hiện đại về văn
học. [22, tr. 267]
Có thể nói, Thân phận tình yêu hay Nỗi buồn chiến tranh ngày càng được đánh giá cao trong
cái nhìn rộng rãi hơn cả về nội dụng, nghệ thuật. Năm 2003, trả lời phỏng vấn trên Báo Sinh viên
Việt Nam về văn học 10 năm qua, Nguyên Ngọc lại một lần nữa khẳng định: Từ Nỗi buồn chiến
tranh, chúng ta mới thực sự có tiểu thuyết hiện đại [48, tr. 9].
Khảo sát nghiên cứu cho thấy, chủ yếu là các công trình bài viết đánh giá về cái nhìn của Bảo
Ninh khi viết về chiến tranh, bút pháp nghệ thuật. Cụ thể khi đề cập tới chất thơ thì chưa có một
công trình chuyên sâu. Chỉ dừng lại ở những bài viết đối sánh nhỏ lẻ như: Trong cuốn Tự sự học
– Một số vấn đề lý luận và lịch sử (Phần 2), bài viết Tư duy thơ trong tiểu thuyết Việt Nam đương
đại, Nguyễn Thị Bình đã nhận định về những văn bản được tạo lập theo nhãn quan thơ trong đó
có Nỗi buồn chiến tranh. “Nhìn sâu vào cách tạo lập văn bản sẽ nhận ra những đặc trưng của tư
duy thơ đã chi phối từ quan niệm thể loại đến bút pháp tiểu thuyết. Thứ nhất là sự nổi bật nhịp
điệu. Cảm xúc trong thơ được mã hóa bằng nhịp điệu. Ở Việt Nam, khái niệm “thơ ca” cũng cho
thấy nhịp điệu có vai trò rất quan trọng đối với sáng tác thơ. Văn xuôi tự giác về điều này muộn

người trở về sau chiến tranh bị mất thăng bằng, khó tìm được sự yên ổn trong tâm hồn. Họ sống
trong cảm giác không bình yên… đi vào ngõ ngách đời sống tâm linh con người. Chu Lai làm
người đọc bất ngờ vì những phám phá nghệ thuật của mình. Nhân vật Chu Lai thường tự soi
mình, khám phá một bản ngã hay là một con người trong con người [56, tr. 104]
Trong bài Cuộc tìm tòi về tiểu thuyết in ở Báo Văn Nghệ, số 26, năm 1993, Đỗ Văn Khang
đề cập đến nghệ thuật đến nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai: “Lối chạm
khắc nhân vật trong Ăn mày dĩ vãng cũng có nhiều đóng góp mới. Ngày trước nhân vật thường
mang một ý phổ quát, tức là có cái gì đó chung cho cả lớp người…, còn Hai Hùng của Chu Lai
có cùng số phận được miêu tả như một yếu tố cá biệt, độc nhất nhưng vẫn mang tính điển hình”
[26, tr. 4]. Dù bước đầu đã có một số công trình nghiên cứu khá đầy đủ về tiểu thuyết Chu Lai
như: Đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Chu Lai (Phạm Thúy Hằng, Luận văn Thạc Sĩ, Đại học
Sư phạm Hà Nội, năm 2003), Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai (Tạ Thị Thanh Thùy,
Luận văn Thạc Sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2005. Sự thể hiện hình tượng người lính thời
hậu chiến trong tiểu thuyết Chu Lai (Lê Thị Luyến, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh, năm 2006).
Nhưng xét cách toàn diện, nghiên cứu về chất thơ trong tiểu thuyết của Chu Lai vẫn còn thiếu cái
nhìn cụ thể chi tiết, chỉ dừng ở các bài khái quát như:
Trên Tạp chí Nhà văn, số 8 năm 2006 với bài Nội lực của Chu Lai, Bùi Việt Thắng đưa ra
những đánh giá mang tính bao quát toàn bộ các tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết của Chu Lai ở
phương diện nhân vật và giọng điệu. Ông nhấn mạnh đến “những dấu son đỏ” như những cột
mốc ghi nhận lộ trình sáng tạo của Chu Lai là Ăn mày dĩ vãng (1992) và Khúc bi tráng cuối cùng
(2004) [55, tr. 6]
Tựu chung lại đã có những đánh giá tương đối hoàn chỉnh về tiểu thuyết Chu Lai cũng như
những vấn đề xoay quanh việc viết văn của tác giả này. Nó cũng chỉ mới giới hạn ở một phạm vi
của một tác phẩm cụ thể nào đó. Chưa có công trình nghiên cứu về chất thơ trong Khúc bi tráng
cuối cùng. Sau khi khảo sát, người viết phát hiện đây là hướng đi mới cho đề tài.
* Khảo sát các công trình nghiên cứu tới chất thơ trong Tàn đen đốm đỏ của Phạm Ngọc Tiến
Các bài viết về tác phẩm Tàn đen đốm đỏ không nhiểu. Có một số bài viết chủ yếu nói tới
tiểu sử, đời tư của Phạm Ngọc Tiến ví như: Phạm Ngọc Tiến và những chuyện thật như đùa trên
trang vietnamnet, xuất bản ngày 22/5/2011, Phạm Ngọc Tiến: Đọc Quyền Sư trên trang thông tin
của Nguyễn Trọng Tạo, Chân dung Phạm Ngọc Tiến trên trang batinh.com, Nhà văn Phạm Ngọc

của chất thơ trong ba tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh trên các phương diện cụ thể tương
ứng.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện mục đích nghiên cứu đã đề ra, người viết sử dụng kết hợp các phương pháp
nghiên cứu sau:
-Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp: Phương pháp thống kê giúp người viết khảo sát,
tìm hiểu tần số xuất hiện, sự biểu hiện của những yếu tố có ý nghĩa quyết định, từ đó chỉ ra được
chất thơ trong tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kỳ đổi mới.
-Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Phương pháp này giúp người viết khảo sát, phân tích các
phương diện nghệ thuật biểu đạt nội dung như giọng điệu một cách hệ thống.
-Phương pháp cấu trúc: Phân tích tác phẩm như một hệ thống các yếu tố, từ đó thấy được
chức năng và mối quan hệ giữa các yếu tố ấy với nhau. Phương pháp này có vai trò quan trọng
làm rõ được những đặc trưng về nghệ thuật (ngôn ngữ, giọng điệu ) gắn kết với việc biểu đạt
nội dung như thế nào.
-Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh được vận dụng để làm sáng rõ những yếu tố kế
thừa cũng như cách tân về nghệ thuật, nội dung biểu hiện chất thơ
6. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Chất thơ và chất thơ trong văn xuôi
Chƣơng 2: Bức tranh hiện thực đậm chất thơ trong Nỗi buồn chiến tranh, Khúc bi tráng
cuối cùng, Tàn đen đốm đỏ
Chƣơng 3: Những phƣơng thức biểu hiện của chất thơ qua Nỗi buồn chiến tranh, Khúc
bi tráng cuối cùng, Tàn đen đốm đỏ References
1. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia
2. Lê Huy Bắc (1998), Giọng và giọng điệu văn xuôi hiện đại, Tạp chí Văn học, số 09
3. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975, Luận án
Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Sư Phạm Hà Nội

số 43
26. Đỗ Văn Khang (1993), Cuộc tìm tòi về tiểu thuyết , Báo Văn Nghệ, số 26
27. K.Pautôpxki (2002), Chất thơ của văn xuôi, Một mình với mùa thu, NXB Văn học
28. Chu Lai (2013), Khúc bi tráng cuối cùng, NXB Văn học
29. Chu Lai (1987), Vài suy nghĩ về phản ánh sự thật trong chiến tranh, Tạp chí Văn nghệ
quân đội, số 4, 1987
30. Tôn Phương Lan (1965), Chất thơ trong tạp văn Lỗ Tấn, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc,
số 1
31. Tôn Phương Lan (1994), Chiến tranh qua những tác phẩm văn xuôi được giải, tạp chí Văn
học, số 12
32. Phong Lê (2008), Mấy vấn đề văn xuôi Việt Nam 1945 – 1975, NXB Khoa học xã hội
33. Phong Lê (1997), Văn học trên hành trình thế kỷ XX, NXB Đại học Quốc gia HN
34. Nguyễn Văn Long (2006), Lã Nhâm Thìn, Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề
nghiên cứu và giảng dạy, NXB Giáo dục
35. Phương Lựu (2003), Trần Đình Sử, Lí luận văn học, NXB Giáo dục
36. Hữu Mai (1985), 40 năm Văn học viết về đề tài chiến tranh, thành tựu và trách nhiệm,
NXB Văn học
37. Nguyễn Đăng Mạnh (2002), Con đường đi sâu vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, NXB
Giáo dục
38. Nguyễn Đăng Mạnh (2001), Nhà văn tư tưởng và phong cách, NXB Giáo dục, Hà Nội
39. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), NXBVăn hóa
Thông tin và Thể thao
40. M. Khrapchencô (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, NXB Tác
phẩm mới
41. M.Kundera, Sứ mệnh của tiểu thuyết (Ngân Xuyên dịch), http://www.vietnam.net
42. Hoài Nam (2008), Thơ và văn xuôi, những kết hợp nghệ thuật, Báo An ninh thế giới, số 8
43. Nhiều tác giả (2001), Đổi mới tư duy tiểu thuyết, NXB Hội nhà văn
44. Nhiều tác giả (2001), Những vấn đề lý thuyết lịch sử văn học và ngôn ngữ, NXB Giáo dục
45. Nhiều tác giả (1991), Thảo luận về tiểu thuyết Thân phận của tình yêu, Báo Văn nghệ, số
37

67. Lưu Thị Thanh Trà (2006), Đề tài chiến tranh chống Mỹ trong truyện ngắn Bảo Ninh,
Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh, 2006
68. Nguyễn Thanh Tú (2003), Chất thơ trong truyện ngắn Nguyễn Đức Mậu, Văn học Việt
Nam hiện đại – một góc nhìn, NXB Quân đội nhân dân
69. Nguyễn Thanh Tú (2008), Đổi mới cấu trúc nhân vật trong tiểu thuyết sử thi hôm nay, Tạp
chí Văn nghệ Quân đội, số 668
70. Nguyễn Thanh Tú (2007), Một cách hình dung về quá trình phát triển của tiểu thuyết sử thi
từ 1945 đến nay, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 669
71. Nguyễn Thanh Tú (2009), Năm mô hình không gian trong tiểu thuyết hôm nay, Tạp chí
Văn nghệ Quân đội, số 703
72. Nguyễn Thanh Tú (2009), Văn học và người lính, NXB Văn học
73. Phùng Văn Tửu (2011), Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ thuật, NXB Tri thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status