ĐẶC ĐIỂM CỦA TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH CHẤT TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XX (Luận án tiến sĩ) - Pdf 53

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN VĂN TỔNG

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH CHẤT
TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
THẾ KỶ XX

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

HUẾ - 2019


ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN VĂN TỔNG

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH CHẤT
TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
THẾ KỶ XX

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 62.22.01.21

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. TÔN THẤT DỤNG
TS. HÀ NGỌC HÕA


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa ............................................................................................................... i
Lời cảm ơn ..................................................................................................................ii
Lời cam đoan ............................................................................................................ iii
Mục lục ....................................................................................................................... iv
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................4
4. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................5
5. Đóng góp của luận án ..........................................................................................5
6. Cấu trúc luận án ...................................................................................................6
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ...................................7
1.1. Những nghiên cứu về tự truyện trên thế giới được giới thiệu ở Việt Nam ......7
1.2. Những nghiên cứu về tự truyện và tiểu thuyết có tính chất tự truyện ở
Việt Nam ..........................................................................................................8
1.3. Nhận xét và đánh giá về các tác phẩm cụ thể .................................................16
1.3.1. Giai đoạn trước 1945 ................................................................................16
1.3.2. Giai đoạn từ 1945 đến 1975 .....................................................................20
1.3.3. Giai đoạn từ 1975 đến hết thế kỷ XX.......................................................24
1.4. Đánh giá về tình hình nghiên cứu và hướng triển khai đề tài .........................28
1.4.1. Đánh giá về tình hình nghiên cứu ............................................................28
1.4.2. Hướng triển khai đề tài .............................................................................29
CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ DIỆN MẠO TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH
CHẤT TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XX .................31
2.1. Giới thuyết về thể loại ....................................................................................31
2.1.1. Tiểu thuyết có tính chất tự truyện ............................................................31
2.1.2. Quan niệm về tự truyện ............................................................................35

4.2.2. Ngôn ngữ gián tiếp tự do (lời nửa trực tiếp) ..........................................116
4.3. Giọng điệu trần thuật ....................................................................................119
4.3.1. Giọng trữ tình, hoài niệm .......................................................................120
4.3.2. Giọng triết lý, chiêm nghiệm..................................................................127
4.3.3. Giọng tự trào, giễu nhại ..........................................................................130
KẾT LUẬN ............................................................................................................137
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................141
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
PHỤ LỤC

v


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thuật ngữ tiểu thuyết tự truyện (tiếng Pháp gọi là autofiction, tiếng Anh/
Mỹ gọi là autobiographical novel), đến nay không còn quá xa lạ trong đời sống văn
học. Thuật ngữ này được biết đến lần đầu tiên vào năm 1977, khi Serge Doubrovsky
“đã sáng chế thuật ngữ ghép hai từ auto (chính mình) và fiction (hư cấu) dính liền
với nhau” [20, tr.34]. Trên thế giới, tiểu thuyết tự truyện bắt đầu nở rộ từ thế kỷ
XX, gắn liền với những tên tuổi lớn như: Ch. Dickens (với David Copperfil), M.
Gorki (Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi), L. Tolstoy (Thời thơ
ấu, Thời niên thiếu, Thời thanh niên), Aragon (Gã dân quê), Claude Simon (Điền
viên, Cây keo), M. Duas (Người tình)... Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nó đã
trở nên quen thuộc với mọi đối tượng độc giả cũng như được mọi người trong giới
nghiên cứu, phê bình văn học thừa nhận. Vì, ngay trong cách định nghĩa về thể loại,
giới nghiên cứu, phê bình cũng không đồng nhất: có tài liệu thì định nghĩa tiểu
thuyết tự truyện là tự truyện viết dưới dạng trần thuật qua bút pháp hư cấu; có tài
liệu thì định nghĩa tiểu thuyết tự truyện là Truyện trong đó tác giả vừa là người kể
vừa là nhân vật, họ cùng chia sẻ chung một danh hiệu với nhau, còn tên gọi thì

nhận diện đến đặc điểm tiểu loại... vẫn còn là vấn đề chưa được giới nghiên cứu đi
đến sự thống nhất. Ra đời vào những thập niên đầu thế kỷ XX, nhưng rõ ràng trong
hệ thống thể loại tiểu thuyết Việt Nam, nó vẫn là “đứa con sinh sau”, và nhịp lưu
chuyển của nó vẫn còn trong quá trình vận động không ngừng, huống hồ nó cũng chỉ
mới được lưu tâm nhiều ở những năm gần đây. Những bài báo, tham luận, những
nghiên cứu trực tiếp về tiểu loại, cùng với một số luận văn, luận án đi vào nghiên cứu
một giai đoạn cụ thể nào đó vẫn chưa thể khái quát được toàn diện về tiểu loại này.
Đây cũng là trở ngại lớn cho những người yêu thích tiểu thuyết có tính chất tự truyện.
Đọc một tác phẩm mà trong công trình nghiên cứu này thì xếp vào hàng tự truyện,
hoặc tiểu thuyết, còn ở công trình kia thì lại cho là “tự truyện bất thành”, hoặc một
hồi ký, giả tự truyện... khiến người đọc không khỏi phân vân.
Nhìn trên phương diện lý thuyết về tiểu loại cũng như thực tế sáng tác, tiểu
thuyết có tính chất tự truyện ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề đang bỏ
ngỏ, đòi hỏi cần phải có một sự tiếp tục. Đây cũng chính là lý do để chúng tôi chọn
“Đặc điểm tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ XX” làm
2


đề tài nghiên cứu nhằm tìm ra sự vận động, quá trình phát triển cũng như những
thành tựu đạt được cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, góp phần làm rõ hơn
diện mạo của tiểu thuyết có tính chất tự truyện, một tiểu loại khá giàu tiềm năng
đang trong quá trình vận động.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu
Với đề tài Đặc điểm tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt
Nam thế kỷ XX, tác giả luận án đặt mục tiêu nhận diện, lý giải những đặc điểm
của tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam suốt chiều dài của
thế kỷ XX.
Mục tiêu cụ thể
- Thông qua khảo sát tư liệu, nhận diện quá trình vận động và phát triển của

trong văn học Việt Nam thế kỷ XX. Đặc biệt, luận án sẽ đi vào khảo sát những tiểu
thuyết có tính chất tự truyện hiện lên khá rõ nét. Cụ thể là những tác phẩm tiêu biểu
sau: Giấc mộng lớn (Tản Đà), Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng), Dã tràng (Thiết
Can), Bốc đồng (Đỗ Đức Thu), Chiếc cáng xanh (Lưu Trọng Lư), Ngậm miệng, Hai
người điên giữa kinh thành Hà Nội (Nguyễn Bính), Mực mài nước mắt (Lan Khai),
Sống nhờ (Mạnh Phú Tư), Sống mòn (Nam Cao), Hoa bươm bướm và Người về đầu
non (Võ Hồng), Trường cũ (Duyên Anh), Bếp lửa (Thanh Tâm Tuyền), Tôi nhìn tôi
trên vách (Túy Hồng), Vòng tay học trò (Nguyễn Thị Hoàng), Thời xa vắng (Lê
Lựu), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Miền thơ ấu (Vũ Thư Hiên), Chuyện kể năm
2000 (Bùi Ngọc Tấn), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát và nghiên cứu tiểu thuyết có tính chất tự truyện Việt
Nam trong thế kỷ XX, bao gồm những tác phẩm ra đời từ đầu cho đến hết thế kỷ
XX. Chọn mốc thời gian từ đầu cho đến hết thế kỷ XX, bởi chúng tôi nhận thấy
rằng đây là một giai đoạn mà tiểu thuyết có tính chất tự truyện đã góp phần rất lớn
vào quá trình phát triển của tiểu thuyết Việt Nam theo hướng hiện đại.
Luận án tập trung nghiên cứu tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học
Việt Nam thế kỷ XX trên các phương diện cơ bản: Cách định danh tiểu loại; tiền đề
cơ sở hình thành; sự vận động của tiểu thuyết có tính chất tự truyện qua các chặng
đường khác nhau; các phương thức thể hiện của tiểu loại tiểu thuyết này.
Trên cơ sở đó, chúng tôi tổng hợp, đánh giá một cách khách quan những vấn
đề chung, liên quan đến lý thuyết về tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học

4


Việt Nam. Đồng thời, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi chú trọng đến đặc
điểm nổi bật nhất của tiểu loại tiểu thuyết này trong mối quan hệ với các thể loại
văn học khác.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu

- Khẳng định rõ vai trò, vị trí của tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong quá
trình vận động và phát triển của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam.
6. Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính
của Luận án sẽ được triển khai thành các chương cụ thể sau:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý luận và diện mạo tiểu thuyết có tính chất tự truyện
trong văn học Việt Nam thế kỷ XX
- Chương 3: Tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam thế
kỷ XX - Nhìn từ cảm quan hiện thực và con người
- Chương 4: Tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ
XX - Nhìn từ phương thức thể hiện

6


CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Những nghiên cứu về tự truyện trên thế giới đƣợc giới thiệu ở Việt Nam
Tự truyện trong nguyên ngữ Hy Lạp là autos (chính mình), bios (cuộc đời),
và graphein (viết), nghĩa là “viết về chính cuộc đời mình”. Cách kết hợp ba thành tố
này tạo thành autobiography trong tiếng Anh và sau đó được sử dụng trong tiếng
Pháp autobiographie, nhưng cách viết này trở thành một thuật ngữ thông dụng ở
Châu Âu từ giữa thế kỷ XIX.
Những tác phẩm tự truyện đầu tiên trên thế giới bắt đầu xuất hiện từ thời cận
đại ở Tây Âu. Tuy nhiên, danh từ tự truyện chính thức được sử dụng phải đợi đến
cuối thế kỷ XVIII, khi mà thể loại này bắt đầu nở rộ ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Những
tài liệu nghiên cứu đầu tiên về thể loại tự truyện xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ
XX với những chuyên khảo của Anna Robson Burr (1909), Wayne Shumaker
(1926), A.M.Clark (1935). Dần về sau này, mặc dù tự truyện chưa tạo được sự lưu

Pacte Autobiographique) (1975) của Philippe Lejeune. Hiệp ước này ra đời mang
theo một định nghĩa về thể loại, kèm theo đó là những ranh giới và bảng biểu, sơ đồ
cụ thể để phân biệt tự truyện với những thể loại khác. Tuy nhiên, cũng trong những
năm cuối của thập niên 70, cùng với “sự tuyên xưng cái chết của tiểu thuyết”, và khi
Michael Sprinker tuyên bố “sự chấm dứt của tự truyện” thì các nhà hậu cấu trúc
luận khẳng định “văn bản của tự truyện có đời sống riêng của nó, thoát ly khỏi tính
quy chiếu và khi đó cái tôi chỉ còn là vấn đề của văn bản” [64, tr. 23]. Nhưng trong
khoảng hai thập niên cuối thế kỷ XX, khi thể tự truyện ngày một thêm phong phú,
vấn đề nghiên cứu về tự truyện lại được xuất hiện trở lại khá đầy đặn mà xem chừng
như những lí thuyết về tự truyện từ trước đó và cả Hiệp ước tự thuật của Philippe
Lejeune gần như không thể theo kịp đà phát triển đa dạng của thể tự truyện. Nhiều
nhà nghiên cứu tập trung đi vào khám phá thế giới tự truyện từ lĩnh vực tâm lí sáng
tạo và dân tộc học, từ văn hóa và tâm lí học nghệ thuật…
1.2. Những nghiên cứu về tự truyện và tiểu thuyết có tính chất tự truyện ở
Việt Nam
Ở Việt Nam, ngay từ những ngày đầu, khi trang tiểu thuyết mang bóng dáng
tự truyện xuất hiện với gương mặt đầy lạ lẫm, thì giới học thuật của Việt Nam đã
bắt đầu chú ý đến bước đi của nó. Trong số các công trình nghiên cứu, Nhà văn hiện
8


đại của Vũ Ngọc Phan có lẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu về tự truyện dưới góc
nhìn thể loại. Từ hướng tiếp cận này, Vũ Ngọc Phan đã có những phát hiện khá ấn
tượng: “Tự truyện là một loại văn tuy không mới ở nước người, nhưng rất mới ở
nước ta. Gần đây có mấy nhà văn đem những việc của mình ra viết, nhưng họ chưa
có can đảm đề là tự truyện, họ “tiểu thuyết hóa” ít nhiều cuộc đời của họ và đề là
tiểu thuyết” [103, tr. 95]. Dần về sau, đặc biệt là chặng đường sau năm 1986, khi mà
quan niệm và tư duy nghệ thuật thay đổi, tạo điều kiện cho sự xuất hiện của khuynh
hướng tự truyện ngày một nhiều đã thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu,
phê bình văn học. Có lẽ vì thế nên những công trình nghiên cứu về khuynh hướng

trong những năm về sau, đặc biệt là khi thể tự truyện ngày một lấn sâu vào đời sống
văn học từ sau 1986. Tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới, nhà nghiên cứu
Bích Thu đã trình bày ý kiến của mình về tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện.
Với Bích Thu thì người đọc hôm nay muốn “được tiếp xúc với những tiểu thuyết
tâm lý mà ở đó, nhân vật tự bộc lộ tư tưởng, chính kiến qua dòng chảy của nhận
thức, mọi hành vi, ứng xử và lời thoại ẩn sâu trong tâm trạng nhân vật và các tầng
nghĩa. Hoặc các tiểu thuyết mang tính tự truyện, vừa thể hiện cái “tôi” lại vừa hư
cấu, vừa mang tính tiểu sử lại vừa được nghệ thuật hóa, tiểu thuyết hóa, một đặc
trưng của tiểu thuyết hiện đại, có khả năng khai thác tiềm thức qua kỹ thuật dòng ý
thức” [134, tr. 6]. Ở bài viết này, Bích Thu thực sự chú ý đến nét đặc trưng mang
tính khu biệt của tiểu thuyết mang tính tự truyện, đó là người đọc dễ dàng nhận thấy
ở tiểu thuyết mang tính tự truyện vừa thể hiện cái “tôi” lại vừa hư cấu. Có thể nói,
chính cuộc sống thực tại của con người Việt Nam sau 1986 đã mang lại cho nhà
nghệ sĩ những quan niệm nghệ thuật về hiện thực với những khám phá mới. Và ở
đây, Bích Thu rất có lí khi cho rằng một trong những nguyên nhân làm cho tiểu
thuyết có tính tự truyện ngày một xuất hiện nhiều trong văn học những năm trở lại
đây là bởi xã hội hiện đại đề cao vai trò của cá nhân và thúc đẩy sự thức tỉnh của ý
thức cá nhân. Cái tôi trỗi dậy đòi hỏi được quan tâm đúng mức. Tiểu thuyết trở về
với con người, thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người, bảo tồn giá trị của con
người trước sự lãng quên của xã hội.
Khi nghiên cứu về văn xuôi Việt Nam từ 1975 đến 1995, Nguyễn Thị Bình
cũng nhận ra “những tác phẩm mang dáng dấp tự truyện như Miền thơ ấu (Vũ Thư
Hiên), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Chuyện làng ngày ấy (Võ Văn Trực), Cát bụi
chân ai (Tô Hoài)… Với những tác phẩm này, cái tôi của người viết hiện diện rất
10


sắc nét qua cảm hứng nhận thức, đánh giá lại những gì đã trải nghiệm bằng điểm
nhìn hiện tại”. Từ những phát hiện ấy, Nguyễn Thị Bình đã lần tìm được dấu vết để
làm nên phần cốt lõi của các tác phẩm mang bóng dáng tự truyện đó chính là “cái

phẩm ở ngôi thứ ba như con người tuy vô hình nhưng đầy quyền uy, biết hết, thấy
tất, mà thường giấu mình sau hình thức tự thú, hình thức người kể chuyện ở ngôi
thứ nhất - đó là một biểu hiện của ý thức đối thoại. Nhìn thẳng vào thực tại, tỉnh
táo nhận ra mình, nói hết sự thật với người đọc, dù sự thật đó có xót xa, đau lòng
đến bao nhiêu cũng không bưng bít, giấu giếm - đó cũng là một biểu hiện của ý
thức đối thoại… Con người với tư cách là cá nhân thường bị bỏ rơi trong thế giới
của sử thi là vì thế. Sau 1975, nền văn học của chúng ta đã nhanh chóng chuyển từ
thế giới vĩ mô sang thế giới vi mô, từ thế giới của cộng đồng, dân tộc và lịch sử
đến những câu chuyện về thế sự và đời tư con người. Cho nên, cá nhân con người
“đang từng bước, từng bước tiến vào vị trí trung tâm của văn học hôm nay. Cá
nhân con người vừa là đối tượng nhận thức trung tâm, vừa là điểm xuất phát để
văn học hôm nay nhìn ra thế giới. Nó soi ngắm thế giới và định giá lịch sử qua
lăng kính và mực thước của cá nhân con người” [87].
Quan sát văn học và nền kinh tế thị trường trong mười năm cuối thế kỷ XX,
Nguyễn Phượng nhận thấy các giá trị từng một thời là niềm tin mãnh liệt của con
người Việt Nam giờ đây đứng trước thời kì đổi mới, nó đang thực sự bị lung lay dữ
dội - Điều này thể hiện rất rõ ở sự thay đổi về nhận thức về các giá trị… “cái thiêng
liêng cao cả, cái lí tưởng mặc dù nó vẫn còn sức hấp dẫn nhưng nó không phải là
đối tượng duy nhất mà người cầm bút hôm nay hướng tới”. Từ hướng tiếp cận khái
quát văn học Việt Nam khoảng 10 năm cuối thế kỷ XX, trong xu hướng “giải ảo”,
“giải thiêng” - nảy sinh từ cái nhìn “tỉnh táo”, “duy thực” đầy can đảm của các nhà
văn trong hoàn cảnh đất nước trở lại nhịp sống đời thường, con người trở về với
cuộc sống thường nhật hằng ngày, Nguyễn Phượng đã thấy được “thể loại hồi ký, tự
truyện và tiểu thuyết tự truyện lại gần như chiếm thế thượng phong trong giai đoạn
này. Công chúng dành một sự quan tâm khá đặc biệt với một số tiểu thuyết tự
truyện và hồi ký xuất hiện trong giai đoạn này như Cát bụi chân ai (1992 ) và Chiều
chiều (1999 ) của Tô Hoài, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn…” [110].
Đánh giá về tiểu thuyết trong văn học thời kì đổi mới, Mai Hải Oanh đã
không ngần ngại khi đưa ra nhận định: “Ra đời trong không khí dân chủ, tiểu thuyết
tự thuật thời kì đổi mới khá đa dạng. Có loại đậm chất giễu nhại như Thượng đế thì

lớn vì đa phần chỉ là những hồi ký nhẹ tính văn chương” [56].
Sự đầy đặn của tiểu thuyết có tính tự truyện ngày thêm bồi đắp trong văn
học Việt Nam đương đại đã tạo thành một khuynh hướng. Nhờ thế nên tiểu thuyết
13


Việt Nam mang nhiều hương sắc mới. Trong bài viết Khuynh hướng tự truyện
trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Đỗ Hải Ninh cho rằng nền văn học Việt
Nam bắt đầu từ sau thời kì đổi mới đã thực sự có những bước tiến đáng kể, đặc
biệt là sự thay đổi trong quan niệm về hiện thực và con người, quan niệm về nhà
văn trong mối quan hệ với tác phẩm, với công chúng và với chính mình. Đây
chính là tiền đề cơ sở để khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam
đương đại trở nên khá phổ biến so với văn học giai đoạn 1945 - 1975. Theo Đỗ
Hải Ninh, “Khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết giúp người đọc không chỉ
giải mã con người tác giả và thời đại qua những chi tiết gắn với tiểu sử, cuộc đời
thật mà qua những trải nghiệm sống và sự tự thú chân thành” [97]. Với Đỗ Hải
Ninh thì mỗi nhà văn khi cầm bút đều xuất phát từ nhu cầu giải phóng tư tưởng và
bộc lộ cái tôi cá nhân. Vì vậy, có thể tìm thấy ở mỗi trang viết những trải nghiệm,
suy ngẫm và cái tôi rất riêng. Và mục đích của tự truyện là tìm hiểu một con người
có thật với lịch sử hình thành nhân cách, còn tiểu thuyết, mặc dù cũng sử dụng
nhân vật, cốt truyện đó nhưng được hư cấu hóa, hoặc được cấp cho một lớp vỏ hư
cấu. Căn cứ từ thực tiễn ấy, Đỗ Hải Ninh khẳng định: “Văn học Việt Nam từ sau
đổi mới đã có những thay đổi đáng kể trong quan niệm về hiện thực và con người,
quan niệm về nhà văn trong mối quan hệ với tác phẩm, với công chúng và với
chính mình. Đó chính là cơ sở để khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Việt
Nam đương đại trở nên khá phổ biến” [97]. Trong một bài viết khác, khi đi sâu
vào khai thác mối quan hệ giữa tự truyện - tiểu thuyết và một số dạng tự thuật
trong văn học Việt Nam đương đại, dù biết rằng quy luật giao thoa thể loại và
những nỗ lực cách tân nghệ thuật khiến cho việc phân biệt tự truyện và tiểu thuyết
tự thuật ngày càng trở nên khó khăn hơn, nhưng Đỗ Hải Ninh cũng đã cố gắng

khẳng định: “Đó là phương thức để nữ giới thể hiện sự nếm trải giới tính, đồng thời
là mục đích để giải phóng những kìm hãm của bản thân” [116].
Tự truyện và tiểu thuyết có tính chất tự truyện ở nước ta đã có cả một chuỗi
thời gian dài hình thành và phát triển. Tuy nhiên, cho đến nay, so với các thể loại
khác dường như nó vẫn chưa được nhiều sự ưu ái của các nhà nghiên cứu, phê bình
văn học. Theo khảo sát của chúng tôi, đã có một số tác giả chú ý khảo sát các tác
phẩm tự truyện và tiểu thuyết có tính chất tự truyện nhưng nhìn chung chỉ dừng lại
ở việc kết hợp trong nhận định, đánh giá. Hoặc nếu có thì cũng chỉ dừng lại ở mức
khảo sát một chặng đường ngắn (Tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện trong văn
15


học Việt Nam đương đại của Đỗ Hải Ninh), chưa có một công trình thật sự chuyên
sâu nào đi vào nghiên cứu về tự truyện và tính chất tự truyện trong tiểu thuyết Việt
Nam thế kỷ XX.
1.3. Nhận xét và đánh giá về các tác phẩm cụ thể
1.3.1. Giai đoạn trước 1945
Khảo sát chặng đường một thế kỷ, từ lúc những dấu vết ban đầu của tiểu
thuyết có tính tự truyện xuất hiện cho đến khi tiểu loại này hợp vào dòng chủ lưu
của tiểu thuyết Việt Nam, chúng tôi nhận thấy sự tồn tại của tiểu thuyết có tính chất
tự truyện là nhờ “sự đọc” của công chúng độc giả qua mọi thời đại, trong đó có sự
góp mặt của những siêu độc giả, những người gần như là nhịp cầu nối để đưa tiểu
loại này đến gần hơn với công chúng.
Sau đây, chúng tôi điểm lược những bài viết, những công trình nghiên cứu về
tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam giai đoạn trước 1945.
Từ những năm đầu thế kỷ XX, khi Nguyên Hồng viết cuốn Những ngày thơ
ấu, Thạch Lam, một trong những cây bút chủ lực của nhóm bút Tự lực văn đoàn đã
không ngần ngại hạ bút đánh giá về Những ngày thơ ấu như sau: “nó là sự rung
động cực điểm của một linh hồn trẻ dại lạc loài trong những lề lối khắc nghiệt của
một gia đình sắp tàn” [62]. Và khi chọn đưa Nguyên Hồng vào Nhà văn hiện đại,

Nhà phê bình Nguyễn Ngọc Thiện lại có một cách nhìn nhận khác. Ông
cho rằng Những ngày thơ ấu là một cuốn “Hồi kí tự truyện” đặc sắc. Ông viết:
“Nếu như trong văn học thế giới, người ta ghi nhận J.J.Rutxô với Những lời bộc
bạch mở đầu cho thể tài tự truyện, thì trong văn học Việt Nam hiện đại, phải
chăng chúng ta cần ghi nhận Nguyên Hồng với Những ngày thơ ấu đã mở đầu
cho thể tài hồi ký - tự truyện”. Về phần định danh Những ngày thơ ấu là cuốn
“hồi kí tự truyện” của Nguyễn Ngọc Thiện cần phải bàn luận thêm. Tuy nhiên,
bài viết đã chạm đến phần cốt lõi, phần làm nên sức sống vững bền của Những
ngày thơ ấu trong lòng độc giả chính là: “Giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo trong
tư tưởng và bút pháp nghệ thuật của tác phẩm đã khiến tác phẩm tồn tại bền
vững qua thử thách của thời gian” [132].
Tiểu thuyết Dã tràng của Thiết Can tuy không tạo nên “làn sóng” bất ngờ
trong đời sống văn học đương thời, nhưng nó cũng được Vũ Ngọc Phan lưu tâm
đến. Theo như Vũ Ngọc Phan, trong Dã tràng, “Thiết Can cũng cho ta biết cái phần
đời đầy tội lỗi nhỏ nhen của ông ta, nhưng ông cho biết một cách kín đáo ở tên
17


Đông, trong tập Dã tràng, một tập văn chưa dám mang rõ hẳn cái danh là tự
truyện”. [103, tr. 96].
Cùng thời với Dã tràng của Thiết Can, còn có tiểu thuyết Bốc đồng của nhà
văn Đỗ Đức Thu. Đây cũng là một trong những tác phẩm mà tính chất tự truyện
nhuốm tràn lên cả trang tiểu thuyết. Khi đánh giá về Bốc đồng của Đỗ Đức Thu,
Vũ Ngọc Phan viết: “Bốc đồng mà đặt vào loại tiểu thuyết thì chỉ là một tiểu
thuyết rất tầm thường. Tác giả dựng truyện đã bừa bãi, rặt những chuyện con con,
nối với nhau một cách sơ sài, kết cấu cũng lại không được khéo”[104, tr. 172]. Đi
vào khám phá tác phẩm Bốc đồng, Vũ Ngọc Phan cũng nhận ra được những hạn
chế nhất định của cuốn tiểu thuyết này và dường như nhà văn Vũ Ngọc Phan
không mấy có “thiện cảm” với lối viết của Đỗ Đức Thu trong Bốc đồng. Có lẽ vì
thế nên Vũ Ngọc Phan mới viết những dòng như sau: “Đọc xong Bốc đồng, người

tr. 221]. Đi sâu vào tìm hiểu tác phẩm này, Vũ Ngọc Phan cũng tìm ra được những
mảng hiện thực của người nghệ sĩ “sống về nghề văn ở đất nước Việt Nam là sống
một cảnh khổ nhục, tinh thần không những phải làm nô lệ vì những cái vật chất, mà
rồi những cái cao cả mà nhà văn muốn đi tới cũng phải tàn tạ với những cảnh khốn
cùng”. Theo Vũ Ngọc Phan, Mực mài nước mắt của Lan Khai thuộc loại “tiểu
thuyết tâm tưởng”. Ông viết: “Ở nước ta, đến nay loại tiểu thuyết tâm tưởng chưa
có mấy người viết. Loại ấy là loại khó, vì hơi hờ hững về động tác, giọng văn đã
ngả về bút kí ngay” [103, tr. 221].
So với những cây bút trong dòng văn học hiện thực phê phán, sự xuất hiện
của Nam Cao có vẻ như là “người đến sau”, nhưng bằng những tác phẩm của mình,
ông cũng đã kịp góp mặt vào dòng văn học hiện thực đương thời những trang văn
có thể được xếp vào hàng tuyệt bút. Trong số những trang văn ấy phải kể đến Sống
mòn. Đến với Sống mòn, người đọc như chạm vào cả một hiện thực “đời tàn trong
ngõ hẹp” của người trí thức nghèo trước Cách mạng Tháng 8. Đỗ Đức Hiểu từng
xem tiểu thuyết Sống mòn là một quyển tiểu thuyết “kiểu tự thuật, khi viết ở ngôi
thứ ba, nó như một độc thoại dài, với những dằn vặt, day dứt, với những câu hỏi lớn
về cuộc sống, gợi đến “Sống hay không sống”; từ chương này đến chương khác,
Thứ, nhân vật trung tâm, khao khát sống cho ra sống, lùi lại, hèn nhát, lại ước mơ,
hi vọng một cuộc đời có ý nghĩa” [39, tr. 337]. Dõi theo từng dòng, từng trang trong
suốt chiều dài 20 chương của truyện, Đỗ Đức Hiểu cũng đã thấy được một Nam
Cao “có cái nhìn thấu suốt vào con người, vào những uẩn khúc rối ren của một tình
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status