Con người cá nhân trong văn học việt nam thế kỷ XVIII - Pdf 24

Con người cá nhân trong văn học Việt Nam Thế kỷ XVIII
Họ Trịnh diệt Mạc xác lập ngôi chúa từ 1592 cho đến khi bị Tây Sơn diệt, đã cầm quyền
thống trị ngót 200 năm ; Tây Sơn khởi quân đánh Nguyễn, diệt Trịnh, đuổi quân xâm lược
nhà Thanh, thống nhất bờ cõi rồi bị nhà Nguyễn diệt, thời gian trong khoảng 25 năm (1789
– 1802). Đó là những năm xã hội suy đồi, kỷ cương đổ nát, chiến tranh Nam Bắc liên miên
suốt thế kỷ XVII, chiến tranh chống ngoại xâm, diệt Trịnh, Nguyễn, nông dân khởi nghĩa
suốt thế kỷ XVIII. Đạo lý, luân thường không còn theo khuôn thước, hơn thua tuỳ vào sức
mạnh từng phe. Thế kỷ XIX là thế kỷ của nhà Nguyễn. Đó là triều đại từng xây dựng quốc gia
hưng thịnh, nhưng cũng nhiều độc đoán, khắt khe, thuế khoá nặng nề ; xây dựng lâu đài,
lăng tẩm xa xỉ ; Nho giáo độc tôn song không còn thiêng liêng ; sự xâm nhập của tư bản
phương Tây và xâm lược của thực dân Pháp càng thúc đẩy chế độ phong kiến suy tàn. Đó là
thời đại khiến con người cá nhân thức tỉnh, tự khẳng định mình bằng mọi cách, mà trước hết
là các giá trị cá nhân. Khi bộ cánh luân thường đã rách bươm, danh phận mờ mịt, con người
cá nhân, cá thể hiện ra trần trụi. Chúa lấn vua, giết vua, chúa anh giết chúa em, bề tôi lột
vàng, lột áo chúa thượng. Số phận con người trở nên mong manh, yếu đuối hơn bao giờ hết,
nhất là số phận của người phụ nữ. Một dòng tư tưởng thương người, xót thân nổi lên, bên
cạnh khuynh hướng sáng tác hưởng lạc và trào phúng. Một thế hệ người tài tử ngang tàng,
sống ngoài khuôn phép, trở thành nhân vật của một loạt giai thoại cũng là bằng chứng của
con người cá nhân.
Nếu đứng ở lập trường ý thức hệ thì có thể nói đó là một sự suy đồi. Nhưng nếu xét ở quá
trình ý thức con người trong văn học Việt Nam thì thấy một hiện tượng tiến bộ. Trước kia,
cùng với sự hình thành văn học viết, con người được ý thức qua các hệ ý thức, qua các khái
niệm, giáo lý một cách gián tiếp. Quá trình tự ý thức cá nhân ở đây gắn với quá trình sụp đổ
của các khái niệm giáo lý, sự phai nhạt của hào quang, của thánh hiền, do đó mang tính chất
là một cuộc phát hiện lại, một sự thể nghiệm lại. Đây cũng là quy luật chung của ý thức cá
nhân trong văn học trung đại các dân tộc nói chung.
I
Con người cá nhân với niềm lo sợ tuổi trẻ chóng tàn
trong Chinh phụ ngâm (thế kỷ XVIII)
Khác với cá nhân tinh thần cao ngạo thể hiện trong thơ văn thế kỷ XVI với Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Nguyễn Hãng, những con người có thể trốn đời, ẩn dật ở ngoại thế, ngoại vật, con

Giấc mộng “chim liền cánh”, “cây liền cành”, “kiếp sau” trở thành vô nghĩa. Tất cả đều cho
thấy một cá nhân vật chất, trần thế duy nhất đang được ý thức, mọi huyễn hoặc siêu nghiệm
đều đáng ngờ. Chữ “dục” hạnh phúc thầm kín, khó nói nhất xưa nay, bị khinh bỉ nhất của
con người, nay đã được nói to lên bằng ngôn ngữ của tự nhiên như một cái quyền chính
đáng, nhân danh âm dương, tạo hoá :
Kìa loài sâu đôi đầu cùng sánh,
Nọ loài chim chắp cánh cùng bay.
Liễu sen là thức cỏ cây,
Đôi hoa cùng sánh đôi dây cùng liền.
Cá nhân rõ ràng chưa ý thức mình như một nhân tố có quyền của xã hội người. Nó chỉ mong
được tồn tại như mọi vật của tạo hoá, như chim muông, côn trùng, cây cỏ. Đó chẳng phải là
phần đáng thương nhất của thân phận con người hay sao ? Trong tư tưởng Nho giáo, con
người không có gì là riêng của mình, từ thân thế, tài sản cho đến danh phận, bổng lộc đều là
của cha mẹ hay vua ban. Giờ đây con người ý thức một cái gì là của riêng mình mà mình phải
biết giữ gìn thì mới còn được. Đó cũng chẳng phải là một phát hiện lại về con người hay sao ?
Nho giáo chủ trương một lý tưởng lập thân để được bất hủ, không cùng nát với cỏ cây. Nay
con người tự thấy mình cùng một chất với cỏ cây, muốn hưởng cuộc đời vốn dễ hư nát, tàn lụi
ấy, chẳng phải là một phản tư (reflexion) đó sao ? “Gác khói”, “đài lân”, “kiếp sau” đều trở
thành hão huyền, xa lạ. ý thức cá nhân làm con người không tin vào cái vĩnh viễn, họ chỉ tin
vào lúc này, kiếp này, thân này. Đó là một bước ngoặt trong quan niệm con người trong văn
học Việt Nam.
II
Giá trị hư ảo, vô nghĩa của cá nhân con người trong Cung oán
ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798)
Cung oán ngâm khúc đặc biệt đau đớn với tính chất hư ảo, biến hoá của giá trị con người.
Tính chất biến ảo vô thường của con người và thế giới đã được biết đến từ lâu. Nếu là nhà
thiền học họ sẽ khuyên ta biết phá vật – ngã lưỡng chấp, bài trừ vọng niệm để được giải thoát
và thanh thản tâm hồn. Nhưng con người trần thế đã ý thức được mình là thực tại, vì thế biến
ảo mới đau lòng.
Người cung nữ là một biểu trưng cho giá trị tài – sắc, có quyền được hưởng mọi điều kiện

áo vũ kia lấp ló trong trăng.
Sênh ca mấy khúc vang lừng,
Cái thân Tây tử lên chừng điện Tô.
Hoặc :
Khi ấp mận ôm đào gác nguyệt,
Lúc cười sương cợt tuyết đền phong.
Đoá lê ngon mắt cửu trùng,
Tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng xiêu.
Vẻ vưu vật trăm chiều chải chuốt,
Lòng quân vương chi chút trên tay.
Má hồng không thuốc mà say,
Nước kia muốn đổ, thành này muốn long.
Vườn Tây uyển khúc trùng thanh dạ,
Giải Lân xuân điệu ngả Đình hoa.
Thừa ân một giấc canh tà,
Tờ mờ nét ngọc, lập loà vẻ son.
Con người nhân danh nhu cầu hoà hợp âm dương phổ quát có từ trong Kinh dịch :
Kìa điểu thú là loài vạn vật,
Dẫu vô tư cũng biết đèo bòng.
Có âm dương có vợ chồng,
Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê
([1])
.
Vậy con người không phải oán trách “con tạo”, “cái quay”, “trẻ tạo hoá”, “trời” mà là trách xã
hội người.
Xét theo Phật học thì nên diệt dục diệt khổ, chứ không nên oán. Xét theo Nho học thì con
người sao thoát khỏi mệnh trời. Không oán người, không trách trời, an phận thì vô sự.
Nhưng Nguyễn Gia Thiều đã làm ngược lại. Ông miêu tả cảnh hành dục không như một tội
lỗi kiểu Truyền kỳ mạn lục mà như một niềm kiêu hãnh, sung sướng. Cả ở đây con người cá
nhân cũng xuất hiện như một phát hiện lại, đi ngược giáo lý.

ép
([3])
. Nói chung hiện tượng công khai các ám ảnh tình dục trong văn học đều có mấy nguyên
nhân : Một là chủ nghĩa cấm dục kéo dài phản tự nhiên, giả dối khiến người ta phản ứng ; hai
là đời sống tình dục thực tế bị ức chế, không thoả mãn ; ba là tình cảm sùng bái sinh thực khí
nguyên thuỷ. Ngoài ra cũng chú ý tính thời thượng của mỗi thời.
ở Việt Nam, chịu ảnh hưởng Nho giáo, tư tưởng “nam nữ hữu biệt”, “nam nữ thụ thụ bất
thân”, để lộ thân thể bị xem là ô nhục. Tư tưởng cấm dục của Tống Nho càng khắc nghiệt và
giả dối. Cuộc sống truỵ lạc trong cung đình, tướng phủ thời ấy đã quá tai tiếng, tương phản
gay gắt với đạo đức phong kiến. Tuy vậy, số phận đặc biệt với nhiều thiệt thòi trong cuộc đời
tình duyên đã để lại dấu ấn thiếu thốn, không thoả mãn sâu đậm trong tâm tình của Hồ
Xuân Hương. Nhưng cái chính ở chỗ bà là một cá tính mạnh mẽ, ngang tàng, dám nói cái
mà đời ít người dám nói trong thơ. Vì vậy thơ bà thể hiện chân thực tình cảm của bà :
− Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,
Sau giận vì duyên để mõm mòm.
Tài tử văn nhân ai đó tá ?
Thân này đâu đã chịu già tom !
(Tự tình III)
− Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tý con con !
(Tự tình II)
− Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng,
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.
(Tự tình III)
− Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc,
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi !
(Khóc ông Phủ Vĩnh Tường)
− Chàng Cóc ơi, chàng Cóc ơi !

Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo…
(Đèo Ba Dội)
− Đá kia còn biết xuân già dặn,
Chả trách người ta lúc trẻ trung.
(Đá ông chồng bà chồng)
− Thú vui quên cả niềm lo cũ,
Kìa cái diều ai nó lộn lèo.
(Quán Khánh)
Nhà thơ không xem cái lẳng lơ là lẳng lơ, không xem cái tục là tục, không xem dâm là dâm.
Tất cả đều hồn nhiên, tự nhiên. Đã đến lúc không nên nói đến cái gọi là dâm và tục trong thơ
bà, mà nên nói đến những ám ảnh tính dục, nhu cầu giải phóng nhãn quan tính dục phong
kiến cổ hủ như một nhu cầu của con người cá nhân. Cũng có người hiểu cái “dâm” trong thơ
Hồ Xuân Hương là biểu hiện của văn hoá phồn thực. Thiết nghĩ hiểu như vậy là đẩy vấn đề
sang địa hạt ý thức tôn giáo, xa lạ với ý thức cá nhân của nhà thơ.
IV
Con người cá nhân cô đơn, xót mình đầy tâm trạng
trong thơ chữ Hán và Truyện Kiều của Nguyễn Du (1766 – 1820)
1. 1813) kêu : “Đến nay tan tành phong cảnh, nát bét quy mô”. Sự xuất hiện của con người cá
nhân trong văn học Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đã được nhiều nhà nghiên
cứu chỉ ra. Phan Ngọc là người đã nêu ra nhiều nhận xét sâu sắc về vấn đề này. Theo ông,
trước hết, mọi người thời này đều cảm thấy xã hội đang tan vỡ, mọi giá trị của nó bị đứt tung,
không phương cứu vãn. Phạm Thái (1777 - Hoàng Lê nhất thống chí nhận xét về Lê Chiêu
Thống : “Nước Nam từ khi có vua đến nay không thấy có ông vua nào hèn hạ như thế”.
Trong điều kiện đó, theo nhà nghiên cứu, cá nhân phải tìm chỗ dựa vào tài của mình. Chữ
“tài“ từ chỗ là một từ kiêng kỵ của thời đại trước, trở thành ý niệm động lực của thời đại mới.
Do đó nét tiêu biểu thứ hai của thời này là mọi người đều ý thức về cái tài của mình, đều
khoe tài và đều đòi hỏi phải đãi ngộ họ xứng đáng với cái tài của họ
([5])
. Phan Ngọc nhận thấy
tất cả những người có thật của thời đại ấy đều khoe tài. Nguyễn Huệ (1752 – 1792), Nguyễn

nhân “vô thân” của con người. ý thức cá nhân càng rõ rệt khi chưa được “nhân thức” (người
khác chưa biết mình), còn “vị ngộ” (chưa gặp được minh chúa), chưa có người “tri kỷ” :
Cao sơn lưu thuỷ vô nhân thức,
Hải giác thiên nhai hà xứ tầm.
(Non cao nước chảy tri âm ai đó,
Góc bể chân trời biết đâu mà tìm).
(Lưu biệt Nguyễn đại lang)
Cá nhân được ý thức trước hết ở khía cạnh thiếu bạn bè – thiếu người đồng chí, đồng cảm,
thân thiết :
− Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ
(Ta có tấc lòng không biết nói với ai)
− Bồi hồi đối ảnh độc vô ngữ
(Bồi hồi đối ảnh một mình không biết nói với ai)
− ỷ biến lan can vô dữ ngữ
(Dựa bên lan can không biết nói với ai)

Thứ đến là ý thức về sự tàn tạ của cơ thể mình – già nua, yếu đuối, bệnh hoạn,… trước sức
công phá của thời gian và thế sự. Cái thân duy nhất của một con người bỗng chốc héo hon,
tàn tạ, tóc bạc, răng long, da mồi. Nhiều nhà nghiên cứu đã chú ý đến việc Nguyễn Du nói
nhiều đến tóc bạc, thân già, đa bệnh. Đó cũng chính là bằng chứng của ý thức cá nhân.
Nhưng ý thức cá nhân thể hiện sâu hơn ở chỗ thấy những giá trị mà mình quý trọng, nâng
niu đã trở nên vô dụng, vô nghĩa :
Mệnh đẳng hồng mao bất tự tri
(Mệnh bằng cái lông mà không biết)
Con người “có tài” bỗng trở nên “bất tài” :
− Thư kiếm vô thành sinh kế thúc
(Sách kiếm đều không thành tựu, không gì mưu sinh)
− Nhất sinh từ phú tri vô ích,
Mãn giá cầm thư đồ tự ngu.
(Một đời từ phú biết là vô tích sự,

Như vậy, khát vọng lớn nhất của con người là được sống trọn vẹn cuộc đời trần thế, không tin
vào những hứa hẹn siêu hình xa xôi. Thể nghiệm cuộc sống cá nhân, Nguyễn Du phát hiện
con người cá nhân rất nhỏ bé. Ông dành chữ “chút” để nói về kiếp người, đời người, tình
người :
− Thì chi chút ước gọi là duyên sau
Thưa rằng− chút phận ngây thơ
− Của tin gọi một chút này làm ghi
− Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là
− Xét nàng chút phận thuyền quyên
− Rằng tôi chút nghĩa đèo bòng
− Chút còn ân ái chưa xong
− Nàng rằng còn chút nghề chơi…
Văn học thời trước thường thấy một cái “ta” mạnh mẽ, cương liệt, to lớn : “Ai hay chẳng hay
thì chớ – Bui một ta khen ta hữu tình (Nguyễn Trãi), “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ – Người
khôn người đến chốn lao xao (Nguyễn Bỉnh Khiêm),… Đó là vì con người được đồng nhất
với Đạo, dựa vào sức mạnh của Đạo. Nguyễn Du nhìn người như một cá nhân tách
khỏi Đạonên hiểu rõ cái nhỏ bé của nó trước cuộc đời.
Thể nghiệm cuộc sống cá nhân, Nguyễn Du thấy mọi cá nhân đều có chỗ yếu đuối và lầm lỗi,
coi đó như một đặc điểm của con người. Hồ Tôn Hiến là một đại thần, nhưng là con người,
hắn cũng như ai : “Cho hay mặt sắt cũng ngây vì tình”. Nàng Kiều trung, hiếu, trinh, liệt,
không sợ chết, nhưng khi nhận thấy Thúc Sinh tại dinh Hoạn Thư đã xiết bao run sợ,
hãi hùng :
Nghe thôi kinh hãi xiết đâu,
Đàn bà thế ấy thấy âu một người.
ấy mới gan, ấy mới tài,
Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời.
Sự khiếp sợ như một phẩm chất tầm thường, theo quan niệm lý tưởng hoá cổ xưa, chỉ thuộc
loại người hèn nhát, đối lập với phẩm chất khí phách, bất khuất truyền thống, không thể
được xếp cùng một dãy với các phẩm chất trung, hiếu, tiết, nghĩa, trinh, liệt. Thể hiện niềm
khiếp sợ với lòng cảm thương sâu xa, chứng tỏ Nguyễn Du đã bắt đầu thừa nhận con người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status