hiện tượng thủ pháp dòng ý thức trong văn xuôi việt nam đương đại - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Hồ Hoài Khanh

HIỆN TƯỢNG THỦ PHÁP DÒNG Ý THỨC
TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
0


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Hồ Hoài Khanh

HIỆN TƯỢNG THỦ PHÁP DÒNG Ý THỨC
TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Nguyễn Hoài Thanh

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
1


bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 09 năm 2013

HỒ HOÀI KHANH

2


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 1
TRANG CAM ĐOAN ................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 5
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................. 5
2. Lịch sử nghiên cứu .......................................................................................................... 6
3. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................... 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 7
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 8
6. Đóng góp của luận văn ................................................................................................... 8
7. Kết cấu của luận văn ...................................................................................................... 9

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ XUNG QUANH VỀ THỦ PHÁP DÒNG Ý
THỨC TRONG VĂN HỌC ...................................................................................... 11
1.1. Về thủ pháp “dòng ý thức” ....................................................................................... 11
1.1.1. Khái niệm và nguồn gốc phát sinh thủ pháp “dòng ý thức” .................................11
1.1.2. Đặc điểm và chức năng của thủ pháp “dòng ý thức”............................................12
1.2. Thủ pháp “dòng ý thức” trong văn học thế giới ..................................................... 15
1.2.1. Một số thành tựu của văn học “dòng ý thức” ở phương Tây................................15
1.2.2. Một số thành tựu của văn học “dòng ý thức” ở phương Đông .............................17
1.3. Hiện tượng thủ pháp “dòng ý thức” ở Việt Nam .................................................... 19


KẾT LUẬN ................................................................................................................ 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 88

4


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học là tấm áo khoác của thời đại, văn học làm nhiệm vụ như một tấm
gương phản ánh đời sống xã hội và con người. Văn học mỗi thời đại đều có những
yêu cầu và quy luật vận động riêng, đáp ứng nhu cầu bức thiết của xã hội. Nếu như
trước năm 1975, nước Việt Nam còn chiến tranh, thì văn học phải như những bản anh
hùng ca viết về cuộc kháng chiến anh dũng mang đậm chất sử thi, nó phản ánh cả
một bức tranh toàn cảnh về cuộc chiến gian khổ, ác liệt thì sau năm 1975, đất nước
giải phóng chủ đề nóng bỏng về chiến tranh không còn chiếm vị thế cao trong đề tài
sáng tác mà thay vào đó là việc nhà văn đi sâu vào phản ánh những đau đớn, nhức
nhói của con người thời hậu chiến. Hoàn cảnh lịch sử thay đổi buộc nhiệm vụ văn
học cũng phải thay đổi. Nhất là từ sau 1986 (thời kì đổi mới) văn học Việt Nam đã
thật sự thay da đổi thịt. Các nhà văn không đi vào những chủ đề lớn lao của đất nước
mang đậm phong vị sử thi nữa mà họ đã hướng về những ẩn ức trong đời sống tâm
hồn của con người. Và làm được điều đó thì nhà văn phải biết tìm tòi, sáng tạo cho
mình một thủ pháp đắc dụng để chuyển tải những tâm tư tình cảm của mình. Chính vì
nhu cầu đó thủ pháp “dòng ý thức” như một sự lựa chọn thú vị cho các nhà văn. Thủ
pháp “dòng ý thức” xuất hiện ở văn học phương Tây từ rất lâu và cũng đã có tầm ảnh
hưởng đến nền văn học Việt Nam.
Thủ pháp “dòng ý thức” là một thủ pháp nghệ thuật của văn xuôi nghệ thuật
hiện đại, nhất là tiểu thuyết. Thủ pháp “dòng ý thức” tham gia vào quá trình khám
phá “cái tôi bề sâu” trong đời sống nhân vật. Cách nhìn nhận cuộc sống xuất phát từ
đời sống nội tâm nhân vật không phải lúc nào cũng trùng khít với đời sống hiện thực

luận văn Đoàn Minh Phượng và khuynh hướng tiểu thuyết huyền ảo triết luận ở Việt
Nam hiện nay (2009), đã nghiên cứu và nhận định rằng: “Chú ý lịch sử tâm hồn hơn
là lịch sử sự kiện, nhà văn khao khát tạo ra những công cụ có thể khám phá cái thế
giới bí ẩn bên trong con người. Khắc họa con người bên trong nhân vật qua dòng hồi
ức là một thủ pháp của văn xuôi nghệ thuật đương đại.”
Trên đây là một số ý kiến, bài viết, nghiên cứu về thủ pháp “dòng ý thức” ở
Việt Nam trong những năm gần đây. Nhìn chung đa số các ý kiến đều khẳng định
hiện tượng thủ pháp “dòng ý thức” đang được các nhà văn sử dụng trong việc sáng
tạo nghệ thuật và đạt đến những thành công bước đầu. Nhưng ở đây các tác giả chỉ
6


mới đưa ra những nhận định khái quát chứ chưa đi sâu vào một vấn đề cụ thể, những
bài luận văn chỉ chỉ tập trung một tác giả với một số tác phẩm nhất định. Nhưng tất cả
những gợi mở trên là những tư liệu quý giá để chúng tôi tiến hành nghiên cứu rộng
hơn với đề tài: “Hiện tượng thủ pháp dòng ý thức trong văn xuôi Việt Nam đương
đại”
Đến với đề tài này, chúng tôi rất phấn khởi và tập trung bắt tay thực hiện
nhưng chỉ sợ không đủ tài và tâm để có thể bóc tách những vấn đề quan trọng, nhất là
thời gian cũng hạn chế. Rất mong được sự đánh giá, nhận xét và góp ý quý báu của
thầy cô.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của chúng tôi khi nghiên cứu đề tài “Hiện tượng thủ pháp dòng ý thức
trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam đương đại”:
Thứ nhất, chúng tôi muốn vận dụng những kiến thức đã được học và trau dồi ở
trường Đại học sư phạm Tp.HCM để nghiên cứu một vấn đề lí luận văn học. Và đây
cũng là luận văn tốt nghiệp Cao học.
Thứ hai, chúng tôi muốn đóng góp một chút công sức nghiên cứu nhỏ bé của
mình về sự đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam đương đại thông qua sự ảnh
hưởng của thủ pháp “dòng ý thức” từ phương Tây.

6. Đóng góp của luận văn
Luận văn có một số đóng góp như sau:
Nghiên cứu tìm hiểu một thủ pháp đắc dụng của phương Tây trong việc tái
hiện cuộc sống xã hội và con người một cách độc đáo, đó là thủ pháp “dòng ý thức”.
Phân tích những biểu hiện và sự tiếp thu ảnh hưởng của thủ pháp “dòng ý
thức” trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam đương đại từ phương Tây. Cụ thể khảo sát
qua một số sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Mạc Can, Thuận và Bích
Ngân.
Đánh giá những thành công của thủ pháp “dòng ý thức” vào văn xuôi Việt
Nam thời kì đổi mới.
Gợi mở cho những hướng nghiên cứu tiếp theo về thủ pháp “dòng ý thức”
trong một số tác phẩm văn xuôi nghệ thuật khác.

8


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài hai phần Dẫn nhập và Kết luận, luận văn được sắp xếp thành ba
chương:
Chương 1. Một số vấn đề xung quanh về thủ pháp “dòng ý thức” trong
văn học
Ở chương này gồm ba phần chính:
Phần một, chúng tôi giới thuyết sơ lược về khái niệm, nguồn gốc phát sinh và
một số đặc điểm và chức năng của thủ pháp “dòng ý thức” trong văn học.
Phần hai, chúng tôi khảo sát một số thành tựu tiêu biểu của văn học thế giới khi
vận dụng thủ pháp “dòng ý thức” ở phương Tây như: Người Dubin, Ulysses (James
Joyce), Đi tìm thời gian đã mất (Proust), Sóng (Virginia), Âm thanh và cuồng nộ
(Faulker),…và ở phương Đông như: Linh Sơn (Cao Hành Kiện), Người đẹp say ngủ
(Kawabata Yasunari), Biên niên kí chim vặn dây cót (Haruki Murakami),…
Phần ba, chúng tôi sẽ khảo sát hiện tượng tiếp thu thủ pháp “dòng ý thức” qua

không gian cũng bị xáo trộn theo. Thời gian không gian đồng hiện, hòa trộn quá khứ
thực – tại – tương lai,… là một đặc điểm của thủ pháp “dòng ý thức”. Ở thời gian
nghệ thuật trong tác phẩm chúng tôi trình bày hai vấn đề: thời gian hòa trộn quá khứ hiện tại và thời gian đồng hiện hiện tại. Ở không gian nghệ thuật của tác phẩm, chúng
tôi cũng trình bày hai vấn đề: không gian thực mang màu sắc tâm tưởng và không
gian tâm tưởng qua những giấc mơ.

10


CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ XUNG QUANH VỀ THỦ PHÁP
DÒNG Ý THỨC TRONG VĂN HỌC
Thủ pháp “dòng ý thức” là một thủ pháp, một kĩ thuật sáng tác hiện đại, độc
đáo, tạo thành một trào lưu của nền văn học ở thế kỉ XX. Khi xây dựng tác phẩm thủ
pháp “dòng ý thức”, các nhà văn cố ý vứt bỏ tính nhất quán và hoàn chỉnh của cốt
truyện, không chú ý đến bối cảnh, ngoại cảnh, câu văn không dùng dấu chấm, dấu
phẩy. Các nhà văn sáng tạo nhiều thủ pháp nghệ thuật mới như đảo ngược thời gian,
thời gian đồng hiện, hòa trộn thực hư, hiện tại, quá khứ, tương lai,…Thủ pháp “dòng
ý thức” xuất phát từ phương Tây và đã có những thành công rực rỡ qua những cuốn
tiểu thuyết “dòng ý thức” trước khi “du ngoạn” đến phương Đông. Ở các nước
phương Đông cũng có những thành công nhất định về những tác phẩm văn chương
mang hơi thở thủ pháp “dòng ý thức” như Trung Quốc, Nhật Bản,…Ở Việt Nam
chúng ta chưa có thể loại tiểu thuyết “dòng ý thức” nhưng từ sau 1975 trở lại đây
(văn học thời kì đổi mới) đã có một số biểu hiện của hiện tượng về thủ pháp “dòng ý
thức” và đã đạt được những thành công nhất định cả về nội dung và nghệ thuật.
1.1. Về thủ pháp “dòng ý thức”
Thủ pháp “dòng ý thức” xuất hiện và đem đến cho nhà văn một kĩ thuật mới
trong sáng tác văn chương và làm nên những thành tựu rực rỡ. Và cũng từ đó, giới
nghiên cứu văn học và người đọc đặt ra những câu hỏi: Vậy thủ pháp “dòng ý thức”
là gì và có nguồn gốc từ đâu? Thủ pháp “dòng ý thức” có đặc điểm gì?....
1.1.1. Khái niệm và nguồn gốc phát sinh thủ pháp “dòng ý thức”

có thể đứt nối. Các nhà văn khi viết tác phẩm theo thủ pháp dòng ý thức thường song
hành với những thủ pháp nghệ thuật mới như đảo ngược thời gian, thời gian đồng
hiện, hòa trộn thực hư, hiện tại, quá khứ và tương lai.
1.1.2. Đặc điểm và chức năng của thủ pháp “dòng ý thức”

Thứ nhất, sáng tác văn xuôi theo thủ pháp “dòng ý thức” xác lập nên “trung
tâm ý thức”, ra sức khám phá, biểu hiện chiều sâu tâm lí. Nhà tiểu thuyết tâm lí cho
rằng, tiểu thuyết chủ nghĩa hiện thực truyền thống chú trọng hiện thực bên ngoài,
miêu tả hành vi nhân vật và sắp xếp tình tiết câu chuyện, nhưng lại miêu tả sơ lược
cảm nhận và đời sống nội tâm của nhân vật, điều này không phải là sự miêu tả chân
thực; sự chân thực thực thụ, chân thực cao nhất là tâm hồn của con người, sáng tác
tiểu thuyết nên từ bỏ những nhân tố bên ngoài, lấy chủ quan thay cho khách quan, chỉ
cảm nhận chân thành từ cổ chí kim của tâm hồn con người. Văn xuôi sáng tác theo
12


thủ pháp “dòng ý thức” chia hiện thực thành hai loại: một loại hiện thực giản đơn,
bên ngoài, đồng nhất, khách quan, ví dụ như một vườn hoa, một phòng ăn, giống
nhau trong mắt mỗi người; một loại hiện thực khác là riêng biệt, phức tạp, bên trong,
chủ quan, ví dụ như ấn tượng mà vườn hoa, nhà ăn ở trên trong mỗi cá nhân đều rất
riêng biệt, điều này mới là chân thực duy nhất, cơ bản. Vì thế, đối tượng trung tâm
miêu tả của thủ pháp “dòng ý thức” là ý thức của con người, chú trọng biểu hiện quá
trình ý thức, hoạt động tâm lí, bao gồm trạng thái tâm lí thông thường và trạng thái
tâm lí khác thường, từ đó mà làm hiện lên tiềm thức của nhân vật.
Virginia Woolf nói: “Nếu như nhà văn là người tự do, không phải là nô lệ, nếu như
anh ta có thể tùy theo ý thích của mình mà bỏ qua việc khư khư ôm lấy cái cũ, nếu
như anh ta có thể lấy cảm nhận cá nhân mà không phải là bắt chước truyền thống
làm căn cứ cho công việc của mình, thì sẽ không có những loại niềm vui hoặc hoạn
nạn của tình yêu, hài kịch, tình tiết do ước định tạo thành, hơn nữa có lẽ cũng không
có những phương thức cố định đó. Cuộc sống cũng không phải là chiếc kính tốt được

sự trải nghiệm cuộc sống mấy chục năm từ 18 tuổi đến 52 tuổi. Vậy trên phương diện
kết cấu, tác giả không tuân theo kết cấu từ quá khứ đến hiện tại của sáng tác văn xuôi
truyền thống mà là lấy những điều tai nghe mất thấy trong hiện tại làm một điểm, để
cho “dòng ý thức” của nhân vật từ điểm này không ngừng tiến lên phía trước hoặc
nhảy về phía sau, dòng ý thức và hoạt động tâm lí của nhân vật trở thành sợi dây kết
cấu.
Thứ ba, biểu hiện nghệ thuật rõ nhất của thủ pháp “dòng ý thức” phần lớn là
vận dụng độc thoại nội tâm, và liên tưởng tự do,… Độc thoại nội tâm là thủ pháp
sáng tác biểu hiện nội tâm, tình cảm, thể nghiệm của nhân vật tiềm tàng trong những
tầng thứ mà ngôn ngữ nhiều khi bất lực, có thể là một tầng, có thể là nhiều tầng phức
tạp. Liên tưởng tự do là thủ pháp biểu hiện nghệ thuật của từ và tư tưởng trong đó
một từ hoặc một tư tưởng làm vật dẫn tạo ra một hệ thống quan hệ có thể có logic
hoặc không có logic. Thủ pháp “dòng ý thức” dùng để biểu hiện quá trình ý thức và
hoạt động tâm lí của nhân vật, đặc biệt là để biểu hiện tiềm thức nhân vật, phần lớn
dùng thủ pháp biểu hiện nghệ thuật là độc thoại nội tâm và liên tưởng tự do…biểu
hiện ra tình cảm nội tâm, thể nghiệm, liên tưởng của nhân vật. Ví dụ như Uylixo
của James Joyce đã dành bốn mươi trang của chương cuối cùng để viết về độc thoại
nội tâm miên man không dứt và hoàn toàn không có tiêu điểm của nhân vật.

14


Thứ tư, thủ pháp “dòng ý thức” cũng có nét đặc sắc trong việc vận dụng ngôn
ngữ. Thông thường, ngôn ngữ văn xuôi truyền thống đại đa số phù hợp với quy tắc
ngữ pháp và logic lí tính, thông qua sự chỉnh lí, tổ chức hành vi con người, nhưng
văn xuôi sáng tác theo thủ pháp “dòng ý thức” hướng tới biểu hiện chiều sâu ý thức
nhân vật, biểu hiện tinh thần cảm xúc phiêu hốt, bấn loạn, biểu hiện một cách sinh
động, chân thực ý thức, đặc biệt đặc điểm của tiềm thức, nên khi vận dụng ngôn ngữ
cũng thường là không phù hợp với quy phạm ngữ pháp, thiếu logic lí tính, thậm chí
hỗn loạn, đảo lộn. Thủ pháp “dòng ý thức” thuần túy trong một số sáng tác ở phương

tích tâm lý… là những kỹ thuật tiêu biểu của tiểu thuyết “dòng ý thức”. Nhà văn đã
sử dụng phương pháp nội quan, lấy cảm xúc cá nhân và trực giác nhạy bén làm cách
thức khám phá và phản ánh thực tại khách quan vào trong tác phẩm nghệ thuật.
Các nhà văn tiêu biểu cho văn học “dòng ý thức” là Proust với Đi tìm thời
gian đã mất, Virginia Woolf với Sóng, James Joyce với Ulysses, Faulker với Âm
thanh và cuồng nộ… Mỗi nhà văn có những sáng tạo riêng trong việc biểu đạt “dòng
ý thức”, ví dụ ở Proust: “cốt truyện tan ra để tái kết lại phục vụ cho một kết cấu thời
gian tâm lí” [6; 530], còn ở Faulknet “sự khai triển và liên kết các chủ đề với nhau
theo đủ kiểu làm đảo lộn mọi trật tự thời gian đến mức dường như truyện kể vừa biểu
hiện những gì đến đâu là thường lại chôn vùi, nhận chìm ngay đến đấy” [6; 530].
Trong số đó, thành công nhất là James Joyce với tác phẩm Ulysses. Ulysses la
câu chuyện xảy ra trong một ngày – ngày 16 tháng 6 năm 1904, xoay quanh ba nhân
vật: Leopold Bloom, vợ Leopold Bloom và Stephen Dedalus. Sử dụng kĩ thuật “dòng
ý thức”, câu chuyện diễn ra với cấu trúc song song của những sự kiện chính trong
hành trình trở về nhà của Odyssey. Bloom đã thực hiện cuộc hành trình dưới trần thế
của mình, đấu tranh trước những thử thách thường ngày, trong một ngày bình thường.
Cuốn tiểu thuyết dõi theo những khoảnh khắc hành động và suy nghĩ, ẩn ức, tưởng
tượng của Bloom, vợ anh ta – Molly và Stephen Dedalus trong một ngày trọn vẹn ở
Dublin. Được xem là trung tâm và đỉnh cao của văn học “dòng ý thức”, Ulysses đã đi
đến cùng những khả năng nghệ thuật của xu hướng này: sự nghiên cứu đời sống nội
tâm con người kết hợp với sự xói mòn ranh giới tính cách, sự phân tích tâm lý đôi khi
trở thành mục đích tự thân.
Văn học Âu Mỹ sau Thế chiến thứ hai đã chứng kiến sự nở rộ của thủ pháp
“dòng ý thức” ở những mức độ khác nhau trong sáng tác của trường phái “tiểu thuyết
mới” (Nouveau roman) ở Pháp: Michel Butor, Nathalie Sarraute…, trong loại tiểu
16


thuyết "đề tài nhỏ" ở Anh: Anthony Powell, Paul Johnson…, trong thể nghiệm tiểu
thuyết tâm lý học ở Cộng hòa Liên bang Đức: Uwe Johnson, Alfred Andersch…



bản thân cuộc sống, mà là tuân theo hình ảnh phản chiếu của cuộc sống tâm linh mọi
người, trải qua sự nhấm nháp nghiền ngẫm nhiều lần nơi tâm linh con người, trải
qua những ký ức, lắng đọng, hoài niệm, quên lãng rồi lại hồi ức lại” [35; 40]. Sự
thành công của Vương Mông ở chỗ tiểu thuyết “dòng ý thức” của ông không phải là
bản sao của phương Tây. Ông chỉ vận dụng thủ pháp “dòng ý thức” của văn học hiện
đại phương Tây còn đời sống và tư tưởng là hoàn toàn của Trung Quốc. Tiểu thuyết
“dòng ý thức” của Vương Mông thậm chí còn được xem là tiểu thuyết “dòng ý thức”
phương Đông. Nối tiếp sau thành công của Vương Mông trong việc vận dụng thủ
pháp “dòng ý thức” là hàng loạt tên tuổi đã tạo được tiếng vang không chỉ trong
phạm vi Trung Quốc như Thiết Ngưng với Những người đàn bà tắm, Vương An Ức
với Trường Hận ca, Mạc Ngôn với Tửu quốc, Rừng xanh lá đỏ,…
Một thành công rực rỡ của việc vận dụng thủ pháp “dòng ý thức” trên văn
đàn Trung Quốc là kiệt tác Linh Sơn của Cao Hành Kiện. Linh Sơn của Cao Hành
Kiện ra đời đánh dấu sự xuất hiện của một “kì thư” trong nền văn học Trung Quốc
cũng như một kiệt tác trong nền văn học nhân loại. Linh Sơn với sự đột phá về
phương diện nghệ thuật đã “mở ra nhiều nẻo đường mới cho nghệ thuật tiểu thuyết
Trung Quốc” [49; 647]. Mọi tìm tòi, thể nghiệm về một hình thức tiểu thuyết mới
trong Linh Sơn đều là sự nỗ lực, tâm huyết của một trái tim luôn sục sôi khát vọng
tìm hiểu bản thân và cuộc sống, khát vọng đi tới tận cùng hiện thực thế giới tâm hồn
con người cùng sự tìm tòi một kĩ thuật viết mới nhằm chuyển tải hiện thực này một
cách tự nhiên nhất. Khát vọng đó càng trở nên mãnh liệt đối với các văn nhân Trung
Quốc sau “mười năm động loạn” – mười năm cách mạng văn hóa. Trong số những
thủ pháp độc đáo làm nên sự đột phá của Linh Sơn, có thể nói, “dòng ý thức” là thủ
pháp hiện đại nhất, thể hiện sự ảnh hưởng của kĩ thuật viết phương Tây nhất nhưng
cũng lại là thủ pháp thể hiện trọn vẹn đời sống, tư tưởng, linh hồn dân tộc Trung Hoa
nhất. Cao Hành Kiện đã khéo léo vận dụng thủ pháp “dòng ý thức” để khai thác triệt
để những phức tạp, bí ấn trong nội tâm con người tương thông với đời sống dân tộc,
cộng đồng trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

chuyển tiếp thể hiện rõ ở nhiều phương diện: đề tài, cảm hứng, các phương thức nghệ
thuật và qui luật vận động của văn học. Ở nửa cuối thập kỉ 70, những năm liền ngay
sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, khuynh hướng sử thi vẫn
được tiếp tục nhưng mờ nhạt dần với những tiểu thuyết, kí sự, hồi kí về chiến tranh,
19


tiêu biểu như: Họ cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi), Tháng Ba ở Tây Nguyên
(Nguyễn Khải), Năm 75 họ đã sống như thế nào (Nguyễn Trí Huân), Đất trắng
(Nguyễn Trọng Oánh), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu),…
Tất nhiên bên cạnh việc tiếp tục mảng đề tài lịch sử, tái hiện, khai thác “dữ
liệu” từ cuộc kháng chiến chống Mĩ oanh liệt, văn xuôi sử thi sau 1975 cũng có
những khác biệt nhất định so với trước. Nhà văn có tâm thế, điều kiện để nhìn lại quá
khứ, phân tích lí giải những chiến công rạng rỡ cũng như thấm thía những mất mát
đau thương - hệ quả tất yếu của chiến tranh mà trước đây họ phải tạm quên đi hoặc né
tránh. Một số cây bút cũng đã kịp thời phản ánh những bộn bề sau cuộc chiến, có
niềm vui, hạnh phúc, được đoàn tụ, được tự do, được sống trong hòa bình, nhưng
cũng có không ít những khó khăn, phức tạp, thậm chí cả những mâu thuẫn xung đột
trong cuộc sống ở một đất nước mới hồi sinh, thống nhất (Những khoảng cách còn lại
- Nguyễn Mạnh Tuấn, Miền cháy - Nguyễn Minh Châu,...). Bước vào những năm đầu
thập kỉ 80, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn chồng chất và
rơi vào khủng hoảng ngày càng trầm trọng. Văn học cũng chững lại, không ít người
lâm vào tình trang bối rối mất phương hướng trong sáng tác. Họ vẫn chưa thoát khỏi
quán tính của dòng chảy văn học thời trước, lúng túng trước một hiện thực mới,
không còn chiến tranh, không còn tiếng súng, không còn máu đổ nhưng cũng không
kém phần cam go, phức tạp muôn dạng hình, cùng với những đòi hỏi mới của người
đọc. Nhưng đây cũng là thời điểm “lửa thử vàng” của những người cầm bút. Những
tìm tòi, trăn trở, suy tư thầm lặng mà mãnh liệt ở một số nhà văn có tấm lòng và ý
thức trách nhiệm cao về nghề đã góp phần mở ra cho văn học nói chung và tiểu
thuyết nói riêng những hướng tiếp cận mới với hiện thực nhiều mặt, đặc biệt là cái

hội qua việc thay đổi các giá trị và lối sống (Tướng về hưu, Không có vua,…). Những
góc khuất lấp đáng sợ, tàn ác, lạnh lùng của con người, những mảng tối phơi bày
nhức nhối như một lời thức tỉnh. Tiếp tục hướng tiếp cận đời sống trên bình diện thế
sự - đời tư đã được mở ra ở nửa đầu những năm 80, nhiều cây bút đã đi vào thể hiện
những khía cạnh của đời sống cá nhân và những quan hệ thế sự đan dệt nên cuộc
sống đời thường phức tạp.
So với những tác phẩm văn học trước đây, văn học giai đoạn này mang một
nhiệt tình phê phán dữ dội hơn rất nhiều. Tuy vậy, cảm hứng phê phán có lúc cũng
đẩy tới cực đoan, lệch lạc, nhiều cây bút bộc lộ một cái nhìn ảm đạm, hoài nghi. Sự
xuất hiện cảm hứng sự thật, quả thực là một tất yếu nhưng cũng là điều tất yếu mà
21


văn học phải vượt qua để tìm đến những chiều sâu mới. Người đọc chờ nhà văn qua
những vận động xã hội phức tạp đó đưa đến cho họ những tổng kết nhân văn sâu sắc,
lâu dài.
Từ cuối những năm 90 đến nay, trong xu thế ổn định của xã hội, văn học về cơ
bản cũng trở lại với những quy luật mang tính bình thường nhưng vẫn kiên trì đi theo
định hướng đổi mới đã hình thành từ những năm 80. Nếu như trước đó, động lực
thúc đẩy văn học đổi mới là nhu cầu đổi mới xã hội và khát vọng dân chủ, thì khoảng
mười năm trở lại đây, văn học quan tâm nhiều hơn đến sự đổi mới của chính nó. Vấn
đề đặt ra không còn là viết cái gì mà là viết như thế nào, như có người đã nói: “sáng
tạo nghệ thuật trước hết là sáng tạo hình thức”. Sự đổi mới này thể hiện trên nhiều thể
loại của văn học. Trong thơ, những cách tân theo hướng hiện đại đã thu hút được
nhiều cây bút thuộc các thế hệ khác nhau: Lê Đạt (Bóng chữ), Trần Dần (Cổng tỉnh,
Mùa sạch), Dương Tường (36 bài tình), Nguyễn Quang Thiều (Sự mất ngủ của
lửa),...Gần đây một số cây bút trẻ đã can đảm dấn thân tìm tòi những thể nghiệm mới
từ hình thức đến nội dung, nhiều khi đầy táo bạo trong hướng đi sâu vào những khát
vọng thầm kín, mãnh liệt, thành thực phơi bày trên trang giấy (Đồng Đức Bốn, Phan
Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Nguyễn Hữu Hồng Minh,….).

nghệ thuật được các nhà văn sử dụng, đặc biệt là thủ pháp “dòng ý thức”. Nhà nghiên
cứu văn học Nguyễn Đăng Điệp nhận xét: “Ở Việt Nam, cũng từng có một số nhà
văn miêu tả dòng ý thức của nhân vật một cách tinh tế như Nguyễn Khải, Nguyễn
Minh Châu, Ma Văn Kháng,… Truyện ngắn Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu
cũng có thể được coi là một trong những thể nghiệm đầu tiên của thủ pháp “dòng ý
thức”. Nhưng với những cây bút này, kĩ thuật dòng ý thức chỉ tồn tại như một thủ
pháp nghệ thuật có tính cục bộ. Phải đến Nỗi buồn chiến tranh thì kĩ thuật dòng ý
thức mới được vận dụng một cách triệt để, trở thành nguyên tắc nghệ thuật chi phối
cách tổ chức kết cấu nhân vật” [16; 401]. Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, được
các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam ghi nhận là một sự đóng góp nổi bật trong việc
ý thức đổi mới cách viết trong tiểu thuyết hướng đến dòng tâm tư nhân vật thể hiện
chiều sâu nhân vật. Xem đây như là một trường hợp của kiểu tiểu thuyết “dòng ý
thức” và đã được bạn đọc, những giới nghiên cứu quan tâm. Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh là một nỗi bật đáng ghi nhận cho loại tiểu thuyết “dòng ý thức” đã
manh nha và phát triển ở Việt Nam.

23


Trích đoạn Sự tiếp thu thủ pháp “dòng ý thức” Tầm quan trọng của cốt truyện Thủ pháp “dòng ý thức” trong việc tạo dựng không gian nghệ thuật Không gian hiện thực có mang màu sắc tâm tưởng Không gian tâm tưởng của những giấc mơ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status