Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học VN đương đại [2/2]
Đoàn Cầm Thi
Sau Nguyễn Minh Châu, Dương Hướng là nhà văn phân tích thành công những tình
cảm tế nhị do chiến tranh nảy sinh. Truyện ngắn "Hương hoa gạo" (1992)[6] kể về
mối tình thầm kín, mơ hồ - hai chữ "tình yêu" không bao giờ được tác giả dùng một
cách trực tiếp - của một người đàn bà góa - má Sâm - với Sơn - một người trong đám
lính trẻ tình cờ ghé qua làng.
Để thấy tính phức tạp của nó, chỉ cần xem Dương Hương cho người đàn bà đó nói về Sơn -
"mạnh mẽ như hổ, trán cao thông minh (…) đôi mắt sáng như ngọc, da hơi đen. Đàn ông da đen
càng quý..." Không thể coi là ngây thơ thái độ của bà dành cho Sơn, từ việc hứa gả con gái, rồi
thầm mong Quế yêu Sơn, ao ước được là Quế - "má không ngờ nó lại lớn mau và xinh xẻo đến vậy
(…) Đêm má nằm bên, mùi da thịt nó thơm phức như hương nếp đầu mùa...”, đến sự chờ đợi bồn
chồn, tuyệt vọng - "chúng nó vẫn chưa về!" Nhưng chính trong Bến không chồng, thứ tâm lý đặc
biệt đó được Dương Hướng đẩy đến tận cùng: ở đây, loạn luân
[7]
không chỉ là ý nghĩ mà biến
thành hành động. Vạn, một chiến sĩ Điện biên, trở về làng và nhận nuôi bé Hạnh, con gái của một
đồng đội đã hy sinh, và Nhân, người đàn bà mà anh yêu nhưng không dám cưới. Hai mươi năm
sau, khi chồng Hạnh trở về từ chiến trường chống Mỹ, vinh quang nhưng bất lực, Hạnh đến với
Vạn trong một đêm thác loạn: "Da thịt đàn bà nần nẫn trong vòng tay và hơi thở đầy dục vọng
phả vào mặt Vạn. (…) Vạn buông thả cho thân xác tự do gây tội lỗi, tự do rên xiết trên thân thể
rừng rực của người đàn bà. Lần đầu tiên trong đời Vạn thấy sung sướng cực độ và quên hẳn
mình”
[8]
. Hạnh bỏ làng rồi nhiều năm sau trở về với đứa con đã có với Vạn và ngay sau đó chứng
kiến một bi kịch mới: xấu hổ, nhục nhã, Vạn đã tìm cho mình cái chết. Trong Bến không chồng và
Cỏ lau, những người đàn ông tham gia chiến tranh thường khắc khổ, cô đơn, bất lực, mất khả
năng đem lại hạnh phúc cho người mình yêu, không có con hoặc chạy trốn trách nhiệm làm cha.
Trong Nỗi buồn chiến tranh
[9]
, chiến tranh, tình yêu, tình dục sẽ được Bảo Ninh khai thác trong
Diễm. Ngay từ ngày đầu yêu Thản, khi "săm soi" cái vỏ đạn, kỷ vật của Nẫm, Diễm thấy “bóng
dáng người anh chồng lấp ló". Khi yêu Thản, Diễm thường nghĩ đến Nẫm: “Hai chúng tôi nằm
trên đồi lau (…) Ecmơlin của anh! - Thản thầm thì gọi. Nẫm vẫn biệt vô âm tín, mặc tôi phụ
Thản". Đêm trở dạ sinh con đầu lòng, Diễm thấy Nẫm trở về: “một người đàn ông (…) ngó tôi từ
trên trần nhà. Hắn nhìn khuôn mặt võ vàng của tôi, rồi nhìn lướt xuống bụng, nơi cái cuống rau
vừa bị cắt còn lòng thòng thò ra chỗ sinh nở (…) Tôi nhận ra Nẫm (…) Tôi thèm nhìn thấy người
đàn ông đã rờ vào cuống rau thò ra ở chỗ sinh nở của tôi. Trong giây phút, tôi quên hết, quên
Thản (…) Tôi đắm đuối với hình ảnh người đàn ông kia đang mân mê cái cuống rau, như thể anh
ta đã thò vào sờ nắm những mạch máu ly ti chảy trong cơ thể tôi mà tình yêu của Thản chỉ chạm
tới chứ không nắm được". Trước mắt Diễm, Nẫm hiện lên cụ thể, chính xác: “đeo một phù hiệu ở
ve áo, đỏ nhờ, khuy áo vỡ hai cái, một cái sứt chỉ sắp tuột“. Dường như Nẫm có mặt trong cuộc
sống hàng ngày của Diễm: “Anh ngồi trên cao, mắt cười u buồn ngó mông lung ra cửa, ra vườn".
Tác phẩm của Võ Thị Xuân Hà đặc biệt mới vì tính phức tạp của nó: tình yêu của Diễm với Nẫm
là sự chồng chéo của hoang tưởng, hành xác, loạn luân, gian thi chứng - chứng thích giao cấu với
người chết. Trong Đàn sẻ ri bay ngang rừng, ái ân hay lâm bồn, dù trong thời bình, đều là những
trận hành lạc nhuộm màu chết chóc và sực mùi súng đạn: “Khẩu súng trong tay Thản run lên (…)
Tôi thèm khát được nhìn thấy, sờ thấy từng tế bào máu li ti chảy rần rật trong từng mao mạch, tưới
khắp cơ thể người đàn ông nằm cùng tôi (…) Mặt trời ngả màu đỏ bầm, màu máu chúng tôi trộn
lẫn máu sẻ”.
Giống như Thai của Cỏ Lau, qua những đứa con, Diễm muốn thực hiện giấc mơ hàn gắn: nối
chiến tranh và hoà bình, quá khứ với hiện tại, người chết với người sống. Không phải tình cờ khi
Võ Thị Xuân Hà để cho Nẫm hiện về trong mỗi lúc Diễm sinh con. Cũng không phải ngẫu nhiên
mà sau lần đi tìm xác Nẫm không thành, Diễm có thai để cho ra đời “hai thằng cu kháu khỉnh (…)
hai đứa con trai, hai cuống rốn lòng thòng”.
Quay lại với Cỏ Lau. Các nhân nhật chính đều có một cuộc sống tình dục không hề đơn giản,
ngay cả Quảng, người chồng mới của Thai. Đau khổ vì ghen tuông, cái nhìn của Quảng đặt lên
Thai là cái nhìn yêu thương nhưng dò xét. Không thế không đọc thấy ở Quảng những thoả mãn
đến từ thống khổ. Quảng hả hê vì bị hành hạ – “Tôi càng âu yếm, chiều chuộng lại càng bị ghét.
Thậm chí đôi khi (Thai) còn có vẻ căm thù tôi”(NMC,595), khoan khoái vì được thổ lộ điều đó với
chính tình địch của mình – “Nó là cả một nỗi khổ tâm của riêng tôi, mà nhục nhã ! Bởi vì tôi cứ
vào bụi đuổi theo con vượn. Anh ta đang ngơ ngác nhìn ngược nhìn xuôi thì "phốc" - một đôi tay
từ đâu đã ghì chặt lấy cổ và sau gáy anh vang lên tiếng cười man dại lúc nãy...”. Sau vài khoảnh
khắc lo sợ, Hiên – một người lính từng trải và nhạy cảm, chợt hiểu rằng các nữ chiến binh đã mặc
“bệnh cười”, thứ bệnh tâm lý vì thiếu vắng đàn ông. Quay lại với cuộc sống thường ngày, các cô
gái sống trong tủi hổ và từ đó, nơi các cô sống mang tên “Rừng cười”. Vài tháng sau, bị địch tấn
công, gần như tất cả các cô gái - Thảo lại một lần nữa thoát hiểm - đã “dành viên đạn cuối cùng
cho mình để tránh ô nhục”.
Trở về Hà Nội, Thảo vào đại học, gặp lại người yêu xưa nhưng đắm chìm trong quá khứ và kỷ
niệm Trường Sơn. Khi đoán Thành đã yêu một người con gái khác, trẻ đẹp hơn mình, nhưng vẫn
gặp cô vì "nghĩa vụ", Thảo muốn giải thoát cho anh bằng cách bịa ra những bức thư của một
người tình mới gặp: “Cứ mỗi chiều thứ bảy, Thảo lại lên văn phòng khoa nhận về một phong thư
dày cộm với dòng chữ nắn nót đề ngoài "Thương yêu gửi em Mạc Thị Thảo". Thành dần tin là
thật”. Đêm tân hôn của Thành, Thảo bỏ những bức thư ra đọc và nghĩ đến anh. Trong Thảo, bên
cạnh nỗi điên loạn, là hờn ghen, cay đắng và nuối tiếc: cô nuối tiếc đã không nếm được hạnh
phúc xác thịt… Tiếng cười “khanh khách” của Thảo làm các cô gái cùng phòng cho rằng Thảo bị
điên. Mang cô đi trạm xá cấp cứu, họ về đọc những “bức thư” nằm vung vãi trên giường và khám
phá ra sự thật – trong một bức thư Thảo viết: “Từ nay, tôi sẽ viết cho tôi (…) Vô duyên quá !
Nhưng không thế, Thành sẽ không yên tâm từ bỏ tôi (…) Các đồng đội của em ! Cứ yên nghỉ ở
Rừng Cười (…) Em sẽ khiến cho Thành mãi mãi là chàng hoàng tử hào hiệp của chúng ta”. Đọc
thư, Thành chạy đến trạm xá, tìm kiếm khắp nơi nhưng không gặp, cuối cùng ở lại Hà Nội sống
với người vợ trẻ. Năm năm sau, Thành tiếp tục chìm đắm trong hối hận và mong chờ.
Ở Võ Thị Hảo, dấu ấn của chiến tranh thường được hình tượng hoá qua nụ cười "méo mó, man
dại". Đánh mất cái cười tự nhiên, con người đánh mất chính bản thân mình. Trong truyện ngắn
Hồn trinh nữ, một chinh phụ cay đắng phát hiện ra rằng người nàng yêu, quá say sưa với máu và
chém giết, không còn biết cười: “Nàng van vỉ: ‘Hãy mỉm cười đi anh! Em van anh đấy! Hãy cười
lên để em thấy anh của ngày xưa (…) Người chống cố hết sức để mỉm cười. Đã lâu lắm rồi anh
không làm cử chỉ đó nên bây giờ anh không biết bắt đầu một nụ cười như thế nào (…) cố gắng để
mỉm cười, trông anh lại thêm vẻ dữ dằn đe dọa của một con sói. Ngay lập tức, vợ anh co rúm
lại...”
[14]