Tiểu thuyết tư liệu trong văn học việt nam đương đại trường hợp “hồi ức lính” của vũ công chiến và “rừng đói” của nguyễn trọng luân - Pdf 60

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGÔ THANH HẰNG

TIỂU THUYẾT TƯ LIỆU
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI:
TRƯỜNG HỢP “HỒI ỨC LÍNH” CỦA VŨ CÔNG CHIẾN
VÀ “RỪNG ĐÓI” CỦA NGUYỄN TRỌNG LUÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Thái Nguyên – 2019

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGÔ THANH HẰNG

TIỂU THUYẾT TƯ LIỆU
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI:
TRƯỜNG HỢP “HỒI ỨC LÍNH” CỦA VŨ CÔNG CHIẾN
VÀ “RỪNG ĐÓI” CỦA NGUYỄN TRỌNG LUÂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm
ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn
học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo
đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên
hướng dẫn Lê Thị Ngân đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời
gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã
giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên,30 tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn

Ngô Thanh Hằng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC……………………………………………………………………..…………..iii

MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ....................................................................... 3

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Trong suốt những năm tháng hào hùng của hai cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hình tượng người lính đã trở thành chủ
thể và đối tượng sáng tạo chủ yếu của văn học Việt Nam. Đã có rất nhiều áng
văn, thơ viết về người lính - những con người quả cảm, dám hy sinh thân mình
để giành độc lập, tự do cho dân tộc, làm nên những trang vàng trong lịch sử
nước nhà. Chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm, nhưng đề tài người lính vẫn là
mạch nguồn cảm hứng được nhiều nhà văn, nhà thơ tiếp nối. Những năm tháng
của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cả dân tộc tưng bừng khí thế “đường ra trận
mùa này đẹp lắm”. Lý tưởng, hành động của lớp lớp thanh niên ngày ấy là
“Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”. Vì độc lập tự do của Tổ
quốc, tất cả đều hướng ra tiền tuyến, quên đi tất cả những toan tính riêng tư,
những suy nghĩ cá nhân vì chiến thắng cuối cùng, không sợ hy sinh, gian khổ
và bom đạn của kẻ thù. Tập trung khai thác vẻ đẹp anh hùng của người lính
thông qua những trang viết của mình, các nhà văn đã làm sống dậy âm hưởng
sử thi hào hùng của cả một thời đại “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Mà lòng
phơi phới dậy tương lai”. Họ đã xây dựng các nhân vật điển hình của mình với
những hình ảnh trong bối cảnh chiến đấu chống lại bom đạn ác liệt của kẻ thù,
thể hiện những xúc cảm, tình yêu và tình đồng đội gắn bó. Các nhà văn đã sống,
đã viết về đề tài chiến tranh với cái “ nhìn nghiêng” về cuộc chiến với những
ánh hào quang chiến thắng vì thế nhân vật trung tâm cũng mang những âm
hưởng sử thi anh hùng ca rất rõ nét. Từ sau năm 1975, cũng là lúc các nhà văn
viết về chiến tranh và người lính với cái nhìn đa chiều hơn và đề cập được
những mặt còn khuất lấp của hiện thực, tính cách và tâm hồn con người mà
trước đó, vì những lí do khác nhau họ chưa có dịp khai thác triệt để, thấu đáo.
Viết về chiến tranh của văn học Việt Nam đương đại là mảng đề tài được nhiều
nhà văn khai thác: Nguyễn Minh Châu với tác phẩm Cỏ lau cũng đã đưa ngòi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN


sát, thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 76, Sư đoàn 304. Trước khi xung phong lên
đường nhập ngũ, tác giả Nguyễn Trọng Luân nguyên là sinh viên Khoa Cơ khí,
Đại học Cơ điện. Sau kháng chiến, Nguyễn Trọng Luân công tác trong ngành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




3

Thép. Ông viết như để ghi lại kỉ niệm đời lính của mình và đồng đội. Viết như
một sự tri ân cho những đồng đội ngã xuống. Trong suốt quãng thời gian viết
văn của mình tuy xuất bản thành sách không nhiều nhưng từng cuốn sách
Nguyễn Trọng Luân viết về quan điểm, góc nhìn của mình và được bạn bè trong
giới văn học công nhận. Nổi bật nhất trong số tác phẩm của Nguyễn Trọng
Luân phải kể đến Rừng đói, một cuốn tiểu thuyết phi hư cấu. Không phải là
những trang giấy tràn đầy đau thương, mất mát, nhuốm đầy những máu, mà ở
Rừng đói, hiện thực chiến tranh tàn khốc được nhìn dưới một góc nhìn khác.
Góc nhìn của chính người lính còn sống và trở về viết lại. Ở góc nhìn này, ta
thấy được những người lính rất lạc quan, dí dỏm và hài hước trong những câu
chuyện ở Rừng đói mang đậm dấu ấn của những người lính sinh viên.
1.4. Tính đến thời điểm hiện tại có khá nhiều bài báo viết về hai tác phẩm Hồi
ức lính và Rừng đói. Nhưng vẫn chưa có bài nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu
về hai tác phẩm từ đặc trưng của thể loại tiểu thuyết tư liệu. Đặc biệt trong đề
tài chiến tranh vẫn còn nhiều góc nhìn mới mẻ để khai thác dựa trên thể loại
tiểu thuyết này. Vì lý do đó, chúng tôi chọn đề tài: Tiểu thuyết tư liệu trong
văn học Việt Nam đương đại: Trường hợp “Hồi ức lính” của Vũ Công Chiến
và “Rừng đói” của Nguyễn Trọng Luân để đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Một số tác phẩm cùng thể loại

bằng cách kể lại tất cả những gì mình và đồng đội đã trải một cách chân thực nhất
có thể, sinh động lạ lùng. Hạnh phúc cho anh, và may mắn cho người đọc. Là hồi
ức nhưng có rất ít trữ tình ngoại đề, ít khoảng lặng trong sách. Các nhân vật cứ ào
ào cuốn đi trong những cuộc tác chiến, lập chốt giữ chốt, trinh sát, tiềm nhập, diệt
thám báo, đoạt chiến lợi phẩm, ca cóng... Luôn chân luôn tay làm cái gì đó, nói
điều gì đó, bộc lộ tính cách, số phận, phơi trần những mảng hiện thực sáng tối của
chiến tranh. Cả phía mình lẫn đối phương. “Biết có sống đến mai mà để củ khoai
đến sáng”, nên không thể phí hoài…Hồi ức lính không phải tiểu thuyết mà hoàn
toàn phi hư cấu. 700 trang nếu chẻ nhỏ ra, sẽ được vô số truyện ngắn không đụng
hàng bất cứ ai. Cả cuốn sách là nguồn tư liệu, là gợi ý cho bất cứ bộ phim dài tập
về chiến tranh nào.
- Hồi ức lính – Chiến tranh không phải trò đùa của Anh Sa [29] có đoạn:
“Tác giả viết với giọng văn chân thật, giản dị nhưng đầy sống động. Qua đó,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




5

cuộc sống chiến trường, hình ảnh người lính hiện lên một cách chân thực, đời
thường và con người nhất. Nhà văn Bảo Ninh chia sẻ trong một bài viết rằng ai
muốn viết sách, làm phim về chiến tranh thì phải đọc Hồi ức lính, để hiểu từ
cách ăn, cách mặc, cách nói chuyện, cầm súng cho đến tinh thần của họ. Tác
phẩm được đánh giá như kho tư liệu đầy giá trị cho lịch sử, văn học, điện ảnh...
Ở đó, không có sự màu mè, ở đó đúng là cuộc sống người lính như vốn dĩ. Tác
giả bảo ông viết để nhiều người thấy rằng không phải cứ lính chiến trở về là
"lính bàn giấy" mà họ đã sống thật, chiến đấu thật và để một phần tuổi trẻ có
thật của họ lại chiến trường.”
- Trương Cộng Hòa tác giả bài báo Muộn còn hơn không – nhân đọc

đột vũ trang. Đây là một cuốn sách hay và cảm động, cho thấy chính xác những
quyết định tệ hại ở Washington đã dẫn tới những quyết định sai lầm trên chiến
trường - tấn thảm kịch đối với những người lính trên mặt trận. “Liệu chiến tranh
đã kết thúc khi những đứa trẻ lớn lên không có cha mẹ? Tôi đã từng gặp những
thanh niên Việt Nam và Mỹ lớn lên với một khoảng trống mênh mang bởi họ
chưa từng được biết cha mẹ mình. Nỗi đau và sự xáo trộn trong họ là hết sức
rõ nét dù hàng thập kỷ đã trôi qua” [15].
- Mùa chinh chiến ấy là những mảng hồi ức của nhà văn – chiến binh
Đoàn Tuấn về anh và đồng đội trong cuộc chiến biên giới Tây Nam – một
cuộc chiến tranh bắt buộc ngay sau ngày thống nhất nước nhà. Chiến trường
K giai đoạn cuối năm 1978 đến giữa những năm 1980 là nơi bộ đội Việt Nam
phải đối mặt với một kẻ địch nguy hiểm, liều lĩnh và môi trường xa lạ, khắc
nghiệt hơn cả hai cuộc kháng chiến trước đó. Trong bối cảnh âm thầm mà
khốc liệt của gần 40 năm về trước ấy, truyện đưa người đọc theo dấu chân
tuổi 18 của nhân vật “tôi” – người lính sư đoàn 307, đi tới tận những miền
rừng núi heo hút xứ người. Đó là cuộc hành quân dài hàng ngàn cây số: từ
Pleiku, theo đường 19 tiến về hướng Tây, để đẩy lùi và tiêu diệt tàn quân
Khmer Đỏ ở vùng Đông - Bắc Campuchia. Đoàn Tuấn viết trong sáng, tự
nhiên, nhưng khi cần cũng không hề né tránh những mảng gai góc của hiện
thực [35].
2.3. Nghiên cứu tổng quát tác phẩm của Vũ Công Chiến và Nguyễn Trọng Luân
Đã có khá nhiều bài phê bình, đánh giá về các tác phẩm của Vũ Công
Chiến và Nguyễn Trọng Luân. Điều đó chứng tỏ sáng tác của họ đã chiếm được
sự quan tâm của giới phê bình văn học và công chúng yêu nghệ thuật.
Với Vũ Công Chiến, ông bắt đầu viết văn từ khoảng 2008 đến giờ. Đầu
tháng 11/2013 ông bắt tay vào viết Hồi ức lính và bắt đầu nổi tiếng sau khi cuốn
Hồi ức lính được xuất bản năm 2016 đạt được giải thưởng “Tiểu thuyết đầu tay
xuất sắc” của Hội Nhà văn Hà Nội. Vẫn lối viết giản dị, mộc mạc Vũ Công
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN


- Chọn đề tài “Tiểu thuyết tư liệu trong văn học Việt Nam đương đại:
Trường hợp “Hồi ức lính” của Vũ Công Chiến và “Rừng đói” của Nguyễn
Trọng Luân”, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nào đó vào việc tìm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




9

hiểu về quan điểm sáng tác, nhìn nhận về chiến tranh từ góc nhìn của người
trong cuộc. Qua đó, thấy được những đóng góp của thể loại tiểu thuyết tư liệu
mà tác giả Vũ Công Chiến và Nguyễn Trọng Luân đã mang lại cho văn học
Việt Nam đương đại.
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Từ đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết tư liệu, tìm hiểu về hình ảnh người
lính trong chiến tranh qua điểm nhìn của người trong cuộc với hai tác phẩm
Hồi ức lính và Rừng đói.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã
sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp hệ thống: Đặt Hồi ức lính và Rừng đói trong bức tranh
tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh của văn học Việt Nam đương đại, để thấy
những điểm chung của thể loại văn học đề tài chiến tranh. Phát hiện điểm nhìn
mới mẻ của Vũ Công Chiến và Nguyễn Trọng Luân trên các bình diện: tình
huống, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu.
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này nhằm làm nổi bật những đặc
trưng riêng trong hình ảnh người lính từ truyện Hồi ức lính với hình ảnh người
lính của Rừng đói.

tranh ở Việt Nam.
- Thêm một góc nhìn về chiến tranh và người lính từ những người trong
cuộc qua thể loại tiểu thuyết tư liệu (tiểu thuyết phi hư cấu).
- Qua đó đánh giá được những đóng góp của tác giả Vũ Công Chiến và
tác giả Nguyễn Trọng Luân với văn học Việt Nam đương đại nói chung và với
đề tài chiến tranh nói riêng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




11

NỘI DUNG
Chương 1
TIỂU THUYẾT TƯ LIỆU
TRONG NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1. Khái niệm tiểu thuyết tư liệu
Tiểu thuyết tư liệu, còn gọi là tiểu thuyết không hư cấu, dựa vào những
chứng cứ lịch sử kết hợp với sáng tác văn học .Tác phẩm dựa trên nền tảng là
một cuốn hồi ký, chỉ thay thế lời kể bằng cách hành văn của tiểu thuyết, một số
tư liệu lịch sử đã công bố. Toàn bộ nhân vật, sự kiện, chi tiết… đều là sự thật
được lấy từ các tài liệu do chính các nhân vật thực hiện (bản tường trình, hồi
ký, tờ khai…), tác giả chỉ bổ sung vào đó những đoạn đối thoại, diễn biến tâm
lý… mà ngay cả những điều đó cũng là dựa vào tư liệu lịch sử. Có thể coi đây
là thể loại tiêu biểu cho sự kết hợp giữa văn chương và lịch sử, là một tài liệu
nghiên cứu lịch sử khá nghiêm túc.
Tiểu thuyết tư liệu được cho là hình thành sau chiến tranh thế giới thứ
hai. Từ những bí mật trong chiến tranh, đến diễn biến của các chiến dịch. Lý

lần in sau nếu cuốn sách có được may mắn đó”. Qua đó càng chắc chắn rằng
muốn viết được tiểu thuyết tư liệu, trước hết phải có tư liệu.
1.2. Tiểu thuyết tư liệu trong dòng chảy văn học Việt Nam sau 1986
Tiểu thuyết là "tác phẩm tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số
phận một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó; sự trần thuật
ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để
truyền đạt "cơ cấu" của nhân cách" [1, tr.131].
Từ sau năm 1986, nền văn học Việt Nam nói chung và tiểu thuyết viết
về lịch sử nói riêng đã có sự vận động, đổi mới và phát triển trong điều kiện
hoàn toàn khác biệt so với những năm tháng đất nước còn chiến tranh. Dưới tác
động của các yếu tố mang tính thời đại như: nền kinh tế thị trường, sự bùng nổ
của các phương tiện thông tin, nhu cầu trong thị hiếu tiếp nhận, giao lưu tương
tác giữa các nền văn hóa cũng như văn học trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Sự
đổi mới trong tư duy tiểu thuyết còn thể hiện ở việc các sáng tác đã khắc họa
con người là một bản thể tự nhiên, khác biệt so với tiểu thuyết giai đoạn trước
luôn đề cao phần ý thức xã hội mà quên đi phần tự nhiên. Đặt trong tương quan
với các nhà tiểu thuyết thời kỳ trước thì các nhà văn viết tiểu thuyết ngày nay
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




13

đã từ bỏ được lối nhìn một cách phiến diện, chủ quan về đời sống và con người.
Bùi Việt Thắng viết trong Tiểu thuyết đương đại “vì con người, vì tất cả những
gì con người trải nghiệm và mong muốn” [34, tr.8]. Chính việc đổi mới và sáng
tạo trong không gian văn hóa mới đã tạo nên những tiền đề quan trọng để mỗi
tác giả giải phóng lối mòn về tư duy viết xưa cũ. Mà ngày nay họ có cách viết
phiêu lưu trong bút pháp, thể nghiệm trong nghệ thuật tự sự tạo nên bức tranh

của các nhà văn sáng tạo về đề tài lịch sử. Nhiều nhà văn đề xuất những cách
nhìn mới về lịch sử, mở ra cái nhìn đa chiều đối với nhiều thời đại trong quá
khứ. Từ đó suy ngẫm và giải mã những vấn đề trước đây còn bỏ ngỏ, đi tìm lời
giải đáp cho các câu hỏi của hiện tại. Trong tiểu thuyết lúc này lịch sử trở thành
cảm nhận, diễn ngôn cá nhân, được nhà văn nhìn nhận dưới cái nhìn triết học
và tiếp nhận trên tinh thần nhân văn hiện đại.
Đóng góp cho nền văn học nước nhà hiện nay, nhiều tác phẩm không chỉ
mang lại những giải thưởng cao quý cho nhà văn mà còn trở thành món ăn tinh
thần thú vị thu hút sự quan tâm, bàn luận của giới phê bình văn học cả nước
cũng như sự tò mò khám phá của độc giả. Đến nay thể loại tiểu thuyết này vẫn
đang không ngừng vận động và phát triển, mang lại những đổi mới, cách tân về
lối viết và những hình thức diễn ngôn mới về lịch sử.
Tuy chiến tranh đã lùi xa, đất nước hoàn toàn giải phóng và dân tộc ta
được sống trong hòa bình. Nhưng hơn ba thập kỷ trôi qua dư âm của hai cuộc
chiến tranh vẫn còn đó, cháy âm ỉ trong tiềm thức. Đặc biệt với những người
từng trực tiếp đi qua chiến tranh hay những người lớn lên cùng tiếng bom đạn.
Vì lẽ đó chiến tranh từ trước đến nay vẫn được coi là “siêu đề tài”, là mảnh đất
màu mỡ với các tác giả.
Nguyễn Minh Châu viết "rất nhiều cuộc đời của những con người bình
thường nhưng chứa đựng số phận của cả đất nước, chứa đựng cả một bài học
lớn về đường đời, đang cần ngòi bút của nhà văn soi rọi trên trang giấy" [3].
Nhà văn Xô Viết Bôn-da-rep đã viết: “Chiến tranh là một chấn động lớn
nhất trong đời sống xã hội của loài người, là một thử thách lớn khôn lường đối
với nhân dân, và do đó các nhà văn sẽ luôn tìm đến đề tài chiến tranh. Đặc biệt
là những nhà văn đã từng nghe tiếng súng máy rít trên đầu và đã không phải
một lần đau nỗi đau mất mát” [2].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




quả ghê gớm của chiến tranh để lại, hủy diệt sự sống, tình yêu và nhân cách
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




16

con người và những di chứng của nó trong Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh.
Đến bi kịch ngày trở về với xóm làng quê hương của người lính trong Bến
không chồng – Dương Hướng. Đọc Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai lại là nỗi ám ảnh
với chiến tranh, người lính sau cuộc chiến cố gắng quên đi quá khứ và chối bỏ
chính mình, chối bỏ cả những đồng đội đã từng sống chết bên nhau. Hay như
Tàn đen đốm đỏ - Phạm Ngọc Tiến là tình đồng chí, đồng đội, những cái chết
rùng rợn, tội ác của kẻ thù, sự cao thượng của người lính cách mạng. Những
nhân vật thuộc phe ta không còn hiện lên như những con người được lý tưởng
hóa, không còn là sự kết hợp cả nét đẹp về ngoại hình, về tính cách, tâm hồn,
về thành phần xuất thân, mà họ là những con người bình thường, họ cũng có
những khuyết điểm, những sai lầm. Bên cạnh đó, nhân vật thuộc phe địch cũng
không phải những con người xấu toàn diện, mà họ cũng là những con người
bình thường, trong chiến trận biết xông pha, trong đời thường cũng có tình cảm
đôi lứa, tình cảm gia đình hay cũng có tâm hồn lãng mạn. Bằng góc nhìn đa
chiều hơn một số nhà văn đương đại cho rằng kẻ thù của chúng ta ở bên kia
chiến tuyến cũng có một số nét tính cách tích cực, có những người cũng suy tư,
có khát vọng hòa bình và có lý tưởng khi cầm súng. Họ không phải là những
kẻ khát máu, điên cuồng trong cuộc chiến, nhưng họ thất bại vì thiếu chính
nghĩa. Tiểu thuyết tư liệu về đề tài chiến tranh nổi lên như một khuynh hướng
có triển vọng. Một loại tiểu thuyết nhưng không phải hư cấu, bởi vì sử dụng
những tư liệu của lịch sử hoặc của cá nhân.Sáng tác mang tính chủ quan nhưng
tư liệu mang tính khách quan. Nhưng cũng có trường hợp đôi khi người viết áp

về chiến tranh kết hợp yếu tố tư liệu. Tiểu thuyết tư liệu đã đào sâu hơn nữa
những yếu tố đời sống cá nhân thuộc về đời tư, bản ngã tự nhiên của con người
như góc khuyết của văn học giai đoạn trước nay đã được lấp đầy.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




18

TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Tiểu thuyết tư liệu viết về chiến tranh đã thể hiện một quan niệm không
đơn giản xuôi chiều về con người, từ khát vọng khám phá con người ở nhiều
thang bậc giá trị, đến những tọa độ ứng xử khác nhau, ở nhiều chiều hướng
khác nhau.
Con người cá nhân của người lính trong thời khắc chiến tranh vẫn luôn
ẩn chứa những điều tốt đẹp làm cho họ muốn được sống, được hưởng thụ.
Nhưng không phải họ để những nhu cầu bản năng đó làm họ chùn bước trước
kẻ thù. Nói như Chu Lai: “Chiến tranh chính là điều kiện, là tình huống để đẩy
mạnh cái suy nghĩ đời thường lên một đỉnh điểm” [17, tr.179]. Và văn học qua
thể loại tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh đã hé mở để khai thác cái mạch
ngầm bên trong ấy một cách đầy đủ hơn. Bộ mặt trần trụi của chiến tranh và số
phận khốc liệt của con người trong hiện thực đã đi đến cùng cái bi kịch của nó.
Cách lý giải về con người cá nhân ở những góc độ xã hội và tự nhiên ẩn sâu
trong cả những góc khuất tâm linh đã đưa đến cái nhìn về chiến tranh thời hậu
chiến đầy chân thực. Tiểu thuyết chiến tranh thời hậu chiến suy cho cùng không
còn là khúc ca ngân dài của bản anh hùng ca chiến trận, thay vào đó các nhà
văn đang cố “bóc gỡ” một mặt trái về chiến tranh sâu sắc hơn, phơi bày lên trên
trang giấy những góc cạnh khác nhau của chiến tranh qua những số phận cá

trường Nam Lào và mặt trận B3 Tây Nguyên là khoảng thời gian tuy không dài
nhưng: “Đó là phần đời dữ dội, có sức ám ảnh rất lớn. Đó là “món nợ” tinh thần
của anh đối với đồng đội. Nó buộc anh phải ghi lại và chia sẻ. Để những người
lính thế hệ anh nhớ lại và tự hào về những năm tháng mình đã sống, đã hy sinh,
chiến đấu vì đất nước. Để thế hệ sau có được một hình dung đầy đủ hơn chiến
tích của một thời và cái giá của những ngày đang sống hôm nay” [4, tr.7] - như
lời PGS.TS Lưu Khánh Thơ viết tựa cho cuốn Hồi ức lính. Có lẽ vì thế mà khi
chiến tranh đã lùi xa, gần 60 tuổi, ông mới bắt đầu đặt bút cẩn thận ghi chép lại
những câu chuyện về khoảng thời gian hào hùng mà bi tráng ấy.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




20

Đọc Hồi ức lính của Vũ Công Chiến ngay từ đầu người lính sinh viên
vẫn mang nét hồn nhiên, tinh nghịch ấy đã lên đường hành quân với tâm thế
“nhất xanh cỏ, nhì đỏ ngực” . Họ - thế hệ đông đảo những người sinh viên đã
cầm súng lên đường chiến đấu mang theo lý tưởng chung của cả dân tộc.
Tác giả Nguyễn Trọng Luân lên đường nhập ngũ khi đang là sinh viên
năm thứ ba khoa Cơ khí, trường Đại học Cơ điện. Trong bốn năm từ 1972 đến
1975 tham gia chiến đấu, với vai trò lính trinh sát bộ binh, ông đã cùng đồng
đội tham chiến “từ rừng tới biển”. Tiểu đoàn của tác giả gồm 4 đại đội sinh viên
từ các trường Đại học như Bách khoa, Mỏ - Địa chất, Y khoa, Nông nghiệp.
Họ hành quân ròng rã vượt Trường Sơn vào tận chiến trường nhưng không
được cầm súng trực tiếp chiến đấu mà trước hết phải làm nhiệm vụ đi mót sắn
bên đất Campuchia tiếp tế cho những đơn vị trực tiếp chiến đấu. Những chàng
lính sinh viên lãng mạn đã trải qua những cơn đói, quần áo bị rách, những cơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status