Đ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN TRIẾT HỌC NGUYỄN THỊ HIẾU
TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ XÃ HỘI CỦA MINH
MỆNH QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU DƯỚI
TRIỀU NGUYỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN TRIẾT HỌC
Chƣơng 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA MINH MỆNH
8
1.1.
Tiền đề chính trị, kinh tế - xã hội
8
1.2
Tiền đề tư tưởng, văn hoá
23
1.3.
Minh Mệnh và một số tác phẩm tiêu biểu
27
Chƣơng 2: NHỮNG TƢ TƢỞNG CƠ BẢN VỀ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
33
2.1
Tư tưởng trị nước
33
2.1.1
Tư tưởng đức trị kết hợp với pháp trị
33
2.1.2
Tư tưởng an ninh, quốc phòng
52
2 2.
Tư tưởng về đạo làm người
68
2.3.
Tư tưởng giáo dục và sử dụng hiền tài
bản và quan trọng đã thu hút sự quan tâm đáng kể của giới nghiên cứu khoa
học xã hội trong khoảng ba thập niên trở lại đây. Việc nghiên cứu đến nơi đến
chốn một triều đại phong kiến đã từng là đối tượng của cách mạng có ý nghĩa
hết sức quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Về mặt lý luận, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước, cho đến
trước thời kỳ đổi mới, triều Nguyễn nói chung, tư tưởng triều Nguyễn nói
riêng chỉ được quan tâm nghiên cứu trên một số phương diện nhất định và chủ
yếu là bị phê phán như một đối tượng của cách mạng hơn là đối tượng của
khoa học xã hội. Vì vậy, những tri thức về triều đại này có tính phiến diện,
nghèo nàn và giản đơn. Sau đổi mới, nhận thức được sự thiếu hụt, lệch lạc và
phiến diện trong lý luận về giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc này, các
ngành khoa học xã hội đã coi nghiên cứu về triều Nguyễn và tư tưởng của
triều đại này như một trong những mảng đề tài chính và quan trọng trong giai
đoạn hiện nay nhằm giải quyết những vấn đề lý luận trọng yếu về mặt sử học,
văn học, tư tưởng, chính trị… . Đã có một chương trình nghiên cứu cấp nhà
nước chuyên biệt, lâu dài về triều Nguyễn với hội thảo khoa học lần thứ ba
được tổ chức tháng 11- 2008. Ngoài ra, nhiều đề tài cấp bộ và hội thảo khoa
học quốc gia và quốc tế có liên quan đến triều Nguyễn đã được thực hiện.
Những vấn đề lý luận cơ bản về triều Nguyễn như vị trí và vai trò lịch sử của
triều Nguyễn trong tiến trình lịch sử dân tộc, những đóng góp và sai lầm trong 3
lãnh đạo xây dựng và bảo vệ đất nước của triều Nguyễn, những giá trị và hạn
chế trong văn hoá và tư tưởng của triều Nguyễn… đã từng bước được giải
quyết trên những bình diện mới. Mặc dù vậy, để có được một nhận thức
khách quan, đầy đủ và khoa học về triều Nguyễn, và đặc biệt để các tri thức
lịch sử này tham gia hữu ích vào giải quyết những vấn đề thực tiễn mới nảy
sinh trong những bối cảnh mới của đất nước hiện nay thì các nhà nghiên cứu
Các tác phẩm lịch sử tư tưởng: bộ “Nho giáo” của học giả Trần Trọng
Kim được ấn hành tại Hà Nội vào những năm 30 thế kỷ XX. Trần Trọng Kim
coi nho giáo như một thứ bảo vật của dân tộc và rất đắc dụng trong việc trị
quốc an dân, là phong cách tốt nhất để thiết lập tôn ty trật tự xã hội. Qua đó
ông phân tích đường lối trị quốc mà Nho giáo chiếm vị trị độc tôn của một số
nhà vua ở các triều đại trong đó có Minh Mệnh.
Công trình được giải thưởng Hồ Chí Minh của Giáo sư Trần Văn Giàu
“Sự phát triển của tƣ tƣởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng
tháng Tám”.
Gần đây có một số cuốn sách và các sách báo, tạp chí, luận văn thạc sĩ,
tiến sĩ triết học cũng đi vào nghiên cứu một số khía cạnh của các vấn đề tư
tưởng chính trị của vương triều Nguyễn nói chung và Minh Mệnh nói riêng
như: Đỗ Bang “ Tổ chức bộ máy nhà nước dưới triều Nguyễn”, Mai Khắc
Ứng (1996) Chính sách khuyến nông dưới thời Minh Mệnh, NXB Văn Hoá
Thông tin…Đặc biệt là 2 công trình: Nguyễn Minh Tường trong tác phẩm
“Cải cách hành chính dƣới triều Nguyễn”, ở mục III (chương I) đã bàn về
tư tưởng chính trị của Minh Mệnh. Vì là vấn đề không thuộc trọng tâm của
cuốn sách nên tác giả Nguyễn Minh Tường chỉ mới nêu những nét khái quát
về tư tưởng chính trị của Minh Mệnh, chứ chưa đi sâu vào phân tích mọi mặt
của tư tưởng chính trị này. Tác giả Nguyễn Minh Tường nhận định: “Dưới
triều Minh Mệnh, tinh thần pháp trị được đề cao hơn nữa và thực hiện rất 5
nghiêm. Sau một thời kỳ dài mất ổn định về chính trị để duy trì kỉ cương xã
hội, để bộ máy hành chính của đất nước hoạt động một cách hữu hiệu, phòng
ngừa tham quan, lại nhũng tất yếu phải tăng cường đề cao pháp luật”[69; 59].
Tiếp đó là công trình: “Lịch sử tƣởng Việt Nam” tập II, NXB khoa
học xã hội, Hà Nội, 1997 do Lê Sỹ Thắng chủ biên đã trình bày những nội
minh, có quả cảm, hết lòng lo việc nước, tưởng về bản triều nhà Nguyễn, chư-
a có ông vua nào làm được nhiều công việc hơn ngài”[23; 465].
Đặc biệt trong tác phẩm “Lịch sử Việt Nam” tập II, do Giáo sư Phan
Huy Lê chủ biên năm 2003. Tác phẩm là sự tập hợp tình hình đất nước từ đầu
thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XIX. Trong phần thứ sáu chương III: Việt Nam -
Đại Nam thời Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX nêu ra các vấn đề về kinh tế, chính
trị, văn hoá của vương triều Nguyễn nói chung. Tác giả nhận định “từ Gia
Long đến Minh Mạng, bộ máy cai trị của nhà Nguyễn ngày càng hoàn thiện,
có thêm có bớt nhưng nhìn chung không cồng kềnh, thậm chí có thể coi là
gọn nhẹ”[28; 418].
Các công trình hoặc là đi vào tìm hiểu một vài khía cạnh như cải cách
ruộng đất, cải cách hành chính, hoặc là đi vào phân tích quá trình độc tôn Nho
giáo của Minh Mệnh trong tiến trình lịch sử dân tộc mà chưa đi vào phân tích
một cách khái quát, hệ thống những tư tưởng chính trị của Minh Mệnh.
Vì vậy thực hiện đề tài này, tác giả một mặt kế thừa những ý kiến của
các công trình, các tác giả đi trước và mặt khác tập trung vào tìm hiểu một
cách hệ thống và tổng hợp những tư tưởng chính trị- xã hội của Minh Mệnh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.
Mục đích của luận văn là phân tích và hệ thống hoá tư tưởng chính trị-
xã hội cơ bản của Minh Mệnh trong một số tác phẩm tiêu biểu, từ đó bước 7
đầu làm rõ những đóng góp cũng như hạn chế của tư tưởng Minh Mệnh trong
lịch sử tư tưởng triều Nguyễn.
Để đạt được mục đích đó luận văn giải quyết ba nhiệm vụ sau đây:
_Thứ nhất, tìm hiểu điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội, văn hoá tư
tưởng cho sự hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh
_Thứ hai, tập trung phân tích và hệ thống hoá những tư tưởng cơ bản
Tính đến lúc Gia Long lên ngôi, dựng đế nghiệp của dòng họ Nguyễn,
toàn bộ vùng đất đồng bằng sông Cửu Long được sáp nhập chính thức vào
lãnh thổ quốc gia chưa được nửa thế kỷ. Từ đây, biên cương của đất nước có
hình thù cơ bản giống như ngày nay.
Uy thế đang lên của Việt Nam khiến cho các nước nhỏ bé trên bán đảo
như Vạn Tượng quốc (Viên Chăn ngày nay); Nam Chưởng quốc (Luông
Phrabang ngày nay) đều thần phục để được bảo vệ chống lại các cuộc xâm
lăng có thể gọi là thường xuyên đến từ phía vương quốc Xiêm La. Trong các
quốc gia lân cận, Miến Điện mấy lần tỏ ý muốn thiết lập bang giao với nước
ta. Mặt khác, trước ảnh hưởng ngày càng suy giảm của nước mình, người
Xiêm vẫn ngấm ngầm quấy nhiễu Việt Nam bằng cách dung túng quân phản
nghịch Cao Miên và sinh sự với các tiểu quốc Lào.
Vua Gia Long đã thừa hưởng của quá khứ một di sản khá nặng nề lúc
nhà Nguyễn phải hướng mọi cố gắng và sức lực vào việc thiết lập một cơ sở
vững chắc cho triều đại mới, đồng thời trùng tu, kiến tạo lại xứ sở, bị tan nát
đến tận cội rễ sau một thời nội chiến dai dẳng và ác liệt.
Với tình trạng đó, trong lĩnh vực cai trị, sự áp dụng nguyên tắc tập
trung tất nhiên bị ngăn chặn bởi hai giới hạn: giới hạn tâm lý, làm cho dân
quen dần với chính quyền duy nhất mà không động chạm một cách vô ích đến 9
tình hình địa phương kết tinh sau hàng thế kỷ chia rẽ; giới hạn kỹ thuật giải
quyết công vụ một cách đầy đủ nhưng thích hợp với thực tế địa phương và
nhất là phải nhanh chóng.
Chúng ta sẽ thấy chính sách của Gia Long trong giai đoạn này vừa nặng
về hạ tầng cơ sở, vừa có tính cách mềm dẻo, theo định hướng khôi phục lại
chế độ quân chủ tập quyền, thống nhất tổ chức hành chính địa phương nhưng
có nhân nhượng với thực trạng xã hội.
3, Quảng Đức
4, Quảng Nam
- 7 trấn:
1, Thanh Hóa
2, Nghệ An
3 Quảng Ngãi
4, Bình Định
5, Phú Yên
6, Bình Khương
7, Bình Thuận
- 5 trấn:
1, Sơn Nam thượng
2, Sơn Nam hạ
3, Kinh Bắc
4, Sơn Tây
5, Hải Dương
- 6 ngoại trấn:
1, Thái Nguyên
2, Lạng Sơn
3, Tuyên Quang
4, Cao Bằng
5, An Quảng
6, Hưng Hóa
- 5 trấn:
1, Phiên An
2, Biên Hòa
3, Vĩnh Thanh
4, Định Tường
5, Hà Tiên
Đông, nếu không tập quyền được, thì triều đại đó ở tình trạng quả là quá yếu
kém và mầm tan rã luôn được nuôi dưỡng. Hơn thế nữa, cuộc tranh giành việc
kiểm soát Cao Miên với Xiêm La đòi hỏi Gia Long và Minh Mệnh phải củng
cố một chính quyền vững mạnh.
* Tổ chức bộ máy Nhà nước và chính sách quan lại. 12
Dưới thời Gia Long, bộ máy nhà nước Nguyễn về cơ bản kế thừa mô
hình tổ chức trước đó. Vua đứng đầu, cấp Trung ương lập ra 6 bộ:
Thứ nhất là bộ Lại: coi việc khảo xét công trạng, thảo những tờ chiếu
sắc
Thứ hai là bộ Hộ: coi việc đinh điền thuế má, tiền bạc
Thứ ba là bộ Lễ: coi việc tế tự, tôn phong, cách thức học hành thi cử
Thứ tư là bộ Binh: coi việc binh lính
Thứ năm là bộ Hình: coi việc pháp luật
Thứ sáu là bộ Công: coi việc làm cung điện, dinh thự
Đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng thư, giúp việc cho Thượng thư có
các quan chức tả hữu tham tri, tả hữu thị lang. Mỗi Bộ theo phạm vi công việc
mà chia thành các ty chuyên trách. Giúp việc cho sáu Bộ còn có bốn tự là:
Thái thường tự; Hồng lô tự; Thái bộ tự; Quang Lộc tự, đứng đầu tự là một tự
khanh và một thiếu khanh giúp việc. Ngoài ra còn có Viên thư lại, Hàn Lâm
viện, có các cơ quan chuyên trách sự vụ, chuyên môn như: Nội tào thông
chính, Quốc tử giám, Thái y viện, Tào chính, Hành nhân, Vũ khố, Khâm thiên
giám, Tư tế ty, Tượng y viện.
Đặc biệt nổi bật của bộ máy chính quyền địa phương là tính chất phân
quyền với sự tồn tại của 2 khu vực hành chính lớn là Bắc Thành và Gia Định
Thành cũng như thiếu tính thống nhất trong tổ chức hành chính giữa miền
Bắc và miền Nam, giữa vùng đồng bằng và miền núi. Đó là những hạn chế
cường sở hữu công cộng làm bệ đỡ kinh tế – xã hội cho chế độ quân chủ tập
quyền, nhà Nguyễn từ khá sớm đã có tham vọng can thiệp vào ruộng đất tư.
Năm 1803, một số quan cai trị ở Bắc Thành đề nghị Gia Long thi hành phép
quân điền, bắt các chủ ruộng tư sung công 70% ruộng đất làm công điền quân 14
cấp. Chủ trương này quá mạnh mẽ, lại rơi vào lúc nhà Nguyễn mới được thiết
lập, tình hình chưa thật ổn định nên đã không được chấp nhận.
Trong các biện pháp trọng nông, chính sách khai hoang dưới hình thức
doanh điền là có hiệu quả hơn cả.
Khai hoang là hoạt động được nhà nước đặc biệt quan tâm. Một mặt
xuất phát tư tưởng trọng nông của nhà Nguyễn; mặt khác, là một giải pháp
của nhà Nguyễn nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế -xã hội khác.
Vào nửa đầu thế kỷ XIX, tiềm năng đất đai của Việt Nam còn khá lớn,
tập trung ở vùng Nam Bộ và vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ. Chính vì vậy,
nhà Nguyễn đã ban hành nhiều quyết định khai hoang. Từ khoảng thời gian
1802 đến 1858 đã ban hành 46 quyết định khai hoang, riêng dưới triều Minh
Mệnh là 23 quyết định. Các hình thức khai hoang chủ yếu gồm:
Trước hết là đồn điền. Cuối thế kỷ XVIII khi còn hoạt động ở vùng Gia
Định, Nguyễn Ánh đã thi hành chính sách khai hoang lập đồn điền. Việc làm
đó đã góp phần đáng kể để tăng cường cơ sở vật chất cho Nguyễn Ánh trong
cuộc chiến chống nhà Tây Sơn, mở rộng diện tích canh tác trên vùng đất giàu
tiềm năng Nam Bộ. Các vua triều Nguyễn ở đầu thế kỷ XIX tiếp tục duy trì
chính sách này.
Thứ hai là hình thức dinh điền. Đây là hình thức khai hoang kết hợp
giữa nhà nước và nhân dân gắn với tên tuổi của dinh điền sứ Nguyễn Công
Trứ và Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương. Thành tựu dinh điền đã có kết quả
nhất định.
các loại thuyền được đóng khá lớn, chất lượng tốt.
Thành tựu của quan xưởng thời Nguyễn là rất lớn nhưng hầu hết sản
phẩm không tham gia lưu thông trên thị trường và vì thế, tác động đó đối với
nền kinh tế hàng hóa và toàn bộ nền kinh tế nói chung rất hạn chế. Thậm chí, 16
với việc tập trung hết thợ giỏi trên toàn quốc vào các quan xưởng làm việc
theo chế độ lao dịch đã gây nhiều khó khăn cho sự phát triển của kinh tế thủ
công nghiệp dân gian. Vì vậy, các ngành nghề như nghề dệt, gốm sứ, luyện
kim, làm giấy bị hạn chế phát triển và không phát huy được tính phong phú
của các ngành nghề truyền thống của Việt Nam.
Kinh tế thương nghiệp: Gia Long áp dụng chính sách “trọng nông ức
thương” của Nho giáo, xem thương mại thuộc bá đạo chẳng những không
khuyến khích phát triển mà còn ức chế. Chính sách ngoại giao của triều đình
Gia Long đối với các nước Phương Tây là “bế quan toả cảng”, đối với người
Trung Quốc thì triều đình cho phép buôn bán nhưng không lấy đó làm chính
sách kinh tế quan trọng. Người Phương Tây muốn sang buôn bán thì phải xin
phép từng chuyến và không cho phép đặt cơ quan đại diện trên đất Việt Nam.
Nhiều nước phương Tây muốn ký kết hiệp định thương mại với triều đình
Huế để tạo khuôn khổ pháp lý cho việc buôn bán nhưng không có kết quả.
“Liên tiếp trong hai năm 1803 và 1804, Anh đề nghị triều đình Huế chấp nhận
cho phép họ đặt thương điếm ở Đà Nẵng nhưng bị từ chối”[28; 446]. Nhà
nước chiếm giữ độc quyền ưu tiên mua và bán với nước ngoài sau đó tư nhân
mới được mua bán với họ. Nhà Nguyễn “bằng lòng với cuộc sống cô độc
trong lúc thương mại quốc tế phát triển” [13; 40]. Tuy nhiên, nửa đầu thế kỷ
XIX vẫn có một số thuyền buôn phương Tây cập cảng Việt Nam như 1805 có
nhiều thuyền buôn cập cảng Gia Định.
Đất nước được thống nhất từ Bắc vào Nam đã tạo điều kiện tốt cho
trạng bất ổn trong làng xã.
Làng xã Việt Nam cho đến đầu thế kỷ XIX về mặt thiết chế quản lý vẫn
bao gồm 2 bộ phận, bộ phận hành chính nhà nước và bộ phận tự trị. Làng xã
mặc dù có sự kiểm soát của nhà nước nhưng gần như đã bị tầng lớp hào
cường thông qua thiết chế tự trị, khống chế bộ máy hành chính, sách nhiễu 18
nhân dân. Điều này cũng làm cho đời sống của thợ thủ công, buôn bán nhỏ trở
nên không dễ dàng.
Như vậy, đời sống của tuyệt đại nhân dân rất khó khăn. Trong khi đó,
nửa đầu thế kỷ XIX, liên tục diễn ra các nạn dịch nhất là dịch tả. Có trận dịch
cướp đi sinh mạng hàng vạn người. Bên cạnh đó là bão, hạn hán, lũ lụt
thường xuyên xảy ra, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống nhân dân mà trước
hết và chủ yếu là những người nông dân ngày càng trở nên khốn khó. Trong
đó, một bộ phận đáng kể bị bần cùng hóa.
Chính sách cai trị mang tính cưỡng chế, nặng nề, kinh tế lạc hậu cùng
với những khó khăn trong đời sống nhân dân, nhất là nông dân làm cho không
khí xã hội nửa đầu thế kỷ XIX luôn trong tình trạng bất ổn. Theo ghi chép của
sử sách, nhà Nguyễn thời Gia Long nổ ra 73 cuộc nổi dậy lớn nhỏ. Điều này
chứng tỏ một làn sóng phản đối mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân chống lại
chính quyền và tình trạng rối loạn của xã hội.
Tất cả những yêu cầu trên đây, đặt cho Gia Long nhiệm vụ phải chú ý
hơn nữa để xây dựng một bộ máy hành chính đủ sức điều hành đất nước một
cách có hiệu quả. Có lẽ thấu hiểu được tầm quan trọng của việc đưa đời sống
của quan đến dân vào kỷ cương, cho nên Gia Long vừa lên ngôi được vài năm
đã lệnh cho Nguyễn Văn Thành phụ trách soạn bộ luật chính thức của vương
triều Nguyễn, đó là bộ “Hoàng Việt Luật lệ”(HVLL).
Sau khi lên ngôi, Gia Long đã tham khảo luật Hồng Đức, đặt ra 15 điều
Long (tức HVLL) thực chất là chép luật của nhà Thanh, chỉ thay đổi ít nhiều
mà thôi” [25; 71]. Nhưng việc ra đời HVLL vẫn là một bước tiến trong lịch sử
pháp chế Việt Nam dưới thời phong kiến. Nó cho thấy, các triều đại quân chủ
gắng hướng cho từ quan lại đến dân chúng phải sống và làm việc theo pháp
luật. Luật Gia Long ra đời cũng khiến cho số quan lại giữ việc hình án dưới
triều Nguyễn có cơ sở pháp luật để xử các vụ án liên quan tới đời sống dân 20
chúng. Ở thời đại nào cũng vậy, việc xét xử không căn cứ theo pháp luật và
để đọng án là một nỗi khổ lớn của dân chúng và pháp luật phải nghiêm minh
là biểu hiện của một xã hội có kỷ cương và phát triển.
Gia Long là một trong những ông vua Nguyễn tỏ ra rất quan tâm đến
việc xét xử các vụ án trong dân. Nhà vua muốn các vụ án đều được xét xử
nhanh chóng và công minh. Gia Long từng chỉ dụ cho bộ Hình rằng: “Hình
ngục là việc lớn, quan hệ đến sinh mệnh của thiên hạ. Gần đây các nha môn
hỏi việc hình, có nơi cứ để đọng án tất làm luỵ cho dân binh, ta rất thương.
Vậy hạ lệnh cho sở tại phải xét văn án, soát tội tù, kẻ nào nhẹ thì tha cho, kẻ
nào nặng thì tâu xin để cho hình được thanh, chính được bình, xứng với lòng
ta”[43; 63]
Vào năm 1816, vua Gia Long đã lập người con trai thứ tư là hoàng tử
Đảm làm thái tử chứ không thực hiện chế độ “đích tôn thừa trọng” chọn
hoàng tôn Đán, con của hoàng tử Cảnh. Việc này có nguyên nhân là hoàng tử
Đảm lúc này đã 29 tuổi mà hoàng tôn Đán mới chừng 16 tuổi. Gia Long cần
một người kế tục mình vừa chín chắn vừa có bản lĩnh để gánh vác việc lớn.
Nhưng điều quan trọng hơn, Gia Long không muốn chọn một người kế tục có
xu hướng thân phương Tây như hoàng tôn Đán.
Từ khi còn là hoàng tử đến khi đã lên ngôi, Minh Mệnh đã sớm có ý
thức chuẩn bị, rèn luyện năng lực để sẵn sàng gánh vác trách nhiệm lớn. Thời
triều đình vua Gia Long và nhà Thanh được diễn ra. Đây là một sự thể hiện
chính sách ngoại giao nửa đầu thế kỷ XIX của triều Nguyễn thần phục nhà
Thanh.
Với Xiêm La: Từ năm 1807, vua vương quốc Cao Miên là Nặc Ông
Chân bỏ Xiêm La xin về thần phục Việt Nam. Em của Nặc Ông Chân muốn 22
tranh quyền của anh bèn sang cầu cứu Xiêm La. Quân Xiêm kéo sang, Nặc
Ông Chân chạy về Tân Châu, rồi dâng biểu về Phú Xuân cầu cứu. Năm 1811,
Gia Long cho sứ đưa thư qua trách chính phủ Xiêm. Năm 1813, tướng Tả
quân Lê Văn Duyệt được lệnh đem 10 nghìn quân đưa Nặc Ông Chân về
nước và buộc quân Xiêm rút về. Sau đó, Lê Văn Duyệt cho xây thành Phnôm
Pênh. Từ đó trở đi, viên quan trấn thủ ở Hà Tiên có nhiệm vụ án thủ đến Châu
đốc đồng thời lãnh quốc ấn bảo hộ Cao Miên.
Trong giai đoạn này, triều Nguyễn muốn thôn tính Cao Miên, muốn
tiếp tục thắng lợi trong cuộc tranh hùng với Xiêm La trong những vấn đề Cao
Miên nên điều kiện tiên quyết đối với Việt Nam là phải có một nhà nước lớn
mạnh, đầy đủ uy tín. Không có một chính quyền mạnh thì thiếu hậu thuẫn
hùng hậu về quân sự và không thể dùng giải pháp ngoại giao.
Thời kỳ đầu thế kỷ XIX, với các nước trong khu vực, nhà Nguyễn thể
hiện hai thái độ đối lập nhau: thần phục nhà Thanh và lấn lướt các nước Ai
Lao, Chân Lạp. Trong khi đó nửa đầu thế kỷ XIX vương triều nhà Thanh
đang trở nên lạc hậu, trì trệ với sự suy kiệt nội lực và bất cập trước xu thế thời
đại.
Quan hệ với các nước phương Tây: Năm 1803, nước Anh sai sứ là
Robert sang xin cho mở cửa hàng buôn bán ở Trà Sơn, thuộc tỉnh Quảng
Nam. Vua Gia Long không nhận đồ, và cũng không cho mở cửa hàng. Sau đó
người Anh còn đưa thư sang hai ba lần nữa, nhưng vẫn bị từ chối.
Nho giáo, vẫn không đưa giáo lý Phật giáo vào chương trình giáo dục và thi
cử nhưng đều sùng bái Phật giáo. Nhiều nhà nho lớn của thế kỷ đã viết nhiều
tác phẩm để luận chứng cho thuyết “tam giáo đồng nguyên”. Tiến sĩ Nho học,
nhà chính trị lỗi lạc Ngô Thì Nhậm thì viết hẳn một tác phẩm Phật học –“Trúc