ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN VĂN TỔNG
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH CHẤT
TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
THẾ KỶ XX
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
HUẾ - 2019
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN VĂN TỔNG
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH CHẤT
TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
THẾ KỶ XX
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 62.22.01.21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
TS. TÔN THẤT DỤNG
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa.............................................................................................................. i
Lời cảm ơn................................................................................................................ii
Lời cam đoan ...........................................................................................................iii
Mục lục..................................................................................................................... iv
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu
3
3
2.2. Nhiệm vụ 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
4
16
16
1.3.2. Giai đoạn từ 1945 đến 1975
20
1.3.3. Giai đoạn từ 1975 đến hết thế kỷ XX 24
1.4. Đánh giá về tình hình nghiên cứu và hướng triển khai đề tài
iv
28
1.4.1. Đánh giá về tình hình nghiên cứu
28
1.4.2. Hướng triển khai đề tài 29
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ DIỆN MẠO TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH
CHẤT TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XX
2.1. Giới thuyết về thể loại
31
31
2.1.1. Tiểu thuyết có tính chất tự truyện
3.1.1. Hiện thực được tái hiện theo dòng hoài niệm59
3.1.2. Hiện thực qua cái nhìn hồi cố, chiêm nghiệm
3.1.3. Hiện thực qua góc nhìn phản tư
69
3.2. Từ nguyên mẫu nhà văn đến nhân vật
75
64
3.2.1. Từ con người thực đến nhân vật tự trình bày 75
3.2.2. Từ con người thực đến nhân vật hồi cố, chiêm nghiệm
3.2.3. Từ con người thực đến nhân vật phản tư
79
87
CHƯƠNG 4. TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH CHẤT TỰ TRUYỆN TRONG VĂN
HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XX - NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN
96
4.1. Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật 96
v
4.1.1. Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất với điểm nhìn bên trong và sự thay đổi
điểm nhìn
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thuật ngữ tiểu thuyết tự truyện (tiếng Pháp gọi là autofiction, tiếng Anh/
Mỹ gọi là autobiographical novel), đến nay không còn quá xa lạ trong đời sống văn
học. Thuật ngữ này được biết đến lần đầu tiên vào năm 1977, khi Serge Doubrovsky
“đã sáng chế thuật ngữ ghép hai từ auto (chính mình) và fiction (hư cấu) dính liền
với nhau” [20, tr.34]. Trên thế giới, tiểu thuyết tự truyện bắt đầu nở rộ từ thế kỷ XX,
gắn liền với những tên tuổi lớn như: Ch. Dickens (với David Copperfil), M. Gorki
(Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi), L. Tolstoy (Thời thơ ấu,
Thời niên thiếu, Thời thanh niên), Aragon (Gã dân quê), Claude Simon (Điền viên,
Cây keo), M. Duas (Người tình)... Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nó đã trở
nên quen thuộc với mọi đối tượng độc giả cũng như được mọi người trong giới
nghiên cứu, phê bình văn học thừa nhận. Vì, ngay trong cách định nghĩa về thể loại,
giới nghiên cứu, phê bình cũng không đồng nhất: có tài liệu thì định nghĩa tiểu
thuyết tự truyện là tự truyện viết dưới dạng trần thuật qua bút pháp hư cấu; có tài
liệu thì định nghĩa tiểu thuyết tự truyện là Truyện trong đó tác giả vừa là người kể
vừa là nhân vật, họ cùng chia sẻ chung một danh hiệu với nhau, còn tên gọi thì
chứng tỏ đó là tiểu thuyết …[20, tr. 34 - 35]. Ở Việt Nam, đến nay, tiểu thuyết tự
truyện vẫn chưa có được một danh xưng thể loại cụ thể. Tuy nhiên, trong hành trình
sáng tạo nghệ thuật, rất nhiều nhà văn đã sử dụng yếu tố tự truyện làm chất liệu
trong tiểu thuyết. Từ những thử bút ban đầu của các nhà văn ở chặng đường nửa đầu
thế kỷ XX như Tản Đà, Nguyên Hồng, Mạnh Phú Tư, Lan Khai... cho đến những
cây bút sáng tác ở đô thị miền Nam: Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Duyên Anh, Võ
Hồng, Túy Hồng… Đặc biệt, từ sau thời kỳ đổi mới, con số những tiểu thuyết có
tính chất tự truyện xuất hiện khá đầy đặn trên văn đàn, tạo thành một dòng chảy
mạnh mẽ. Rất nhiều những cây bút đã sử dụng yếu tố tự truyện như một thủ pháp
nghệ thuật để cách tân, làm mới tiểu thuyết.
Như vậy, có thể nói, dù chưa thực sự trở thành “thương hiệu” cụ thể của
vii
viii
“Đặc điểm tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ XX” làm
đề tài nghiên cứu nhằm tìm ra sự vận động, quá trình phát triển cũng như những
thành tựu đạt được cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, góp phần làm rõ hơn
diện mạo của tiểu thuyết có tính chất tự truyện, một tiểu loại khá giàu tiềm năng
đang trong quá trình vận động.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu
Với đề tài Đặc điểm tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt
Nam thế kỷ XX, tác giả luận án đặt mục tiêu nhận diện, lý giải những đặc điểm
của tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam suốt chiều dài của
thế kỷ XX.
Mục tiêu cụ thể
- Thông qua khảo sát tư liệu, nhận diện quá trình vận động và phát triển của
tiểu thuyết có tính chất tự truyện, bước đầu xác lập cơ sở lý thuyết về tiểu loại tiểu
thuyết này.
- Phân tích, lý giải đặc điểm tiểu thuyết có tính chất tự truyện dựa trên những
nét đặc trưng cơ bản: từ nguyên mẫu nhà văn - đề tài - nhân vật, mối quan hệ giữa
sự thật và hư cấu trong tác phẩm.
- Phân tích, lý giải những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết có tính chất tự truyện
dựa trên những phương thức thể hiện: người kể chuyện, ngôn ngữ, giọng điệu. Trên cơ
sở đó, làm rõ hơn gương mặt tiểu loại cũng như những đóng góp của tiểu thuyết có tính
chất tự truyện trong việc làm mới nghệ thuật tiểu thuyết.
2.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa các hướng nghiên cứu, tiếp cận tiểu thuyết có tính chất tự
truyện đã có, phân tích, lý giải nhằm làm rõ hơn những chỗ còn bỏ ngỏ và xác định
hướng nghiên cứu cụ thể.
- Xác định rõ tiền đề cơ sở cho sự phát triển của tiểu thuyết có tính chất
vào quá trình phát triển của tiểu thuyết Việt Nam theo hướng hiện đại.
Luận án tập trung nghiên cứu tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học
Việt Nam thế kỷ XX trên các phương diện cơ bản: Cách định danh tiểu loại; tiền đề
cơ sở hình thành; sự vận động của tiểu thuyết có tính chất tự truyện qua các chặng
đường khác nhau; các phương thức thể hiện của tiểu loại tiểu thuyết này.
Trên cơ sở đó, chúng tôi tổng hợp, đánh giá một cách khách quan những vấn
x
đề chung, liên quan đến lý thuyết về tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học
Việt Nam. Đồng thời, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi chú trọng đến đặc
điểm nổi bật nhất của tiểu loại tiểu thuyết này trong mối quan hệ với các thể loại
văn học khác.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp tiểu sử
Chúng tôi vận dụng phương pháp tiểu sử nhằm tìm hiểu tác phẩm thông qua
mối quan hệ giữa tác giả và văn bản nghệ thuật do nhà văn sáng tạo nên. Đây là một
trong những phương pháp quan trọng giúp cho luận án có thêm cơ sở để tìm hiểu
dấu ấn tự truyện cũng như mối quan hệ giữa sự thật và hư cấu trong tiểu thuyết.
4.2. Phương pháp thống kê, phân loại
Chúng tôi chọn lựa phương pháp này để tiếp cận đối tượng nghiên cứu nhằm
thống kê, phân loại, hệ thống hóa và chọn lựa tài liệu.
4.3. Phương pháp liên ngành
Nhằm để có một góc nhìn sâu hơn về tính chất tự truyện trong tiểu thuyết
Việt Nam thế kỷ XX, chúng tôi sẽ vận dụng một số lí thuyết về văn hóa học, thi
pháp học và tự sự học.
4.4. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Với phương pháp này, luận án hướng đến “giải mã” những đặc trưng của tính
chất tự truyện trong tiểu thuyết và khu biệt giữa tự truyện trong tiểu thuyết với các
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Những nghiên cứu về tự truyện trên thế giới được giới thiệu ở Việt Nam
Tự truyện trong nguyên ngữ Hy Lạp là autos (chính mình), bios (cuộc đời),
và graphein (viết), nghĩa là “viết về chính cuộc đời mình”. Cách kết hợp ba thành tố
này tạo thành autobiography trong tiếng Anh và sau đó được sử dụng trong tiếng
Pháp autobiographie, nhưng cách viết này trở thành một thuật ngữ thông dụng ở
Châu Âu từ giữa thế kỷ XIX.
Những tác phẩm tự truyện đầu tiên trên thế giới bắt đầu xuất hiện từ thời cận
đại ở Tây Âu. Tuy nhiên, danh từ tự truyện chính thức được sử dụng phải đợi đến
cuối thế kỷ XVIII, khi mà thể loại này bắt đầu nở rộ ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Những
tài liệu nghiên cứu đầu tiên về thể loại tự truyện xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ
XX với những chuyên khảo của Anna Robson Burr (1909), Wayne Shumaker
(1926), A.M.Clark (1935). Dần về sau này, mặc dù tự truyện chưa tạo được sự lưu
tâm của giới phê bình nhưng nó vẫn tồn tại với tư cách một thể loại độc lập và nhiều
nhà nghiên cứu cũng đã phác thảo được những nét cơ bản, xem nó như một thể loại
riêng biệt. Trong số đó, phải kể đến Những điều kiện và giới hạn của Tự truyện
(1956) của Georges Gurdorf, Tự thú và Tự truyện (1955) của Stephen Spendes. Ở
hai công trình này, nhà phê bình đã chú ý đến sự tồn tại độc lập của tự truyện với
vai trò là một thể tài đứng bên cạnh những thể loại văn học khác. Nhưng phải đợi
đến năm 1960, khi chuyên luận Phác thảo và Sự thật trong Tự truyện (Design and
Truth in Auubiography) của Roy Pascal ra đời thì tự truyện mới bắt đầu được
nghiên cứu như “một hoạt động sáng tạo”. Trong chuyên luận này, Pascal đã đặt ra
vấn đề: khởi điểm một tự truyện, tác giả tự truyện liệu có đi theo đúng sự thật mà
mình đã trải qua? Có hay không cái gọi là phác thảo trong trải nghiệm của con
người nếu đây không phải là một sự áp đặt vô lí cho sự thật [164]. Đến thập niên
70, nhà phê bình văn học người Mỹ James Olney trong một công trình nghiên cứu
1
Ở Việt Nam, ngay từ những ngày đầu, khi trang tiểu thuyết mang bóng dáng
tự truyện xuất hiện với gương mặt đầy lạ lẫm, thì giới học thuật của Việt Nam đã
2
bắt đầu chú ý đến bước đi của nó. Trong số các công trình nghiên cứu, Nhà văn
hiện đại của Vũ Ngọc Phan có lẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu về tự truyện
dưới góc nhìn thể loại. Từ hướng tiếp cận này, Vũ Ngọc Phan đã có những phát hiện
khá ấn tượng: “Tự truyện là một loại văn tuy không mới ở nước người, nhưng rất
mới ở nước ta. Gần đây có mấy nhà văn đem những việc của mình ra viết, nhưng họ
chưa có can đảm đề là tự truyện, họ “tiểu thuyết hóa” ít nhiều cuộc đời của họ và đề
là tiểu thuyết” [103, tr. 95]. Dần về sau, đặc biệt là chặng đường sau năm 1986, khi
mà quan niệm và tư duy nghệ thuật thay đổi, tạo điều kiện cho sự xuất hiện của
khuynh hướng tự truyện ngày một nhiều đã thu hút được sự chú ý của các nhà
nghiên cứu, phê bình văn học. Có lẽ vì thế nên những công trình nghiên cứu về
khuynh hướng này cũng ngày một nở rộ.
Theo Phong Lê, “Để nhớ về một quá khứ chưa xa, về một vùng hiện thực
khuất nẻo, khó có ai biết, nhưng đã được viết với tư cách người trong cuộc, nên khó
có ai viết thay, là Chuyện kể năm 2000, 2 tập (2000) của Bùi Ngọc Tấn, trong nối
dài về trước với Tuổi thơ im lặng (1987) của Duy Khán, Cát bụi chân ai (1992) và
Chiều chiều (1999) của Tô Hoài… Cũng có thể xếp vào đây Thượng đế thì cười
(2003) của Nguyễn Khải - một tiểu thuyết gần như tự truyện. Với Tô Hoài, Nguyễn
Khải - những tên tuổi quan trọng của văn học hiện đại, thì điều quan trọng không
chỉ là chuyện được kể, mà còn là giọng kể, cách kể” [66, tr. 52]. Cùng chung quan
điểm với Phong Lê, Nguyễn Văn Long trong Đổi mới của văn học Việt Nam từ sau
1975 cho rằng, xuất phát từ tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật của
văn học những năm cuối 80, đầu những năm 90 trong văn học Việt Nam đã phát
triển mạnh mẽ khuynh hướng nhận thức lại hiện thực. Đây chính là lúc văn học trở
về với đời sống thường nhật và vĩnh hằng, vì thế, “Trong văn xuôi những năm 90 và
vài năm lại đây… Hồi kí - tự truyện lên ngôi…” [73].
thuyết có tính tự truyện ngày một xuất hiện nhiều trong văn học những năm trở lại
đây là bởi xã hội hiện đại đề cao vai trò của cá nhân và thúc đẩy sự thức tỉnh của ý
thức cá nhân. Cái tôi trỗi dậy đòi hỏi được quan tâm đúng mức. Tiểu thuyết trở về
với con người, thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người, bảo tồn giá trị của con
người trước sự lãng quên của xã hội.
Khi nghiên cứu về văn xuôi Việt Nam từ 1975 đến 1995, Nguyễn Thị Bình
cũng nhận ra “những tác phẩm mang dáng dấp tự truyện như Miền thơ ấu (Vũ Thư
Hiên), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Chuyện làng ngày ấy (Võ Văn Trực), Cát bụi
4
chân ai (Tô Hoài)… Với những tác phẩm này, cái tôi của người viết hiện diện rất
sắc nét qua cảm hứng nhận thức, đánh giá lại những gì đã trải nghiệm bằng điểm
nhìn hiện tại”. Từ những phát hiện ấy, Nguyễn Thị Bình đã lần tìm được dấu vết để
làm nên phần cốt lõi của các tác phẩm mang bóng dáng tự truyện đó chính là “cái
tôi” của người viết luôn gắn liền với cảm hứng nhận thức, đánh giá lại những gì mà
chính người viết đã từng trải nghiệm trong thực tiễn cuộc sống của mình [10].
Trong một công trình nghiên cứu khác, khi khảo sát một số khuynh hướng tiểu
thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới cho đến nay, căn cứ vào cách thức xử lí chất
liệu hiện thực trong tác phẩm, Nguyễn Thị Bình cũng nhận ra được bên cạnh những
tiểu thuyết theo phong cách lịch sử hóa, tiểu thuyết tư liệu - báo chí, tiểu thuyết hiện
thực kiểu truyền thống, tiểu thuyết theo phong cách hiện thực còn có khuynh hướng
tiểu thuyết theo phong cách tự thuật. Đây có thể được xem là một trong những
khuynh hướng tiểu thuyết chính trong dòng văn học đương đại Việt Nam.
Có thể nói, chính thời kì đổi mới của đất nước từ sau năm 1986 đã làm cho
văn học Việt Nam thực sự có được sức sống mới. Gần như cảm hứng ngợi ca của
những trang văn mang đậm khuynh hướng sử thi không còn là mảnh đất lí tưởng
để các nhà văn hướng đến. Vì vậy, khi nhìn vào hiện thực của văn học chặng
đường sau năm 1986, nhà nghiên cứu Lã Nguyên xem đây là cả một bước “chuyển
mình” thật sự của văn học để tiến tới “phá cái khoanh vùng hết sức hình thức của
người Việt Nam giờ đây đứng trước thời kì đổi mới, nó đang thực sự bị lung lay dữ
dội - Điều này thể hiện rất rõ ở sự thay đổi về nhận thức về các giá trị… “cái thiêng
liêng cao cả, cái lí tưởng mặc dù nó vẫn còn sức hấp dẫn nhưng nó không phải là
đối tượng duy nhất mà người cầm bút hôm nay hướng tới”. Từ hướng tiếp cận khái
quát văn học Việt Nam khoảng 10 năm cuối thế kỷ XX, trong xu hướng “giải ảo”,
“giải thiêng” - nảy sinh từ cái nhìn “tỉnh táo”, “duy thực” đầy can đảm của các nhà
văn trong hoàn cảnh đất nước trở lại nhịp sống đời thường, con người trở về với
cuộc sống thường nhật hằng ngày, Nguyễn Phượng đã thấy được “thể loại hồi ký, tự
truyện và tiểu thuyết tự truyện lại gần như chiếm thế thượng phong trong giai đoạn
này. Công chúng dành một sự quan tâm khá đặc biệt với một số tiểu thuyết tự
truyện và hồi ký xuất hiện trong giai đoạn này như Cát bụi chân ai (1992 ) và
Chiều chiều (1999 ) của Tô Hoài, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn…” [110].
Đánh giá về tiểu thuyết trong văn học thời kì đổi mới, Mai Hải Oanh đã
không ngần ngại khi đưa ra nhận định: “Ra đời trong không khí dân chủ, tiểu thuyết
6
tự thuật thời kì đổi mới khá đa dạng. Có loại đậm chất giễu nhại như Thượng đế thì
cười, Ba người khác; có loại nói về những chua chát đời người (Chuyện kể năm
2000), có loại nói đến những cảm nhận cá nhân về điều đã trải nghiệm trong đó có
những đoạn gần với nhật kí (Chuyện của thiên tài)’’ [100, tr. 112]. Cách định dạng,
gọi tên tiểu thuyết tự thuật thời kì đổi mới của Mai Hải Oanh cần phải bàn luận
thêm, nhưng trong nhận định này người viết đã có một cái nhìn khá chuẩn xác khi
cho rằng chính thời kì đổi mới đã mang đến cho thể tiểu thuyết những diện mạo
mới, đầy sức hấp dẫn.
Trong cuộc Hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết (2002), Ma Văn Kháng đã
từng nói: “Cùng với tiểu thuyết tư liệu, tiểu thuyết tự thuật sẽ là một thể loại được
phát triển”. Đây phải chăng là sự tiên liệu thể hiện góc nhìn đầy lạc quan của một
“người trong cuộc”? Người mà gần như hành trình viết của ông ở chặng đường từ
sau thời kì đổi mới, từ Mùa lá rụng trong vườn, đến Ngược dòng nước lũ hay Một
thật mà qua những trải nghiệm sống và sự tự thú chân thành” [97]. Với Đỗ Hải
Ninh thì mỗi nhà văn khi cầm bút đều xuất phát từ nhu cầu giải phóng tư tưởng và
bộc lộ cái tôi cá nhân. Vì vậy, có thể tìm thấy ở mỗi trang viết những trải nghiệm,
suy ngẫm và cái tôi rất riêng. Và mục đích của tự truyện là tìm hiểu một con người
có thật với lịch sử hình thành nhân cách, còn tiểu thuyết, mặc dù cũng sử dụng
nhân vật, cốt truyện đó nhưng được hư cấu hóa, hoặc được cấp cho một lớp vỏ hư
cấu. Căn cứ từ thực tiễn ấy, Đỗ Hải Ninh khẳng định: “Văn học Việt Nam từ sau
đổi mới đã có những thay đổi đáng kể trong quan niệm về hiện thực và con người,
quan niệm về nhà văn trong mối quan hệ với tác phẩm, với công chúng và với
chính mình. Đó chính là cơ sở để khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Việt
Nam đương đại trở nên khá phổ biến” [97]. Trong một bài viết khác, khi đi sâu
vào khai thác mối quan hệ giữa tự truyện - tiểu thuyết và một số dạng tự thuật
trong văn học Việt Nam đương đại, dù biết rằng quy luật giao thoa thể loại và
những nỗ lực cách tân nghệ thuật khiến cho việc phân biệt tự truyện và tiểu thuyết
tự thuật ngày càng trở nên khó khăn hơn, nhưng Đỗ Hải Ninh cũng đã cố gắng
luận giải vấn đề này một cách rành mạch: “Trong tự truyện, cuộc đời tác giả và
bức chân dung tinh thần của ông ta trở thành đối tượng chính, tham gia trực tiếp
vào tác phẩm như một bộ phận hữu cơ. Còn ở tiểu thuyết tự truyện, những chi tiết
tiểu sử được nhào nặn lại, câu chuyện cuộc đời được cấu trúc và sắp xếp lại, tức là
tác giả tách khỏi những yếu tố đời tư để thể hiện với một độ gián cách nhất định”
8
[99]. Vì nếu như tự truyện là dạng văn bản có tính quy chiếu, thì những tiểu thuyết
tự thuật là những hư cấu nghệ thuật dựa trên nền tiểu sử tác giả, chính đời tư của
tác giả là nguồn chất liệu cơ bản để giúp tác giả viết thành những trang tiểu thuyết.
Khi tiến hành khảo sát văn xuôi Việt Nam trong chặng đường từ sau 1990 để
lý giải về hiện tượng tự thuật trong sáng tác văn xuôi của các tác giả nữ, Hồ Khánh
Vân đã chỉ ra nguyên nhân khiến cho khuynh hướng viết tự truyện ngày một xuất
hiện nhiều trong văn học Việt Nam, đặc biệt là trong sáng tác của những cây bút nữ
1.3. Nhận xét và đánh giá về các tác phẩm cụ thể
1.3.1. Giai đoạn trước 1945
Khảo sát chặng đường một thế kỷ, từ lúc những dấu vết ban đầu của tiểu
thuyết có tính tự truyện xuất hiện cho đến khi tiểu loại này hợp vào dòng chủ lưu
của tiểu thuyết Việt Nam, chúng tôi nhận thấy sự tồn tại của tiểu thuyết có tính chất
tự truyện là nhờ “sự đọc” của công chúng độc giả qua mọi thời đại, trong đó có sự
góp mặt của những siêu độc giả, những người gần như là nhịp cầu nối để đưa tiểu
loại này đến gần hơn với công chúng.
Sau đây, chúng tôi điểm lược những bài viết, những công trình nghiên cứu về
tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam giai đoạn trước 1945.
Từ những năm đầu thế kỷ XX, khi Nguyên Hồng viết cuốn Những ngày thơ
ấu, Thạch Lam, một trong những cây bút chủ lực của nhóm bút Tự lực văn đoàn đã
không ngần ngại hạ bút đánh giá về Những ngày thơ ấu như sau: “nó là sự rung
động cực điểm của một linh hồn trẻ dại lạc loài trong những lề lối khắc nghiệt của
một gia đình sắp tàn” [62]. Và khi chọn đưa Nguyên Hồng vào Nhà văn hiện đại,
trong phần nhận xét về Nguyên Hồng, Vũ Ngọc Phan cũng đã quả quyết rằng
Nguyên Hồng chính là “người Việt Nam thứ nhất dám kể về gia đình mình” bằng
những dòng tự bạch chân thành: “Thầy tôi làm nghề cai ngục, mẹ tôi con nhà buôn
bán…”. Ông viết: “Trong Những ngày thơ ấu, Nguyên Hồng đã cho ta biết rõ hẳn
một quãng đời quá khứ của ông. Lối tự truyện này, ở Anh, ở Mỹ, ở Nga, rất thịnh
hành; nhưng ở Việt Nam ta, viết được, tôi cho là can đảm lắm” [104, tr. 126]. Đánh
giá về tác phẩm này, chủ yếu Vũ Ngọc Phan bàn về tính tự truyện như là “bản chất”
thể loại của tác phẩm qua góc nhìn so sánh. Và Vũ Ngọc Phan, một người khá thận
trọng cũng phải thốt lên: “Mới đọc tập tự truyện của Nguyên Hồng, tôi đã tưởng có
dưới mắt một quyển sách của một nhà văn Anh hay một nhà văn Nga.” [104, tr. 126].
Phải chăng Vũ Ngọc Phan đang muốn nói đến sự dũng cảm của một con người dám
10
thành thật trong việc tự thú “trần trụi” về cuộc đời mình? Cho đến những năm về