BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Trần Ngọc Trân
YẾU TỐ TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
THẾ KỈ XVIII – XIX
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Sư phạm Ngữ văn
Thành phố Hồ Chí Minh - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Trần Ngọc Trân
YẾU TỐ TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
THẾ KỈ XVIII – XIX
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Sư phạm Ngữ văn
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐOÀN THỊ THU VÂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2016
1.1. Tính dục và những khái niệm liên quan…………………………………........11
1.1.1. Khái niệm tính dục ........................................................................................ 11
1.1.2. Phân biệt tính dục với tình dục ..................................................................... 12
1.1.3. Ý nghĩa của vấn đề tính dục đối với đời sống – văn hóa – xã hội ................ 12
1.2. Nguyên nhân xuất hiện yếu tố tính dục trong văn học thế kỉ XVIII – XIX…..14
1.2.1.
Bối cảnh chính trị, lịch sử, xã hội, văn hóa ............................................... 14
1.2.2.
Sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người ....................................... 17
1.3. Yếu tố tính dục trong chiều dài lịch sử văn học Việt Nam…………………..18
1.3.1.Bức tranh toàn cảnh về vấn đề tính dục trước và sau thế kỉ XVIII – XIX…..18
1.3.1.1.
Yếu tố tính dục trong văn học dân gian .............................................................. 18
1.3.1.2.
Yếu tố tính dục trong văn học trung đại trước thế kỉ XVIII – XIX .... 20
1.3.1.3.
Yếu tố tính dục trong văn học sau thế kỉ XIX................................................. 22
1.3.2. Đánh giá chung về yếu tố tính dục trong văn học trung đại .......................... 23
CHƯƠNG 2: YẾU TỐ TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC GIAI ĐOẠN THẾ KỈ
Yếu tố sinh thực khí ................................................................................................................ 60
2.3.3.
Vẻ đẹp phụ nữ – Ý thức nữ quyền phát triển ............................................. 67
CHƯƠNG 3: YẾU TỐ TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC GIAI ĐOẠN THẾ KỈ
XVIII – XIX XÉT VỀ MẶT NGHỆ THUẬT…….................................................69
3.1. Ngôn ngữ nghệ thuật………………………………………………………….69
3.1.1. Hệ thống từ ngữ giàu tính hình tượng………………………………………70
3.1.2. Hệ thống từ ngữ giàu tính đa nghĩa…………………………………………74
3.2. Thủ pháp nghệ thuật…………………………………………………………..76
3.2.1. Sử dụng điển tích, điển cố…………………………………………………..76
3.2.2. Các biện pháp tu từ………………………………………………………….78
3.3. Không gian nghệ thuật ……………………………………………………….84
3.3.1. Không gian thiên nhiên……………………………………………………..84
3.3.2. Không gian buồng khuê…………………………………………………….88
3.4. Thời gian nghệ thuật………………………………………………………….90
3.4.1. Thời gian vật lí…………………………………………………………….91
3.4.2. Thời gian tâm lí……………………………………………………………93
KẾT LUẬN………………………………………………………………………95
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………..................97
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thế kỷ XVIII – XIX là một thế kỉ vang dội với nhiều thành tựu rực rỡ về
mọi mặt, trong đó có văn chương. Không thể phủ nhận vị trí của văn học giai đoạn
Theo những nghiên cứu và tìm hiểu của chúng tôi, đề tài về yếu tố tính dục
trong cả một giai đoạn văn học chưa từng được khai thác ở bất kỳ một công trình
nào. Thế nhưng, từ lâu giới nghiên cứu đã nhận ra được sự xuất hiện những yếu tố
này trong các tác phẩm văn học trung đại. Chính nội dung đó là cơ sở dấy lên nhiều
cuộc tranh luận nảy lửa giữa các nhà phê bình. Ví dụ như vấn đề dâm và tục trong
thơ Hồ Xuân Hương, hay vấn đề người cung nữ và những khoái cảm xác thịt trong
Cung oán ngâm khúc,… Tuy còn nhiều bất đồng quan điểm, thế nhưng điểm gặp
gỡ giữa các công trình khảo cứu về vấn đề này chính là việc thừa nhận sự phát triển
đi lên của ý thức cá nhân con người, song hành với sự xuống dốc trầm trọng của
chế độ phong kiến. Những bài nghiên cứu phê bình đã chỉ ra những nội dung có
màu sắc tính dục, phân tích và lí giải khá kĩ lưỡng ở từng tác phẩm trong văn học
thế kỷ XVIII - XIX, từ đó có tính định hướng và giá trị tham khảo cho đề tài của
chúng tôi.
Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII – Hết thế kỷ XIX) của Nguyễn Lộc
là một công trình có giá trị cao đã được xuất bản lần đầu vào năm 1976, 1978 và
chỉnh sửa, bổ sung mới nhất vào năm 2012. Tác giả trình bày quá trình phát triển
của văn học trung đại ở giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của nó với những đóng góp
không chỉ trong nội bộ văn chương mà còn ở tất cả các mảng khác của đời sống
như chính trị, xã hội… Bên cạnh đó, tác giả còn đi vào nghiên cứu những nét chính
về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của các tác gia nổi bật với những tác phẩm nổi
bật. Công trình này đã giúp người viết có được cái nhìn toàn diện về một giai đoạn
văn học nằm trong phạm vi nghiên cứu của mình.
Một số giáo trình như Lịch sử văn học Việt Nam (tập III) do Lê Trí Viễn chủ
biên, Văn học trung đại Việt Nam (tập II) do Nguyễn Đăng Na chủ biên, cũng đã
góp phần củng cố và làm sáng tỏ những đặc điểm đáng lưu tâm trong giai đoạn văn
học trung đại thế kỷ XVIII – XIX. Trong cuốn Về con người cá nhân trong văn học
cổ Việt Nam có bài viết Con người cá nhân trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII –
XIX của Trần Đình Sử, cũng phân tích từng biểu hiện của con người cá nhân trong
ba bộ phận văn học dân gian, trung đại, hiện đại với những tác phẩm tiêu biểu.
Trong đó, khi so sánh với văn học trung đại, tác giả đã làm sáng tỏ được sự tương
đồng lẫn nét khác biệt trong nghệ thuật và nội dung trong việc đưa yếu tố tính dục
vào tác phẩm. Tuy nhiên, số lượng tác phẩm trung đại ngoài thơ Hồ Xuân Hương
chưa nhiều và cũng chưa phân tích toàn diện.
Chinh phụ ngâm cũng là đề tài bàn luận của nhiều học giả nghiên cứu bên
cạnh Cung oán ngâm khúc, tuy nhiên cuộc tranh cãi dường như không gay gắt
bằng. Và đồng thời cũng không có nhiều nhà phê bình nhìn nhận, đánh giá khía
cạnh tính dục trong tác phẩm. Bởi vì khao khát nhục cảm trong tác phẩm không
được thể hiện sôi nổi và trực tiếp như trong Cung oán ngâm khúc. Chinh phụ ngâm
3
khúc giảng luận của Thuần Phong có đoạn viết: “Và đây là bài học của tạo vật, của
tự nhiên:
“Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội
Cũng dập dìu chẳng vội phân trương.
Chẳng xem chim én trên rường
Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau.
Kìa loài sâu hai đầu cùng sánh,
Nọ loài chim chắp cánh cùng bay,
Liễu sen là thức cỏ cây,
Đôi hoa cùng sánh, đôi dây cùng liền.
Ấy loài vật tình duyên còn thế,
Sao kiếp người nỡ để đấy đây?”
Một bài học khá tầm thường chứa chan những ý vị phàm tục, chưa nói đến ý nghĩa
khoa học có chỗ rất khả nghi. Bài học hưởng thụ, bài học khoái lạc chủ nghĩa - chỉ
có thế thôi! Mà lời lẽ cũng chẳng có gì là tha thiết cho lắm (…). Sự yêu cầu hưởng
thụ trong Chinh phụ ngâm lại cũng không có ý vị nồng nàn của nhục dục như trong
Cung oán, hoặc chán chường như trong Truyện Kiều. Ái tình, ở đây, không nghiến
Một số nhà nghiên cứu, phê bình lại đi ngược lại hướng đánh giá này. Điển
hình là nhà phê bình Đặng Thanh Lê. Tác giả đã phê phán yếu tố nhục cảm như
sau: “Tuy nhiên, Cung oán ngâm khúc vẫn có phần chưa lành mạnh. Tràn đầy khúc
ngâm là một không khí nhục cảm. Cung nữ say sưa nói đến những hạnh phúc của
thời kỳ được sủng ái và chủ yếu là khoái cảm xác thịt với những cảm giác đắm đuối
khó tả (…) Hạnh phúc ở đây phiến diện quá, yêu cầu ấy có mặt chính đáng nhưng
quyết không thể là mặt duy nhất, cao nhất của hạnh phúc yêu đương. Tất nhiên,
tâm trạng của cung nữ phần nào được biểu hiện qua nhân sinh quan hưởng lạc của
giai cấp thống trị và quan hệ giữa cung nữ với vua không phải là quan hệ của tình
yêu mà chỉ là quan hệ nhục dục. Nhưng dù sao, cung nữ cũng khác nàng Kiều
trong trắng kiên quyết bảo vệ mối tình đầu tươi đẹp, khác cả người chinh phụ tuy
rạo rực yêu đương nhưng cũng rất kín đáo, tế nhị”. [43,84-85]
Về Truyện Kiều, Trần Đình Sử đã nêu ra những chi tiết có ý nghĩa khơi gợi
những vấn đề liên quan đến tình dục trong tác phẩm này và qua đó bình luận: “Dù
quan điểm đạo đức trong sáng, nhưng Nguyễn Du không hề vì đức hạnh giáo huấn
khắt khe mà bỏ quên yếu tố tình dục, nó là một đặc điểm của thân phận, thân thể
5
nhân vật, đồng thời cũng là một chất men say của cuộc đời. Chính Nguyễn Du đã
gạt bỏ các chi tiết tình dục dung tục để thêm vào những chi tiết tình dục sinh động
gợi cảm làm cho tác phẩm của ông sống mãi với muôn đời”. Tuy có dung lượng
ngắn, vấn đề tình dục của Truyện Kiều vẫn chưa giải quyết rốt ráo, thế nhưng bài
viết cũng đã khơi mở cho nhiều nhà nghiên cứu có thể đi sâu tìm hiểu cái hay, cái
đẹp của nghệ thuật đan cài yếu tố tình dục trong Truyện Kiều hơn. Phan Ngọc trong
Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng khẳng định tình yêu
trong Truyện Kiều trước hết đó là “tình yêu luôn luôn gắn liền với yếu tố thể xác.
Nó nói đến cái rung cảm của xác thịt và ca ngợi cái rung cảm ấy” [27,205-206].
Với thơ Hồ Xuân Hương thì nổ ra cuộc tranh cãi giữa vấn đề dâm và tục. Có
nhận định sắc sảo, xác đáng của tác giả, công trình này là một tài liệu tham khảo vô
cùng hữu ích đối với chúng tôi. Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Nguyễn Viết Ngoạn
về Vấn đề con người cá nhân và cá tính sáng tạo trong sáng tác văn chương
Nguyễn Công Trứ cũng có một phần đánh giá về yếu tố tính dục, hưởng lạc trong
thơ Nguyễn Công Trứ, ông khẳng định: “Nguyễn Công Trứ đã trực tiếp nói đến giá
trị của tình ái với một sự hãnh diện. Cái mới mẻ này của ý thức cá nhân Nguyễn
Công Trứ, chính nhờ yếu tố diễm sắc, diễm tình này. (…) Nguyễn Công Trứ sử
dụng triết lý này để biện hộ cho các hành vi phi Nho, để thế tục hóa, cá thể hóa đời
sống tình ái, đem đến cho nó các giá trị nhân sinh mới, không cần phù phiếm, che
đậy” [26,102-103].
Nhìn chung, chưa có một công trình nào nghiên cứu tổng thể và đặt những
tác phẩm cùng có yếu tố tính dục vào với nhau để phân tích và nhìn nhận trong một
hệ thống. Vì vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài này để có cái nhìn toàn diện
hơn về một giai đoạn văn học với nội dung đầy táo bạo này.
3. Mục đích của đề tài
Nhắc đến văn học thế kỉ XVIII – XIX, nhiều người thường nhắc đến sự lên
ngôi của cái tôi cá nhân với những biểu hiện về tư tưởng, hành động hoàn toàn
khác trước. Họ biết lắng nghe tiếng nói của bản thân mình hơn, chú ý đến những
giá trị thuộc về con người và dám phản kháng lại những thế lực kìm hãm những giá
trị đó. Một trong những biểu hiện cụ thể, có sức thuyết phục trong việc khẳng định
con người cá nhân là yếu tố tính dục. Thông qua luận văn này, chúng tôi mong có
thể nhìn nhận lại sự ảnh hưởng, tác động của yếu tố ấy trong sự xem xét tổng thể
hơn, rộng rãi hơn, ở nhiều tác phẩm hơn để thấy được rằng, yếu tố tính dục không
chỉ manh nha, nhen nhóm ở một vài tác phẩm mà đã trở thành tinh thần chung của
một thời đại văn học sôi nổi và để lại nhiều nguồn cảm hứng cho người đời sau.
Hiện nay, vấn đề tính dục đang là đề tài “hot” trong những tác phẩm văn học.
Các nhà văn, nhà thơ xem nó như một yếu tố của đời sống và không ngần ngại
7
của khóa luận:
8
Thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương theo tập Thơ Nôm Hồ Xuân Hương của
Nguyễn Lộc năm 1982
Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều
Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn
Mã thượng mỹ nhân của Ninh Tốn, Ngã Ba Hạc phú của Nguyễn Bá Lân, Cung
oán thi của Nguyễn Thị Ngọc Vinh, Mẹ ơi con muốn lấy chồng của Lê Quý Đôn
(?), Xem cờ để mãnh phú của Nguyễn Hổ Trừu, Lẳng lơ phú của Phan Văn Ái, Bích
câu kì ngộ, Việt Nam kỳ phùng sự lục,…
Một số bài thơ của Dương Khuê, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến
Một số truyện thơ Nôm: Truyện Kiều, Song Tinh Bất Dạ, Bạch Viên tân truyện,
Phù Dung tân truyện, Phạm Tải Ngọc Hoa, Nữ tú tài, Trinh Thử, Truyện Từ Thức,
Hoàng Trừu, Phạm Công Cúc Hoa…
Đồng thời chúng tôi mạn phép tham khảo những công trình nghiên cứu từ trước tới
nay có liên quan đến vấn đề tính dục trong văn học trung đại thế kỉ XVIII – XIX.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi vận dụng một số phương pháp chủ yếu
sau:
- Hướng tiếp cận thi pháp học: đi vào tìm hiểu yếu tố tính dục trong các tác phẩm
thông qua các biện pháp tu từ, hình tượng,…
- Phương pháp lịch sử xã hội: dựa vào bối cảnh xã hội đương thời và những ảnh
hưởng của văn hóa truyền thống đến tư tưởng tác giả để phân tích giá trị của yếu tố
tính dục trong tác phẩm đó
- Phương pháp so sánh: đặt các tác phẩm có chứa yếu tố tính dục trong tương quan
so sánh để làm nổi bật tình hình nền văn học đương thời cũng như làm nổi bật tác
phẩm cần phân tích.
bản-nguyên về tinh-thần của người – Bản-chất của người – Bản-chất của người
hoặc của vật” [2,706]. Vì vậy, “tính dục 性 欲: Phần tình-dục ở trong tính người –
Nhục-dục ở trong khoảng trai gái (désirs sexuels)” [2,706]
Theo Bùi Ngọc Oánh, “tính dục là toàn bộ những đặc điểm sinh lí cơ thể về
giới tính, được hình thành và phát triển bởi hoạt động của hệ cơ quan sinh dục”
[29,58]. “Tính dục của con người là một hiện tượng sinh vật – xã hội phức tạp, là
sản phẩm của quá trình tác động giữa các yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội. Đời
sống tính dục của con người rất phức tạp, do hoạt động của hệ cơ quan sinh dục
tạo ra, bao gồm nhiều biểu hiện như: sự dậy thì, hiện tượng kinh nguyệt, sự sinh
nở… Trong đó, tình dục chỉ là một hiện tượng của đời sống tính dục nhưng là hiện
tượng rất điển hình, có ý nghĩa lớn đối với nhân cách con người và được nhiều
người quan tâm” [29,58].
Như vậy, tính dục là thuật ngữ dùng để chỉ một yếu tố thuộc về bản năng, sự
đòi hỏi tính dục thuộc về tâm sinh lý của con người. Bên cạnh đó, tính dục còn gắn
liền với phẩm chất, nhân cách, những yếu tố bên trong hoạt động tâm lý của con
người và được thể hiện ra bên ngoài thông qua hành vi ứng xử. Do đó, trong văn
học, nhắc đến tính dục cũng là nói đến những hoạt động tình dục, những yếu tố
thuộc về cơ quan sinh lí của con người đi kèm là những phẩm chất, trạng thái tâm lí
của có ý nghĩa xã hội nhất định, không chỉ đơn thuần là những khao khát xác thịt
tầm thường.
11
Để hiểu rõ hơn về khái niệm này, ta thử so sánh với một khái niệm cùng
trường nghĩa với tính dục là tình dục.
1.1.2.
Phân biệt tính dục với tình dục
Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: Tình dục “sự ham muốn thú nhục
dục” [30,1275]. “Nhục dục” là “lòng ham muốn về xác thịt” thiên về ý nghĩa bản
người đã dồn nén sự khát dục trong bản thân mình, đẩy lùi nó vào miền vô thức và
tiềm thức.
Trong con người bao gồm hai phần không bao giờ tách biệt nhau là phần
CON và phẩn NGƯỜI. Điều đó chứng tỏ rằng, con người không chỉ là một sinh vật
sống cô lập, sống một cách bản năng mà con người chính là sự “tổng hòa những
mối quan hệ xã hội” (Mác). Con người cần phải được giao lưu, tiếp xúc với mọi
người, với xã hội. Thế giới của con người là thế giới của những mối quan hệ chằng
chịt, chồng chéo và gắn kết với nhau. Vì vậy, con người không thể nào chối bỏ
những mối quan hệ tương tác, nhất là quan hệ giới tính. Không một ai có thể và
cũng không được phép ngăn chặn, cấm đoán nó. Bởi vì không chỉ có ý nghĩa trong
đời sống sinh hoạt hằng ngày, sức khỏe, sinh lý của con người mà nó còn có ý
nghĩa xã hội, là điều kiện để duy trì giống nòi và duy trì thế giới loài người khỏi sự
diệt vong.
Hoạt động tính dục là một trong những hoạt động chịu sự chi phối mạnh mẽ
của bản năng nhưng cũng lại là một trong những hoạt động thể hiện tính người
nhất. Khác với động vật, con người là một thực thể văn hoá xã hội, vì vậy hoạt
động tính dục cũng mang tính văn hoá. Văn hóa điều tiết các hành vi tính dục và
các hình thức tác động qua lại giữa các các cặp đôi. Và cũng chính văn hoá đã lập
những rào cản đẩy tình dục vào phạm vi cấm đoán. Các hình thức tín ngưỡng lớn
như Thiên Chúa giáo, Phật giáo… đều phổ biến quan niệm diệt dục và xem tình
dục là một hoạt động tội lỗi. Hồi giáo cũng áp đặt những quy định khắt khe để
chống đối lại sự gợi cảm của người phụ nữ: phụ nữ phải che kín toàn thân, không
được để lộ bất kì một phần thân thể nào (kể cả chân và tay) trước mặt đàn ông.
Ở Việt Nam, tính dục có lẽ vẫn còn là vấn đề cấm kị với nhiều người bởi dân
tộc ta đã trải qua cả một thời kì trung đại chịu sự ảnh hưởng và chi phối bởi những
tư tưởng bảo thủ, khắt khe của chế độ phong kiến. Nhưng gần đây, với sự phát triển
của công nghệ thông tin và sự giao lưu, mở cửa với thế giới, tư tưởng của nhân dân
ta về vấn đề này có phần thoáng hơn, họ hiểu được rằng nó cũng là một yếu tố đáng
được xem trọng và lưu tâm. Văn hóa tính dục cũng được trao đổi một cách cởi mở
hơn, cốt để nâng cao giá trị sống cho con người.
chiếm đóng bởi giặc ngoại xâm…
Về mặt chính trị, những mâu thuẫn chất chứa từ lâu nay bùng phát dữ dội,
đất nước tuy đã không còn những cuộc nội chiến song tình trạng chia cắt Đàng
Trong – Đàng Ngoài vẫn tiếp diễn, Đàng Ngoài vẫn tồn tại song song vua và chúa.
Sau khi kết thúc cuộc nội chiến với nhà Nguyễn (1672), chúa Trịnh trở thành đại
diện của giai cấp thống trị tối cao lúc bấy giờ. Tuy nhiên, chúa Trịnh đã không làm
tròn bổn phận và trách nhiệm của những người đứng đầu nhà nước. Bắt đầu từ thời
của Trịnh Cương (1709), Trịnh Giang (1729), đất nước ngày càng rơi vào tình
14
trạng thảm hại do sự ăn chơi sa đọa và bất tài trong việc điều hành chính sự của
những con người xa xỉ, chỉ biết hưởng thụ. “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”, chúa
Trịnh suy vi kéo theo bộ máy nhà nước “từ trung ương đến xã thôn đều trở nên hủ
hóa, đồi trụy nghiêm trọng” [20,194]. Ở địa phương, bọn quan lại mặc sức vơ vét,
bóc lột nhân dân bằng thuế khóa nặng nề, thậm chí việc tham ô, bóc lột còn được
tiến hành một cách công khai. Việc mua quan bán chức diễn ra thường xuyên. Bọn
cường hào địa chủ ở xã thôn lợi dụng tình hình ức hiếp dân nghèo bằng những thủ
đoạn tàn độc: “Với uy quyền và lòng gian ác quỷ quyệt, bọn chúng tự do vu oan giá
họa, đổi trắng thành đen, làm cho đời sống của những người nông dân nghèo khổ
lâm vào một tình trạng vô cùng bấp bênh, bị uy hiếp thường xuyên”. [20,196]
Không chỉ Đàng Ngoài mà chính quyền phong kiến của Đàng Trong cũng không
kém hủ bại, chúng ăn chơi, hưởng thụ trên mồ hôi nước mắt của người nhân dân
cùng khổ, “nhà cửa chạm trổ, tường xây bằng gạch đá, trướng vóc màn the, đồ
dùng toàn bằng đồng bằng sứ, bàn ghế bằng gỗ đàn, gỗ trắc (…), yên ngựa dây
cương đều nạm vàng bạc, áo quần là lượt, nệm hoa chiếu mây, (…) [Họ] coi vàng
bạc như cát, thóc gạo như bùn, hoang phí vô cùng”. [20,245]. Từ bộ máy chính
quyền như vậy, nền kinh tế nông nghiệp lâm vào khủng hoảng kéo dài.
Kinh tế nông nghiệp bị kìm hãm trầm trọng. Do bị tước đoạt, chiếm giữ
Sang đến thế kỉ XIX, tình hình chính trị nhà Nguyễn cũng u ám, xám xịt.
Chính trị thối nát, vua chúa ăn chơi sa đọa, xây lăng tẩm tốn kém tiền của, bổng lộc
triều đình ban phát cho những người trong cung vua một cách phung phí, làng xã
hoành hành nạn cường hào ác bá, đời sống nhân dân đói khổ. “Công lý là một món
hàng mua bán, kẻ giàu có thể công khai sát hại người nghèo vì tin chắc rằng, với
tiền, lẽ phải là về tay chúng” [20,485]. Hơn nữa, nền kinh tế nông nghiệp, công
thương nghiệp cũng kiệt quệ, các mặt của đời sống không được chăm lo đúng mức
dẫn đến suy sụp, thụt lùi so với những tiến bộ, cải cách mà Quang Trung đã thực
hiện trước đó. Nhìn chung, nhà Nguyễn đã từng bước lao xuống vực thẳm cho đến
1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược đã chính thức đánh dấu sự suy bại vô
phương cứu chữa của triều đình phong kiến.
Bức tranh xã hội phong kiến thế kỉ XVIII – XIX thực sự là một bức tranh ảm
đạm, úa màu sau thời kì vàng son rực rỡ. Sự xuống cấp của đời sống bởi những tác
động tiêu cực từ vua chúa, quan lại, từ sự hủ bại của giai cấp lãnh đạo đã dẫn chế
độ phong kiến tồn tại 10 thế kỉ thực sự phá sản. Sống trong không khí của một xã
hội tai ương, nhũng nhiễu, ngột ngạt, xám xịt bởi khói lửa chiến tranh nổ ra từ
những phong trào nông dân khởi nghĩa, cộng thêm sự xâm nhập của nền kinh tế
hàng hóa, của những con người thị dân đã nảy sinh một thế hệ nhà thơ dám cất lên
tiếng nói mới, tiếng nói đại diện cho tầng lớp nhân dân lao khổ. Văn học giai đoạn
16
này vì thế sôi nổi và dân chủ hơn. Văn học đã thực hiện được nhiệm vụ là người
thư kí thời đại của mình, đã nói lên được nỗi đau của người dân trong cảnh loạn lạc
của đất nước. Đồng thời sự suy vi của những giá trị cố hữu bảo thủ kéo theo bởi sự
sụp đổ của chế độ phong kiến đã hình thành trong văn học những chủ đề đề tài mới
mẻ, thiết thân với đời sống cá nhân. Tuy còn nằm trong khuôn khổ của văn học
phong kiến ở một số khía cạnh, song so với những giai đoạn trước, văn học thời kì
này đã mở ra nhiều hướng mới về nội dung và nghệ thuật. Con người với những
của dân tộc, đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, cái ta nhấn chìm cái tôi trong mỗi
con người. Con người được đề cao là những con người thoát tục, những kẻ sĩ kiên
trung, đầu đội trời chân đạp đất. Đó là những hình tượng “nặng mùi đạo mà nhẹ
mùi đời” [34,218]. Con người bị hòa lẫn vào trong cộng đồng, bản ngã không có cơ
hội bộc phát một cách rõ nét. Vì vậy, cả một giai đoạn văn học trước thế kỉ XVIII,
yếu tố cá nhân hầu như không phải là đặc điểm rõ nét trong văn học, chỉ đặc biệt là
thế kỉ XVI, con người cá nhân mới được bộc phát song cũng chỉ mới manh nha,
nhìn chung chưa mạnh mẽ và còn ở trong vòng cấm cung.
Phải đến thế kỉ XVIII, khi vấn đề vận mệnh dân tộc không còn là yêu cầu
bức thiết nữa, mà vấn đề chính là vận mệnh nhân dân, là số phận con người, số
phận cá nhân thì con người mới được thức tỉnh. Giai đoạn này con người luôn sống
trong tâm trạng lo âu, phấp phỏng, sầu buồn, họ chìm trong triền miên đau khổ bởi
nhiều nguyên nhân, mà nguyên nhân sâu xa là các thế lực thống trị. Chính vì vậy
chưa bao giờ hình tượng con người cá nhân xuất hiện trong văn học nhiều như thế.
Trong giai đoạn nhà nước phong kiến trượt dài trên cái dốc suy thoái, con người cá
nhân với ý thức cá tính, tài năng với nhu cầu tự khẳng định và khát vọng mãnh liệt
về tự do, tình yêu, hạnh phúc lại là hình tượng trung tâm của các tác phẩm chứa
đựng tinh thần nhân văn cao cả. Sự chuyển biến từ chỗ đặc biệt quan tâm đến hình
tượng con người công dân đến chỗ đặc biệt quan tâm đến hình tượng con người cá
nhân thể hiện rõ nét phong trào phục hưng của văn học Việt Nam giai đoạn này.
1.3.
Yếu tố tính dục trong chiều dài lịch sử văn học Việt Nam
1.3.1.
Bức tranh toàn cảnh về vấn đề tính dục trước và sau thế kỉ XVIII XIX
1.3.1.1. Yếu tố tính dục trong văn học dân gian
“Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động,
ra đời từ thời công xã nguyên thủy, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong các
chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại ngày nay” [19,7]. Chính vì
văn học dân gian là sản phẩm của đời sống, chiết tinh từ những mặt gần gũi thân
thuộc của đời sống qua cách cảm, cách nghĩ của nhân dân lao động nên văn học
Hay:
Ông nằm dưới trỏ ngóc lên. Bà nằm trên rên hừ hừ (Là cái gì?)
Hay hình ảnh Thị Mầu trong chèo cổ ẩn chứa những khao khát tính dục trong
những câu hát, điệu múa sôi nổi:
19