ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------
TRẦN THỊ HÀ
QUAN NIỆM TÍNH ĐẢNG TRONG VĂN HỌC
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1975
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ (NGÀNH) VĂN HỌC
Hà Nội - 2015
PHẦN MỞ ĐẦU
1
1. Lí do chọn đề tài
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 giữ một vai trò quan trọng trong
lịch sử văn học dân tộc.Trong đó bộ phận văn học cách mạng là nhân tố chủ
yếu quyết định sự phát triển của nền văn học giai đoạn này.
Từ năm 1945 đến năm 1975, trên đất nƣớc ta diễn ra nhiều sự kiện lớn
lao: cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt kéo dài suốt ba mƣơi
năm, công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con ngƣời mới ở miền Bắc…
Những sự kiện đó đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới toàn bộ đời sống vật chất,
tinh thần của dân tộc, trong đó có văn học nghệ thuật. Cách mạng tháng Tám
năm 1945 đã mở ra trên đất nƣớc ta một thời kì lịch sử mới: thời kì độc lập tự
do gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cùng với sự kiện lich sử ấy, một nền văn
mới chung của đất nƣớc, cũng nhƣ do khát vọng thiết tha muốn tự vƣợt lên
chính mình trong thời kỳ mới”[56,31]. Vấn đề nhìn nhận và đánh giá lại nền
văn học giai đoạn này nảy sinh rất nhiều ý kiến không trùng khớp nhau, thậm
chí phủ định nhau. “Bên cạnh việc khẳng định nền văn học cách mạng giai
đoạn này mà những nhƣợc điểm đƣợc nhận thức sâu sắc hơn, một số hiện
tƣợng văn học từng đƣợc đánh giá cao nay không còn đƣợc giữ nguyên kích
thƣớc nhƣ cũ” [56;31]. Cũng có ý kiến cho rằng văn học 1945 – 1975 là “một
khúc gãy làm gián đoạn tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc đã đƣợc dấy
lên từ đầu thế kỷ, nhất là giai đoạn 1930 – 1945, mà mãi tới sau 1986 mới lại
đƣợc tiếp nối” [56;32]. Ý kiến này có lẽ xuất phát từ việc đem “đối lập tuyệt
đối giữa cá nhân và cộng đồng, giữa ý thức xã hội và ý thức nhân bản – đó là
sự đề cao ý thức cá nhân, chú trọng đến việc khám phá cái tôi mà xem nhẹ ý
thức cộng đồng”[34,16]. Có ý kiến cho rằng, văn học giai đoạn này là văn học
“hy sinh nghệ thuật” vì nó phục vụ mục đích chính trị cách mạng. Dƣờng nhƣ
việc phục vụ chính trị, cổ vũ và tuyên truyền là tất cả giá trị của nền văn học
này, nền văn học này đã “lạm dụng nguyên lý phản ánh, cốt ghi chép cho
3
nhiều ngƣời thật, việc thật” và giá trị đích thực của văn học chủ yếu là ở
phƣơng diện tƣ liệu, đời sống [56;32].
Mặc dù có rất nhiều cuộc thảo luận, xuất hiện rất nhiều ý kiến về nhiều
vấn đề liên quan nhƣng chúng ta ít thấy những ngƣời nghiên cứu bàn về tính
Đảng trong văn học.Bốn mƣơi năm đã trôi qua, đất nƣớc đã có nhiều thay đổi,
phát triển theo xu hƣớng hội nhập về mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị , văn
hóa…Đó là khoảng thời gian đủ để một thế hệ trƣởng thành, một thế hệ mới
nhìn nhận, đánh giá nền văn học chiến tranh, và cũng đủ để các thế hệ trƣởng
thành trong chiến tranh nhìn nhận, đánh giá lại nền văn học cách mạng một
thời. Tính chính trị của văn học vẫn là một vấn đề quan trọng, cốt lõi của lý
của Đại hội Đảng lần thứ 3(1960), các bức thƣ, bài phát biểu, bài nói chuyện
của các đồng chí lãnh đạo Đảng,đặc biệt là bài phát biểu của Trƣờng Chinh
tại đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ III: “Tăng cường tính Đảng, đi sâu vào
cuộc sống mới để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng tốt hơn nữa”. Tính
Đảng trong văn học cũng đƣợc các nhà nghiên cứu trình bày trong các cuốn
sách lý luận, giáo trình văn học: Cơ sở lý luận văn học, tập 1 của tổ bộ môn
Lý luận văn học các trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Vinh và Đại học tổng
hợp, năm 1976; Nhìn lại nửa thế kỉ lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩaPhƣơng Lựu; Cơ sở lý luận văn học, tập I, của nhóm tác giả Nguyễn Lƣơng
Ngọc(chủ biên)- Lê Bá Hán- Phƣơng Lựu- Bùi Ngọc Trác, năm 1980. Các
nhà giáo, các nhà nghiên cứu nhƣ Phan Cự Đệ, Bùi Ngọc Trác(Đại học tổng
hợp Hà Nội) cũng đã có nhiều bài viết trực tiếp bàn về tính Đảng, tính giai
cấp trong văn học. Các bài viết thể hiện quan điểm rõ ràng, nhất quán đề cao
nguyên tắc tính Đảng trong sáng tác văn học của các tác giả Nam Mộc, Vũ
Đức Phúc, Hoàng Xuân Nhị… Một số bài viết trên tạp chí nghiên cứu văn
học số 1, tháng 1 năm 1960(Đặc san kỉ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng):
Đặng Thai Mai, Vai trò lãnh đạo của Đảng trên mặt trận văn học ba mươi
5
năm nay, Phạm Bình, Phan Cự Đệ, Mười năm năm văn học cách mạng dưới
sự lãnh đạo của Đảng; Hoàng Nhƣ Mai, Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng
tháng Tám; Vũ Đức Phúc, Thơ và cách mạng: nghiên cứu tập thơ “Từ ấy”
của Tố Hữu…Tuy nhiên, nội dung các công trình nghiên cứu trên hoặc là
đánh giá mang tính tổng quát, cung cấp một kiến thức chung nhất hoặc đề cập
tới một khía cạnh nhƣ tính Đảng trong môt khoảng thời gian nào đó của văn
học giai đọan 1945-1975 hay trong sáng tác của một tác giả cụ thể, hoặc là
một số bài viết cách đây nhiều chục năm,nay nhìn lại cũng thấy rõ những hạn
chế trong nhận thức và quan niệm đƣơng thời.Hầu hết các tác phẩm này chƣa
đi sâu thành chuyên đề có tính lý luận cụ thể về tính Đảng trong văn học cách
1975 kéo dài đến năm 1985. Nhƣng trong đề tài này chúng tôi chọn văn học
1945-1975 vì nó tồn tại và phát triển trong bối cảnh xã hội đặc biệt-Ba mƣơi
năm kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân và đế quốc, vai trò của Đảng
luôn tỏ rõ tính chất độc tôn của mình trong đƣờng lối lãnh đạo văn nghệ .
Tính Đảng, yêu cầu của Đảng đối với văn học cách mạng đã đƣợc thể hiện
một cách toàn diện, thống nhất mang tính nguyên tắc một cách rõ nét nhất.
Mĩ học Mác- Lênin xem sáng tác văn học nghệ thuật là thể hiện tinh thần
đấu tranh của con ngƣời, do lập trƣờng một giai cấp nhất định chi phối. Nghĩa
là, thế giới quan thống nhất với sáng tác, quyết định sáng tác.Từ thế giới quan
đến phƣơng pháp sáng tác, đến tác giả, tác phẩm, tạo thành một khung định
hƣớng cho hoạt động sáng tác và nghiên cứu phê bình văn học. Sáng tác văn
học của nhà văn phải tuân theo yêu cầu của tính đảng, tính giai cấp, tính nhân
dân, dân tộc... Vì vậy mục đích nghiên cứu của chúng tôi tiến hành khảo sát
mối quan hệ đồng nhất giữa thế giới quan, lập trƣờng giai cấp và sự tuyệt đối
hóa vai trò của mĩ học mác xít trong sáng tác nghệ thuật dƣới sự lãnh đạo của
Đảng trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1975.
Quá trình khảo sát, nghiên cứu cũng nhằm đánh giá một cách toàn diện,
khách quan về các giá trị và thành tựu cũng nhƣ hạn chế của văn học giai
7
đoạn này do điều kiện lịch sử, ý thức của thời đại và những nguyên nhân chủ
quan khác.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Từ đặc điểm của đối tƣợng và mục đích nghiên cứu của luận văn, tôi
thực hiện đề tài theo các phƣơng pháp sau đây:
- Phƣơng pháp lịch sử - xã hội
- Phƣơng pháp nghiên cứu xã hội học văn học
- Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp và các phƣơng pháp khác nhƣ:,
giới, là tác phẩm lý luận tổng kết toàn bộ quá trình hình thành chủ nghĩa Mác,
trình bày những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác, thế giới quan khoa học
của giai cấp vô sản. Tác phẩm này do Các Mác (1818 - 1883) và Ăng-ghen
(1820 -1895) soạn thảo vào cuối năm 1847, đƣợc công bố vào tháng 02 năm
1848 và xuất bản vào tháng 3/1848, đã mở đầu bằng một đúc kết mang tính
9
chân lý: “Lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trƣớc tới nay chỉ là lịch sử đấu
tranh giai cấp”. Mà “ Giai cấp là những tập đoàn ngƣời đông đảo, những tập
đoàn này khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất
định trong lịch sử, về những quan hệ(phần lớn là do luật pháp qui định và
thừa nhận) của họ đối với tƣ liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao
động, xã hội, và do đó, về những phƣơng thức hƣởng thụ của cải, và về số
lƣợng của cải xã hội mà họ chi phối. Giai cấp là những tập đoàn ngƣời mà tập
đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do địa vị khác nhau
mà họ chiếm giữ trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”[51,359].
Trong xã hội có giai cấp, đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của
xã hội. Ăng-ghen gọi qui luật đấu tranh giai cấp là qui luật vận động vĩ đại
của lịch sử. Học thuyết của Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp là chìa khóa
để nhận thức và phản ánh một cách trung thực, khách quan bản chất của các
quá trình lịch sử. Cuộc đấu tranh giai cấp biểu hiện dƣới nhiều hình thức và
nhiều mức độ khác nhau. Biểu hiện hoàn chỉnh nhất, toàn diện và rõ rệt nhất
là cuộc đấu tranh giữa các chính Đảng.Nhƣ vậy tính Đảng là biểu hiện tập
trung của tính giai cấp. Tính Đảng là bạn đồng hành và là kết quả của cuộc
đấu tranh giai cấp phát triển cao độ. Tính Đảng là biểu hiện tự giác cao nhất
về nhận thức những quan điểm, lợi ích của một giai cấp nhất định, ở đây là
giai cấp vô sản. Trong nghiên cứu khoa học, tính Đảng đƣợc thể hiện ở cuộc
đấu tranh trên nhiều lĩnh vực khác nhau để hiểu biết chân lý, phục vụ những
nghệ minh họa”, Báo Văn nghệ, 9.
5.
Trƣờng Chinh (1957), Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc phong
phú dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội, Tạp chí
Văn nghệ , 1.
6.
Trƣờng Chinh (1962), “Tăng cường tính Đảng đi sâu vào cuộc sống
mới để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng tốt hơn nữa”, Tạp chí
Văn học, 4.
7.
Trƣờng Chinh (1969), Về phê bình văn nghệ- Tạp chí Văn học, 11.
8.
Trƣờng Chinh (1963), Về văn hóa văn nghệ, Nghiên cứu Văn học, 2.
9.
Hồng Chƣơng (Chủ biên) (1977), Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 31
và tập 35, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
10.
Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp nghiên cứu văn học, Nxb.
Trần Thị Minh Giới(2009), Quan niệm văn học là vũ khí cách mạng và
ảnh hưởng của nó đối với thơ 1945-1985, Luận án tiến sĩ Ngữ văn,
ĐHKHXHvà NV.
17.
M.Gorki(1970), Bàn về văn học, Nxb.Văn học, Hà Nội.
18.
Hoàng Ngọc Hiến(1979),Tiếp cận Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ
nghĩa từ quan điểm lý thuyết phản ánh và quan điểm lý thuyết thông
báo. Tạp chí Văn học, 2.
19.
Hoàng Ngọc Hiến(1986), “Văn học Xô Viết bước vào thời kì xã hội chủ
nghĩa phát triển”, Tạp chí Văn học, 2.
20.
Đông Hoài(1967), “Bàn thêm về chức năng của phê bình văn nghệ”,
Tạp chí Văn học, 11.
21.
Trần văn Hối(1986), Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, Nxb. Khoa
học và xã hội, Hà Nội.
28.
Phong Lê (1997), Văn và người, Tạp chí Văn học, 2.
29.
Phong Lê (2003), Văn học Việt Nam hiện đại- Lịch sử và Lí luận, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội.
30.
V.I.Lê nin (1960), Bàn về văn học nghệ thuật, Nxb Sự thật Hà Nội.
31.
V.I.Lê nin (1957), Tổ chức của Đảng và văn học có tính Đảng, Nxb Sự
thật, 1957
32.
Vũ Hồng Loan (2005), Văn học Việt Nam tiếp nhận văn học Xô Viết,
Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Tp. Hồ Chí Minh.
33.
Nguyễn Văn Long (2003), Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
34.
Mac- Ăng ghen (1960), bàn về văn học, NXB Sự thật Hà Nội.
41.
Đặng Thai Mai (1961), Kháng chiến và văn hóa, Tạp chí Văn học, 8.
42.
Nguyễn Đăng Mạnh(2010), Lịch sử văn học Việt Nam, Nxb Đại học sƣ phạm.
43.
Hồ Chủ Minh(1984), Những lời kêu gọi, tập 1, Nxb Xã hội.
44.
Hồ Chí Minh, Về công tác văn hóa văn nghệ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1971.
13
45.
Hồ Chí Minh, Lê Duẩn (1972)…Về văn hóa văn nghệ,(In lần thứ ba),
Nxb, Văn hóa, Hà Nội.
46.
Nam Mộc (1960), Công tác lý luận phê bình, Nghiên cứu Văn học, 10.
Những bức thư của BCHTW Đảng gửi đại hội văn nghệ, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1975
54.
Vũ Đức Phúc (1958), Nhớ lại Cách mạng kháng chiến và đời sống văn
học, Tạp chí Văn học, 3.
55.
Vũ Đức Phúc (1968), Như Phong và công tác phê bình văn nghệ- Tạp
chí Văn học,2.
56.
Trần Đình Sử (1987), Con người trong văn học Việt Nam hiện đại, (in
trong Một thời đại văn học mới), Nxb.Văn học.
57.
Trần Đình Sử (1996), Văn học cách mạng 1945-1975 trong tiến trình
văn học dân tộc thế kỉ XX. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
58.
Nguyễn Bá Thành (2006), Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học,
Nxb. Đại học Quốc gia , Hà Nội.
14
học xã hội.
65.
Nguyễn Tuân(1960), Bàn về văn học nghệ thuật, Nxb. Xã hội.
66.
Thư của Ban chấp hành TWĐLĐVN gửi Đại hội Văn nghệ toàn quốc
lần thứ 3, Nghiên cứu Văn học,1, 1993.
15
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 3
3. Đối tƣợng, phạm vi đề tài và mục đích nghiên cứu. ..................................... 6
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................. 7
5. Cấu trúc Luận văn ........................................................................................ 7
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................... 8
CHƢƠNG 1. QUAN NIỆM TÍNH ĐẢNG VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI
VỚI VĂN HỌC CÁCH MẠNG VIỆT NAM 1945-1975 ................................ 8
1.1. Quan niệm tính Đảng trong văn học .......................................................... 8
1.1.1. Khái niệm về tính Đảng. ........................................................................ 8
1.1.2. Quan niệm tính Đảng trong văn học. ................................................... 10
1.1.3. Tính Đảng và các thuộc tính của văn học (tính dân tộc, tính nhân dân, tính
giai cấp). ........................................................................................................ 15
1.2. Sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng đối với văn học cách
3.1.1. Hiện thực cách mạng là đối tượng phản ánh của văn học ................... 62
3.1.2. Con người mới xã hội chủ nghĩa là nhân vật trung tâm của tác phẩm văn
học. .................................................................................................................. 74
3.2. Khuynh hƣớng sử thi và cảm hứng lãng mạn đã tạo nên giọng điệu và cách
diễn đạt đặc biệt trong tác phẩm văn học........................................................ 86
3.2.1. Giọng điệu ngợi ca thi vị hóa hiện thực ............................................... 86
3.2.2.Cách diễn đạt đậm tính chính luận, tính đại chúng ............................... 91
3.3. Một số hạn chế của văn học cách mạng 1945-1975. ............................... 95
KẾT LUẬN ................................................................................................... 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 105
17
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới PGS. TS. Nguyễn Bá Thành - người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Văn học, Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội những người đã
tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường THPT Nguyễn Trãi - Thường Tín, cơ quan
đã cử tôi đi học và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn
này.
Đồng thời tôi xin bày tỏ gia đình, người thân, bạn bè những người đã ủng hộ,
động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn Thạc sĩ.
Hà Nội, ngày 01 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn