ươnso
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THU VÂN
NÔNG CỤ Ở TỈNH VĨNH LONG
TRONG THẾ KỶ XX
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THU VÂN
NÔNG CỤ Ở TỈNH VĨNH LONG
TRONG THẾ KỶ XX
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 92 29 013
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. TS. Trần Thị Nhung
Chương 3: NÔNG CỤ TRUYỀN THỐNG VÀ CƠ GIỚI HÓA TRONG SẢN
XUẤT NÔNG NGHIỆP ............................................................................................... 50
3.1. Bối cảnh ra đời của nông cụ truyền thống và các loại nông cụ cơ giới ................... 50
3.2. Nông cụ và sự du nhập nông cụ cơ giới (1919-1960) ............................................. 57
3.3. Thay đổi phương thức canh tác trong hoạt động sản xuất nông nghiệp
(1960-2000) ..............................................................................................................
79
Chương 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ NÔNG CỤ TRUYỀN THỐNG VÀ CƠ
GIỚI HÓA Ở TỈNH VĨNH LONG ............................................................................. 114
4.1. Một số đặc điểm ....................................................................................................... 114
4.2. Vai trò của nông cụ và nông cụ cơ giới trong sản xuất nông nghiệp ....................... 120
4.3. Một số kiến nghị nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa lịch sử truyền thống
và những vấn đề đặt ra cần quan tâm nghiên cứu, giải quyết .................................. 127
KẾT LUẬN .................................................................................................................... 134
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN .............................................................................................. 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 141
PHỤ LỤC ....................................................................................................................... 161
ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chú thích
CT
Đồng bằng sông Cửu Long
iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU
--------
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
NỘI DUNG
STT
1
Biểu đồ 2.1
TRANG
Những lý do thay đổi hoạt động sản xuất nông
nghiệp (%)
48
88
2
Biểu đồ 3.1
Sử dụng nông cụ (%)
3
Bảng 3.3
104
Tổng số lượng máy kéo của tỉnh Vĩnh Long
(1992-1995)
4
Bảng 3.4
105
Số lượng nông cụ cơ giới sử dụng năm 1994 tại
tỉnh Vĩnh Long
5
Bảng 3.5
106
So sánh diện tích đất cây hàng năm được cơ giới
hóa của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
6
Bảng 3.6
TRANG
hóa nông nghiệp và nông thôn hiện nay.
Vĩnh Long là tỉnh nằm ở trung tâm ĐBSCL, giữa sông Tiền – sông Hậu, giữa
hai trung tâm kinh tế là thành phố Cần Thơ và TP.HCM. Vĩnh Long có trục quốc lộ
1A, quốc lộ 53, quốc lộ 54, quốc lộ 80 chạy ngang qua nối liền với các tỉnh Trà
Vinh, Đồng Tháp và quốc lộ 57 nối liền với Bến Tre; Về đường thủy, Vĩnh Long có
sông Mang Thít nằm trong trục đường thủy quan trọng từ TP.HCM qua Vĩnh Long,
xuống các vùng Tây Nam sông Hậu. Địa bàn tỉnh là nơi trung chuyển hàng nông
sản từ các tỉnh phía Nam sông Tiền lên TP.HCM và là một trong những địa phương
có nền sản xuất đa dạng cho các hoạt động nông nghiệp phong phú của vùng
-1-
ĐBSCL; Sản xuất nông nghiệp được làm quanh năm, có thế mạnh về kinh tế miệt
vườn, dân cư tập trung về đây sinh sống. Tất cả những yếu tố này đã tạo nên một
bản sắc văn hóa riêng cho tỉnh Vĩnh Long.
Những tiến bộ đạt được trong nông nghiệp có vai trò quan trọng của việc sử
dụng nông cụ. Ở ĐBSCL, nông cụ truyền thống là những công cụ đầu tiên được
người dân sử dụng để khai phá đất đai và sản xuất. Qua thời gian, nhiều loại nông
cụ truyền thống đã dần thay đổi cho thích hợp với từng vùng đất ở đây. Cùng với
việc áp dụng các nông cụ truyền thống trong sản xuất nông nghiệp, một số nông cụ
cơ giới cũng được nhập cảng và được tiến hành trên đồng ruộng từ thời Pháp thuộc,
nhưng rất hạn chế. Đến nửa sau thế kỷ XX, để duy trì nền nông nghiệp, các máy
móc ngày càng được sử dụng nhiều, dần thay thế các nông cụ truyền thống. Sự thay
thế này khiến bộ mặt nông nghiệp vùng ĐBSCL nói chung, tỉnh Vĩnh Long nói
riêng có một diện mạo mới. Việc sử dụng nông cụ mới một mặt giúp canh tác thuận
lợi hơn, người nông dân đỡ vất vả và đạt năng suất cao hơn, mặt khác, có sự thay
đổi lớn trong mối quan hệ cộng đồng nông thôn, nhất là thay đổi cuộc sống của
người lao động ở nông thôn.
Có thể nói, nông cụ và nông cụ cơ giới đã có những đóng góp quan trọng
- Tìm hiểu những yếu tố: Điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội, chính trị,
phương thức canh tác, khoa học kỹ thuật đã ảnh hưởng đến sự cải tiến, thay đổi
nông cụ sản xuất trong nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Long trong thế kỷ XX.
- Sự giao lưu và tiếp biến văn hóa của các cư dân Việt, Khmer, Chăm, Hoa
trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
- Đóng góp của nông cụ và nông cụ cơ giới đối với sự phát triển của sản xuất
nông nghiệp Vĩnh Long. Rút ra một số đặc điểm từ việc nghiên cứu nông cụ ở một
địa bàn cụ thể là tỉnh Vĩnh Long.
- Đưa ra một số gợi ý cho các nhà quản lý tỉnh Vĩnh Long trong việc xây dựng
chính sách phát triển nông nghiệp và bảo tồn những nông cụ truyền thống ở tỉnh
Vĩnh Long.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là các loại
nông cụ được sử dụng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặt trong bối cảnh
-3-
điều kiện tự nhiên và điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội tại vùng đất Vĩnh
Long.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ điều kiện có hạn, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu như
sau:
3.2.1. Phạm vi nội dung nghiên cứu: Trong giới hạn của một luận án, đề tài
không nghiên cứu rộng sang các đối tượng là các nông cụ, ngư cụ sử dụng trong
chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp mà tập trung vào đối tượng chính là các loại
nông cụ được sử dụng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, với ba nhóm sau: 1.
Nông cụ phục vụ cho canh tác lúa. 2. Nông cụ phục vụ cho canh tác cây ăn trái. 3.
Nông cụ phục vụ cho canh tác hoa màu.
Nghiên cứu nông cụ trên các khía cạnh:
cả các huyện, xã trong tỉnh Vĩnh Long.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận, hướng tiếp cận
- Sử dụng phương pháp luận sử học Marxist, nhằm tìm hiểu nguồn gốc và lý
giải sự thay đổi của các loại nông cụ mà người nông dân sử dụng để sản xuất nông
nghiệp như là yếu tố quan trọng đưa đến những thay đổi trong xã hội nông thôn
Vĩnh Long.
- Tiếp cận theo hướng nghiên cứu lịch sử của trường phái Annales (Biên niên
sử). Vận dụng tầm quan trọng của ngành địa lý nhân văn của Lucien Fèbvre (CT:4)
để xem xét mối liên hệ giữa các loại nông cụ mà người nông dân sử dụng trong sản
xuất nông nghiệp với môi trường, không gian văn hóa của từng vùng đất ở Vĩnh
Long.
- Tiếp cận theo hướng liên ngành: Dân tộc học, xã hội học, kinh tế học, văn
hóa học… để xem xét nguyên nhân thay đổi của từng loại nông cụ và những ảnh
hưởng từ sự cải tiến, thay đổi công cụ sản xuất đến tình hình kinh tế – xã hội của
tỉnh Vĩnh Long.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu như đã trình bày ở phần trên, chúng tôi sử
dụng các phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu: Phương pháp lịch sử và phương
pháp logic; phương pháp sử học qua lời kể; phương pháp quan sát thực địa; khảo
sát bằng bảng hỏi điều tra xã hội học
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Thông qua những tư liệu lịch
sử và lời kể của người nông dân (những người trực tiếp lao động và sử dụng các
loại nông cụ), mô tả các loại nông cụ và sự cải tiến, thay đổi của chúng trong các
công đoạn của quá trình sản xuất nông nghiệp, gắn với bối cảnh tình hình của mỗi
-5-
thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử để từ đó đúc kết những đặc điểm, vai trò của các loại
tồn cũng được phỏng vấn, vì có thể đây là những đối tượng tích lũy được nhiều
thông tin về nông cụ cũng như sự biến đổi của chúng qua thời gian. Tùy theo từng
vấn đề, từng mục đích yêu cầu của luận án, chúng tôi chọn lựa cách thức phỏng vấn
và đối tượng phỏng vấn khác nhau nhằm mục đích thu thập được các thông tin hữu
ích phục vụ cho việc lý giải các luận điểm đưa ra trong luận án.
Với đề tài này, chúng tôi thực hiện phỏng vấn sâu bằng loại phỏng vấn bán
cấu trúc. Đối tượng phỏng vấn là những hộ gia đình nông dân đang sinh sống tại
Vĩnh Long đã và đang làm nông nghiệp: trồng lúa, cây ăn trái và hoa màu lâu năm.
- Phương pháp quan sát thực địa: Ngoài việc quan sát hình dáng, cách thức,
công dụng, kỹ thuật canh tác của từng loại nông cụ được sử dụng trong sản xuất
nông nghiệp thì việc tái hiện lại các công đoạn sử dụng nông cụ qua thao tác của
những người nông dân trong quá trình sản xuất nông nghiệp ngay tại đồng ruộng là
việc làm cần thiết; sử dụng các công cụ hỗ trợ như chụp hình, ghi chép, ghi âm. Kết
quả của sản phẩm là những hình ảnh về các loại nông cụ hiện đang còn lưu giữ ở
các địa bàn khảo sát.
- Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi điều tra xã hội học: Phương pháp
sử học qua lời kể được trình bày bên trên có một hạn chế đó là mẫu nghiên cứu
không lớn, do đó đôi khi thông tin thu thập được vẫn chưa toàn diện. Vì vậy, chúng
tôi sử dụng thêm phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi điều tra xã hội học nhằm có
được thông tin đa dạng hơn về lịch sử của các loại nông cụ. Việc thu thập thông tin
được thực hiện thông qua các bảng hỏi và trình bày dưới dạng phiếu thu thập ý kiến
gồm các câu hỏi đóng (CT:5), câu hỏi mở (CT:6), câu hỏi vừa đóng vừa mở, câu hỏi
có nhiều lựa chọn... Sử dụng công cụ này có một lợi điểm lớn đó là có thể thu thập
thông tin trên một mẫu khá lớn những người nông dân Vĩnh Long am hiểu về các
loại nông cụ trong sản xuất nông nghiệp.
Qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi xã hội học, chúng tôi phân tích sự tác
động của những yếu tố như khu vực cư trú, loại hình canh tác, điều kiện thổ
nhưỡng… trong mối tương quan với việc sử dụng nông cụ, bởi một trong những giả
tạo, cải tiến các loại nông cụ và sử dụng chúng trong việc canh tác nông nghiệp.
Phỏng vấn một số cán bộ làm công tác sưu tầm, bảo tồn các nông cụ truyền thống.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tham khảo ý kiến góp ý của các chuyên gia là những
1
Xem thêm ở Phụ lục 4 (Bảng 1).
-8-
nhà nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề liên quan đến nông cụ ở ĐBSCL nói
chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng và sử dụng nguồn số liệu định lượng mà chúng
tôi đã tiến hành khảo sát ở tỉnh Vĩnh Long.
4.5. Câu hỏi nghiên cứu và những luận điểm khoa học
Trên cơ sở nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, chúng tôi đặt ra một số câu hỏi
nghiên cứu trọng tâm như sau:
- Nông dân ở tỉnh Vĩnh Long sử dụng những loại nông cụ gì trong sản xuất
nông nghiệp thế kỷ XX?
- Sự thay đổi nông cụ trong nền kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Long giai
đoạn 1919-2000 diễn ra như thế nào? Những yếu tố nào tác động đến sự thay đổi
nông cụ ở tỉnh Vĩnh Long?
Từ những câu hỏi nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra một số luận điểm khoa
học sau:
- Các loại nông cụ ở tỉnh Vĩnh Long đầu thế kỷ XX phản ảnh sự tương tác
qua lại giữa con người với điều kiện tự nhiên và môi trường xung quanh theo lý
thuyết hệ sinh thái nhân văn (CT:7): Những nông cụ sử dụng trong canh tác lúa, cây
ăn trái và hoa màu cổ truyền của người Việt khi đến vùng đất mới Nam Bộ đã được
cải tiến, thay đổi để phù hợp với môi trường tự nhiên và những biến đổi xã hội tại
đây.
- Những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy sự sáng tạo, cải tiến và thay
Dưới góc độ nghiên cứu lịch sử Nông cụ ở tỉnh Vĩnh Long trong thế kỷ XX,
luận án thể hiện một số đóng góp:
- Nghiên cứu nông cụ mà người nông dân sử dụng trong sản xuất nông nghiệp,
từ khâu sản xuất, chuẩn bị đất đai canh tác cho đến những nông cụ sử dụng trong
chuyên chở, thu hoạch, tồn trữ… Luận án đóng góp một cái nhìn toàn diện về loại
hình và đặc điểm của nông cụ ĐBSCL trong thế kỷ XX mà tỉnh Vĩnh Long là một
ví dụ.
- Thông qua việc tìm hiểu các loại nông cụ được người nông dân sử dụng
trong sản xuất nông nghiệp, làm rõ hơn những thay đổi của quá trình sản xuất nông
nghiệp ở địa phương.
- Làm rõ những biến đổi của các loại nông cụ trong từng điều kiện cụ thể về
đất đai và thay đổi kỹ thuật canh tác qua từng thời kỳ ở địa phương trong thế kỷ
- 10 -
XX. Hiệu quả đạt được về mặt sản xuất là do sự cải tiến nông cụ, cơ giới hóa mang
lại. Những tác động về mặt xã hội đối với vùng nông thôn, cộng đồng ở địa phương
bắt nguồn từ sự thay đổi của nông cụ.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận án: Nông cụ không chỉ là hướng nghiên cứu riêng
của các ngành kỹ thuật, nó còn là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học xã
hội, trong đó có ngành lịch sử. Vì thế, việc chọn nghiên cứu nông cụ tại tỉnh Vĩnh
Long giúp làm rõ hơn mối quan hệ giữa các thành tố trong phát triển kinh tế, cụ thể
ở đây là mối quan hệ giữa công cụ sản xuất với điều kiện sản xuất và sự tương tác
cần thiết để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp trong thế kỷ XX. Đồng thời góp phần bổ
sung tư liệu và làm rõ thêm một số lý thuyết về địa lý nhân văn, lý thuyết về sinh
thái học xã hội – lịch sử trong nghiên cứu lịch sử.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Từ góc nhìn về các loại nông cụ trong sản xuất nông nghiệp rút ra những bài
nông cụ ở tỉnh Vĩnh Long thế kỷ XX.
Chương 3: Nông cụ truyền thống và cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp.
Chương 4: Một số nhận xét về nông cụ truyền thống và cơ giới hóa ở tỉnh Vĩnh
Long.
- 12 -
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Các công trình nghiên cứu chung về nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành kinh tế có truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam,
với hơn 70% dân số là nông dân (tính đến cuối thế kỷ XX). Vì vậy, trong công trình
Nông nghiệp Việt Nam bước vào thế kỷ XXI xuất bản năm 1998 (Nxb. Chính trị
Quốc gia), hai tác giả Bùi Huy Đáp và Nguyễn Điền đã khái quát toàn bộ thành tựu,
tiến bộ của nền nông nghiệp Việt Nam; những thách thức, tiềm năng cũng như
những trăn trở làm thế nào để xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại và bền vững
trong thế kỷ XXI. Với 37 trang viết về thành tựu và triển vọng cơ khí hóa nông
nghiệp, trong đó thống kê số lượng máy móc nông nghiệp trang bị trong cả nước,
của từng vùng năm 1994, tác giả đã cung cấp cho chúng tôi những nguồn tài liệu
quý mang tính bối cảnh để tham khảo khi viết về cơ giới hóa ở một tỉnh.
Về phương diện lịch sử, nông nghiệp từ trước đến nay vốn là thành tố quyết
định sự phát triển của nền kinh tế miền Nam Việt Nam, trong đó khu vực ĐBSCL là
địa bàn chiếm ưu thế. Lúa được trồng trên khắp cả nước, nhưng số thu hoạch lớn
nhất vẫn xuất phát từ vùng đồng bằng này. Ở ĐBSCL có đến 900.000 nông trại,
bình quân diện tích là 1,9 ha, trong khi đó ở vùng đồng bằng miền Trung có
700.000 nông trại, nhưng mỗi đơn vị chỉ chiếm một diện tích là 0,7 ha [13, tr.4], vì
thế tác giả Charles W, Peters với bài viết Agricultural Development strategy in
thuộc vùng I gồm các đặc điểm chính: Vùng số một của ĐBSCL, vì hội tụ nhiều thế
mạnh cơ bản về điều kiện tự nhiên (tài nguyên thiên nhiên) và tài nguyên kinh tế –
xã hội; Vùng lớn nhất về các mặt: Diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp chiếm
gần 85% đất tự nhiên, đất lúa chiếm 654.000 ha; Vùng thuận đất (đất phù sa mới
phì nhiêu và cân đối) và thuận nước nhất.
Các hệ thống sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long của kỹ sư
Đặng Kim Sơn, xuất bản năm 1996 cũng là một công trình đáng quan tâm. Công
trình nghiên cứu tổng quát hệ thống sản xuất nông nghiệp và đề đạt một số vấn đề
phát triển nông nghiệp ĐBSCL. Tác giả cho rằng, ĐBSCL có 5 hệ thống sản xuất
chính đó là: Hệ thống sản xuất rẫy rừng; Hệ thống sản xuất lúa nổi; Hệ thống sản
- 14 -
Luận án đầy đủ ở file: Luận án full