ĐẶC điểm TIỂU THUYẾT có TÍNH CHẤT tự TRUYỆN TRONG văn học VIỆT NAM THẾ kỷ XX - Pdf 53

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN VĂN TỔNG

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH CHẤT
TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
THẾ KỶ XX

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM


HUẾ - 2019


ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN VĂN TỔNG

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH CHẤT
TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
THẾ KỶ XX

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 62.22.01.21

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học:
TS. TÔN THẤT DỤNG


5


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa.................................................................................................................................... i
Lời cảm ơn........................................................................................................................................ ii
Lời cam đoan ................................................................................................................................. iii
Mục lục.............................................................................................................................................. iv
PHỤ LỤC

6


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thuật ngữ tiểu thuyết tự truyện (tiếng Pháp gọi là autofiction,
tiếng Anh/ Mỹ gọi là autobiographical novel), đến nay không còn quá xa l ạ
trong đời sống văn học. Thuật ngữ này được biết đến lần đầu tiên vào năm
1977, khi Serge Doubrovsky “đã sáng chế thuật ngữ ghép hai từ auto (chính
mình) và fiction (hư cấu) dính liền với nhau” [20, tr.34]. Trên th ế gi ới, ti ểu
thuyết tự truyện bắt đầu nở rộ từ thế kỷ XX, gắn liền với những tên tu ổi l ớn
như: Ch. Dickens (với David Copperfil), M. Gorki (Thời thơ ấu, Kiếm sống,
Những trường đại học của tôi), L. Tolstoy (Thời thơ ấu, Thời niên thiếu, Thời
thanh niên), Aragon (Gã dân quê), Claude Simon (Điền viên, Cây keo), M. Duas
(Người tình)... Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nó đã trở nên quen thu ộc
với mọi đối tượng độc giả cũng như được mọi người trong giới nghiên cứu,
phê bình văn học thừa nhận. Vì, ngay trong cách định nghĩa về th ể loại, gi ới
nghiên cứu, phê bình cũng không đồng nhất: có tài liệu thì đ ịnh nghĩa ti ểu

tiểu loại tiểu thuyết này. Bởi, chúng tôi đang kh ảo sát và nghiên c ứu m ột ti ểu
loại “rồi đây sẽ phát triển thế nào, biến hóa ra sao? Chỉ có th ời gian m ới tr ả l ời
được câu hỏi này” [20, tr. 40].
1.2. Những thập niên gần đây, tiểu thuyết có tính chất tự truyện ra đời
ngày một nhiều. Cùng với đó là những nghiên cứu về tiểu thuyết có tính chất tự
truyện cũng nhiều hơn. Song, dù có thu hút được sự chú ý của gi ới nghiên cứu,
phê bình nhưng xung quanh nó vẫn còn ngổn ngang nhiều vấn đề: từ cách định
danh, tiêu chí nhận diện đến đặc điểm tiểu loại... vẫn còn là vấn đề chưa được
giới nghiên cứu đi đến sự thống nhất. Ra đời vào những thập niên đầu thế kỷ
XX, nhưng rõ ràng trong hệ thống thể loại tiểu thuyết Việt Nam, nó vẫn là “đứa
con sinh sau”, và nhịp lưu chuyển của nó vẫn còn trong quá trình vận động
không ngừng, huống hồ nó cũng chỉ mới được lưu tâm nhiều ở những năm gần
đây. Những bài báo, tham luận, những nghiên cứu trực tiếp về tiểu loại, cùng
với một số luận văn, luận án đi vào nghiên cứu một giai đoạn cụ thể nào đó vẫn
chưa thể khái quát được toàn diện về tiểu loại này. Đây cũng là trở ngại lớn cho
những người yêu thích tiểu thuyết có tính chất tự truyện. Đọc một tác phẩm

8


mà trong công trình nghiên cứu này thì xếp vào hàng tự truyện, hoặc ti ểu
thuyết, còn ở công trình kia thì lại cho là “tự truyện bất thành”, hoặc một hồi ký,
giả tự truyện... khiến người đọc không khỏi phân vân.
Nhìn trên phương diện lý thuyết về tiểu loại cũng như thực tế sáng tác,
tiểu thuyết có tính chất tự truyện ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhi ều v ấn đ ề
đang bỏ ngỏ, đòi hỏi cần phải có một sự tiếp tục. Đây cũng chính là lý do đ ể
chúng tôi chọn “Đặc điểm tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Vi ệt
Nam thế kỷ XX” làm đề tài nghiên cứu nhằm tìm ra sự vận động, quá trình
phát triển cũng như những thành tựu đạt được cả về nội dung lẫn hình th ức
nghệ thuật, góp phần làm rõ hơn diện mạo của ti ểu thuyết có tính ch ất tự

tương quan tổng thể đời sống văn học Việt Nam và các lý thuyết vận dụng
trong quá trình nghiên cứu.
- Phân tích quá trình hình thành, phát tri ển của ti ểu thuy ết có tính ch ất
tự truyện dựa trên mối quan hệ giữa hiện thực cuộc đời tác gi ả và th ế gi ới
nghệ thuật trong tác phẩm qua các chặng đường khác nhau nhằm tìm ra quy
luật vận động và những đặc điểm cơ bản trong nội dung phản ánh và ngh ệ
thuật thể hiện của tiểu thuyết có tính chất tự truyện ở Việt Nam thế kỷ XX.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của luận án là những ti ểu thuyết có tính chất tự
truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ XX. Đặc biệt, luận án sẽ đi vào kh ảo sát
những tiểu thuyết có tính chất tự truyện hiện lên khá rõ nét. C ụ th ể là nh ững
tác phẩm tiêu biểu sau: Giấc mộng lớn (Tản Đà), Những ngày thơ ấu (Nguyên
Hồng), Dã tràng (Thiết Can), Bốc đồng (Đỗ Đức Thu), Chiếc cáng xanh (Lưu
Trọng Lư), Ngậm miệng, Hai người điên giữa kinh thành Hà Nội (Nguyễn
Bính), Mực mài nước mắt (Lan Khai), Sống nhờ (Mạnh Phú Tư), Sống mòn
(Nam Cao), Hoa bươm bướm và Người về đầu non (Võ Hồng), Trường cũ
(Duyên Anh), Bếp lửa (Thanh Tâm Tuyền), Tôi nhìn tôi trên vách (Túy Hồng),
Vòng tay học trò (Nguyễn Thị Hoàng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Tuổi thơ dữ dội
(Phùng Quán), Miền thơ ấu (Vũ Thư Hiên), Chuyện kể năm 2000 (Bùi Ngọc
Tấn), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát và nghiên cứu tiểu thuyết có tính ch ất tự

10


truyện Việt Nam trong thế kỷ XX, bao gồm những tác phẩm ra đ ời từ đầu cho
đến hết thế kỷ XX. Chọn mốc thời gian từ đầu cho đến hết thế kỷ XX, bởi
chúng tôi nhận thấy rằng đây là một giai đoạn mà ti ểu thuy ết có tính ch ất t ự

Với phương pháp này, luận án hướng đến “giải mã” những đặc trưng
của tính chất tự truyện trong tiểu thuyết và khu biệt giữa tự truyện trong tiểu
thuyết với các loại hình tiểu thuyết khác. Qua đó, luận án ch ỉ ra nh ững nét đ ặc
sắc của đặc điểm tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam thế kỷ XX.
5. Đóng góp của luận án
- Từ việc hệ thống hóa lý luận về tiểu thuyết có tính chất tự truyện,
luận án đưa ra những kiến giải có tính thực tiễn nghiên cứu để khái quát m ột
số khái niệm mang tính đặc trưng của tiểu thuyết có tính chất tự truyện.
- Định rõ những đặc trưng về mặt lý luận của ti ểu thuyết có tính ch ất
tự truyện, lấy đó làm nền tảng cơ sở để soi rọi vào tác ph ẩm nh ằm th ấy đ ược
những nét đặc trưng của tiểu thuyết có tính chất tự truyện.
- Là một công trình nghiên cứu chuyên biệt, hệ thống về ti ểu lo ại ti ểu
thuyết có tính chất tự truyện nhằm hướng đến tái hi ện toàn bộ gương m ặt
của tiểu loại này trong cả hành trình một thế kỷ (thế kỷ XX).
- Khẳng định rõ vai trò, vị trí của tiểu thuyết có tính chất tự truy ện
trong quá trình vận động và phát triển của ti ểu thuyết hiện đại Việt Nam.
6. Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, n ội dung
chính của Luận án sẽ được triển khai thành các chương cụ th ể sau:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý luận và diện mạo tiểu thuyết có tính chất tự
truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ XX
- Chương 3: Tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn h ọc Vi ệt Nam
thế kỷ XX - Nhìn từ cảm quan hiện thực và con người
- Chương 4: Tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam
thế kỷ XX - Nhìn từ phương thức thể hiện

12




thật [164]. Đến thập niên 70, nhà phê bình văn h ọc ng ười Mỹ James Olney
trong một công trình nghiên cứu v ề tự truy ện của mình đã vi ết: “Chính s ự
chuyển hướng sang cái “tôi” khi đã có được nh ận th ức v ề s ự t ồn t ại c ủa nó sẽ
định hình và quyết định bản chất của tự truy ện và trong quá trình ấy sẽ v ừa
khám phá vừa sáng tạo lại mình - đã kh ởi đ ầu cho ch ủ đ ề t ự truy ện trong
những cuộc tranh luận” [163]. Từ những nghiên c ứu v ề cái tôi trong t ự
truyện ấy, những năm về sau, đặc bi ệt là kho ảng ba th ập niên cu ối c ủa th ế
kỷ XX, thể loại tự truyện được gi ới phê bình chú ý nhi ều và th ể lo ại này g ần
như trở thành một trong những th ể lo ại trung tâm, đ ược soi chi ếu d ưới
nhiều góc độ khác nhau.
Trong ba thập niên cuối của thế kỷ XX, cùng với sự nở rộ của thể loại
tự truyện, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học không còn xem tự truy ện
thuộc hàng “ngoại biên” nữa mà soi ngắm nó qua nhiều chi ều kích khác nhau
trong vai trò của một thể loại văn học. Chính nhờ thế mà cả một hệ th ống lí
luận thể loại cũng được định hình một cách rõ nét. Và một trong số đó phải kể
đến Hiệp ước Tự thuật (Le Pacte Autobiographique) (1975) của Philippe
Lejeune. Hiệp ước này ra đời mang theo một định nghĩa về thể loại, kèm theo
đó là những ranh giới và bảng biểu, sơ đồ cụ thể để phân bi ệt tự truy ện v ới
những thể loại khác. Tuy nhiên, cũng trong những năm cu ối c ủa th ập niên 70,
cùng với “sự tuyên xưng cái chết của tiểu thuyết”, và khi Michael Sprinker
tuyên bố “sự chấm dứt của tự truyện” thì các nhà hậu cấu trúc luận kh ẳng
định “văn bản của tự truyện có đời sống riêng của nó, thoát ly kh ỏi tính quy
chiếu và khi đó cái tôi chỉ còn là vấn đề của văn b ản” [64, tr. 23]. Nh ưng trong
khoảng hai thập niên cuối thế kỷ XX, khi th ể tự truy ện ngày m ột thêm phong
phú, vấn đề nghiên cứu về tự truyện lại được xuất hiện trở lại khá đầy đặn
mà xem chừng như những lí thuyết về tự truyện từ trước đó và cả Hiệp ước
tự thuật của Philippe Lejeune gần như không thể theo kịp đà phát tri ển đa
dạng của thể tự truyện. Nhiều nhà nghiên cứu tập trung đi vào khám phá th ế
giới tự truyện từ lĩnh vực tâm lí sáng tạo và dân tộc h ọc, từ văn hóa và tâm lí

Văn Long trong Đổi mới của văn học Việt Nam từ sau 1975 cho rằng, xuất phát
từ tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật của văn h ọc những năm
cuối 80, đầu những năm 90 trong văn học Việt Nam đã phát tri ển mạnh mẽ

15


khuynh hướng nhận thức lại hiện thực. Đây chính là lúc văn học tr ở v ề v ới đ ời
sống thường nhật và vĩnh hằng, vì thế, “Trong văn xuôi những năm 90 và vài
năm lại đây… Hồi kí - tự truyện lên ngôi…” [73].
Nghiên cứu về truyện và tự truyện của Phan Bội Châu, khi luận bàn v ề
sự phát triển của thể tự truyện, Hoàng Đức Khoa nhận thấy trong b ối c ảnh
văn hóa trung đại vốn nặng quan phương, khép kín nên khả năng con ng ười
tự ý thức về mình và hướng tới khám phá, th ể hiện từng s ố ph ận th ực s ự
không dễ. Chính những thay đổi trong đời sống xã hội Việt Nam th ời kỳ th ực
dân nửa phong kiến, cùng với quá trình tư sản hóa những năm nửa đ ầu th ế k ỷ
XX đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn học. Đây chính là bối cảnh ra đ ời
tự truyện của Phan Bội Châu. Theo tác giả, tự truy ện là truy ện do các nhà văn
viết về cuộc đời mình nhằm những mục đích khác nhau… Cũng chính trong
thể loại này, tất cả những biến cố, sự việc, nhân vật … đều được lấy từ cu ộc
đời thực của tác giả, không có sự hư cấu thêm, hoặc nói cách khác là không có
sự hư cấu tự do [61, tr. 119 - tr. 128].
Sự lưu tâm một cách nồng nhiệt cho thể tự truyện ngày một đậm đặc
hơn trong những năm về sau, đặc biệt là khi th ể tự truyện ngày một l ấn sâu
vào đời sống văn học từ sau 1986. Tiếp cận ti ểu thuyết Việt Nam th ời kỳ đ ổi
mới, nhà nghiên cứu Bích Thu đã trình bày ý ki ến của mình v ề ti ểu thuy ết có
khuynh hướng tự truyện. Với Bích Thu thì người đọc hôm nay muốn “được
tiếp xúc với những tiểu thuyết tâm lý mà ở đó, nhân vật tự bộc l ộ tư tưởng,
chính kiến qua dòng chảy của nhận thức, mọi hành vi, ứng xử và l ời tho ại ẩn
sâu trong tâm trạng nhân vật và các tầng nghĩa. Hoặc các ti ểu thuy ết mang

tác phẩm, Nguyễn Thị Bình cũng nhận ra được bên cạnh những ti ểu thuy ết
theo phong cách lịch sử hóa, tiểu thuyết tư liệu - báo chí, ti ểu thuy ết hi ện th ực
kiểu truyền thống, tiểu thuyết theo phong cách hiện thực còn có khuynh
hướng tiểu thuyết theo phong cách tự thuật. Đây có thể được xem là m ột
trong những khuynh hướng tiểu thuyết chính trong dòng văn học đương đại
Việt Nam.
Có thể nói, chính thời kì đổi m ới của đ ất n ước t ừ sau năm 1986 đã làm
cho văn học Việt Nam thực sự có được s ức s ống m ới. G ần nh ư c ảm h ứng
ngợi ca của những trang văn mang đ ậm khuynh h ướng s ử thi không còn là

17


mảnh đất lí tưởng để các nhà văn hướng đ ến. Vì v ậy, khi nhìn vào hi ện th ực
của văn học chặng đường sau năm 1986, nhà nghiên c ứu Lã Nguyên xem đây
là cả một bước “chuyển mình” thật sự của văn h ọc đ ể ti ến t ới “phá cái
khoanh vùng hết sức hình thức của đề tài văn h ọc tr ước kia”. Và văn h ọc hôm
nay đang hướng tới những gì đang hiện hữu gi ữa cu ộc s ống đ ời th ường. “Nhà
văn hôm nay đang nêu tấm gương v ề s ự dám nghĩ, dám nói, dám th ẳng th ắn
bày tỏ lập trường công dân của mình. Ta hi ểu vì sao văn h ọc trong nh ững
năm gần đây dám bất chấp cả những đi ều c ấm k ỵ xưa nay và ph ạm vi nh ững
vấn đề xã hội mà nó quan tâm lại r ộng l ớn đ ến nh ư th ế” [87]. N ếu nh ư
trước năm 1975, vận mệnh sống còn của Tổ qu ốc luôn là l ựa ch ọn đ ầu tiên
của người cầm bút, thì chặng đường sau 1975, s ự th ức t ỉnh c ủa ý th ức cá
nhân đã chiếm thế thượng phong trên bàn cân bút l ực ng ười vi ết: “Vi ệc nh ận
thức đúng đắn vị trí của nhân dân trong đ ời s ống xã h ội, bu ộc nhà văn tìm
đến chỗ đứng phát ngôn bình đẳng v ới công chúng b ạn đ ọc c ủa mình. Đó là
cơ sở nảy sinh hình thức văn h ọc của ý th ức đ ối tho ại th ấm nhu ần tinh th ần
dân chủ” [87]. Nhà văn, nhân v ật tr ần thu ật của văn h ọc hôm nay không m ấy
khi xuất hiện trong tác phẩm ở ngôi th ứ ba nh ư con ng ười tuy vô hình nh ưng

truyện và hồi ký xuất hiện trong giai đoạn này như Cát bụi chân ai (1992 ) và
Chiều chiều (1999 ) của Tô Hoài, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn…”
[110].
Đánh giá về tiểu thuyết trong văn học thời kì đổi mới, Mai Hải Oanh đã
không ngần ngại khi đưa ra nhận định: “Ra đời trong không khí dân ch ủ, ti ểu
thuyết tự thuật thời kì đổi mới khá đa dạng. Có loại đậm ch ất gi ễu nh ại nh ư
Thượng đế thì cười, Ba người khác; có loại nói về những chua chát đời người
(Chuyện kể năm 2000), có loại nói đến những cảm nhận cá nhân về điều đã
trải nghiệm trong đó có những đoạn gần với nhật kí ( Chuyện của thiên tài)’’
[100, tr. 112]. Cách định dạng, gọi tên tiểu thuyết tự thuật th ời kì đ ổi m ới c ủa
Mai Hải Oanh cần phải bàn luận thêm, nhưng trong nhận định này ng ười vi ết
đã có một cái nhìn khá chuẩn xác khi cho rằng chính th ời kì đ ổi m ới đã mang
đến cho thể tiểu thuyết những diện mạo mới, đầy sức hấp dẫn.
Trong cuộc Hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết (2002), Ma Văn Kháng
đã từng nói: “Cùng với tiểu thuyết tư liệu, ti ểu thuyết tự thuật sẽ là một th ể

19


loại được phát triển”. Đây phải chăng là sự tiên liệu th ể hi ện góc nhìn đ ầy l ạc
quan của một “người trong cuộc”? Người mà gần như hành trình vi ết của ông
ở chặng đường từ sau thời kì đổi mới, từ Mùa lá rụng trong vườn , đến Ngược
dòng nước lũ hay Một mình một ngựa… người đọc đều có thể nhận thấy đâu
đó chất liệu đời tư của ông gần như ngồn ngộn trên trang ti ểu thuy ết [57, tr.
67].
Nghiên cứu về sự vận động của các thể loại văn xuôi trong văn h ọc th ời
kì đổi mới, Lý Hoài Thu cũng có quan điểm tương đồng v ới nhà văn Ma Văn
Kháng khi cho rằng: “Nhìn vào sự vận động và phát tri ển của h ệ th ống th ể
loại trong văn học thời kì đổi mới… sự thâm nhập của th ể ký vào “lãnh đ ịa”
của tiểu thuyết đã tạo nên một dòng ti ểu thuyết tự truyện có s ức hút l ớn

ngẫm và cái tôi rất riêng. Và mục đích c ủa tự truy ện là tìm hi ểu m ột con
người có thật với lịch sử hình thành nhân cách, còn ti ểu thuy ết, m ặc dù cũng
sử dụng nhân vật, cốt truyện đó nhưng đ ược h ư c ấu hóa, ho ặc đ ược c ấp cho
một lớp vỏ hư cấu. Căn cứ từ thực tiễn ấy, Đỗ Hải Ninh khẳng đ ịnh: “Văn h ọc
Việt Nam từ sau đổi mới đã có những thay đ ổi đáng k ể trong quan ni ệm v ề
hiện thực và con người, quan niệm về nhà văn trong m ối quan h ệ v ới tác
phẩm, với công chúng và v ới chính mình. Đó chính là c ơ s ở đ ể khuynh h ướng
tự truyện trong ti ểu thuyết Việt Nam đương đ ại tr ở nên khá ph ổ bi ến” [97].
Trong một bài viết khác, khi đi sâu vào khai thác m ối quan h ệ gi ữa t ự truy ện
- tiểu thuyết và một s ố dạng tự thu ật trong văn h ọc Vi ệt Nam đ ương đ ại, dù
biết rằng quy luật giao thoa thể loại và những n ỗ l ực cách tân ngh ệ thu ật
khiến cho việc phân biệt tự truy ện và ti ểu thuy ết t ự thu ật ngày càng tr ở nên
khó khăn hơn, nhưng Đỗ Hải Ninh cũng đã c ố g ắng lu ận gi ải v ấn đ ề này m ột
cách rành mạch: “Trong tự truy ện, cu ộc đ ời tác gi ả và b ức chân dung tinh
thần của ông ta trở thành đối tượng chính, tham gia tr ực ti ếp vào tác ph ẩm
như một bộ phận hữu cơ. Còn ở ti ểu thuy ết tự truy ện, nh ững chi ti ết ti ểu s ử
được nhào nặn lại, câu chuyện cuộc đời được cấu trúc và s ắp x ếp l ại, t ức là
tác giả tách khỏi những y ếu tố đời tư đ ể th ể hi ện v ới m ột đ ộ gián cách nh ất
định” [99]. Vì nếu như tự truy ện là d ạng văn b ản có tính quy chi ếu, thì
những tiểu thuyết tự thuật là những h ư cấu ngh ệ thu ật d ựa trên n ền ti ểu s ử
tác giả, chính đời tư của tác giả là ngu ồn ch ất li ệu c ơ b ản đ ể giúp tác gi ả

21


viết thành những trang ti ểu thuy ết.
Khi tiến hành khảo sát văn xuôi Việt Nam trong chặng đường từ sau
1990 để lý giải về hiện tượng tự thuật trong sáng tác văn xuôi c ủa các tác gi ả
nữ, Hồ Khánh Vân đã chỉ ra nguyên nhân khiến cho khuynh h ướng vi ết tự
truyện ngày một xuất hiện nhiều trong văn học Vi ệt Nam, đặc bi ệt là trong

khuynh hướng tự truyện trong văn học Việt Nam đ ương đại của Đỗ Hải Ninh),
chưa có một công trình thật sự chuyên sâu nào đi vào nghiên cứu về tự truy ện
và tính chất tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam thế kỷ XX.
1.3. Nhận xét và đánh giá về các tác phẩm cụ thể
1.3.1. Giai đoạn trước 1945
Khảo sát chặng đường một thế kỷ, từ lúc những dấu vết ban đầu của
tiểu thuyết có tính tự truyện xuất hiện cho đến khi ti ểu loại này hợp vào dòng
chủ lưu của tiểu thuyết Việt Nam, chúng tôi nhận thấy sự tồn tại của ti ểu
thuyết có tính chất tự truyện là nhờ “sự đọc” của công chúng đ ộc gi ả qua m ọi
thời đại, trong đó có sự góp mặt của những siêu độc giả, những người gần
như là nhịp cầu nối để đưa tiểu loại này đến gần hơn với công chúng.
Sau đây, chúng tôi điểm lược những bài viết, những công trình nghiên
cứu về tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam giai đoạn
trước 1945.
Từ những năm đầu thế kỷ XX, khi Nguyên Hồng viết cuốn Những ngày
thơ ấu, Thạch Lam, một trong những cây bút chủ lực của nhóm bút Tự l ực văn
đoàn đã không ngần ngại hạ bút đánh giá về Những ngày thơ ấu như sau: “nó
là sự rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại lạc loài trong nh ững l ề l ối
khắc nghiệt của một gia đình sắp tàn” [62]. Và khi chọn đưa Nguyên H ồng vào
Nhà văn hiện đại, trong phần nhận xét về Nguyên Hồng, Vũ Ngọc Phan cũng
đã quả quyết rằng Nguyên Hồng chính là “người Việt Nam thứ nh ất dám k ể
về gia đình mình” bằng những dòng tự bạch chân thành: “Thầy tôi làm ngh ề
cai ngục, mẹ tôi con nhà buôn bán…”. Ông vi ết: “Trong Những ngày thơ ấu,
Nguyên Hồng đã cho ta biết rõ hẳn một quãng đời quá khứ của ông. L ối tự
truyện này, ở Anh, ở Mỹ, ở Nga, rất thịnh hành; nhưng ở Việt Nam ta, vi ết
được, tôi cho là can đảm lắm” [104, tr. 126]. Đánh giá về tác ph ẩm này, chủ
yếu Vũ Ngọc Phan bàn về tính tự truyện như là “bản chất” thể loại của tác

23



24


nên sức s ống vững bền của Những ngày thơ ấu trong lòng độc gi ả chính là:
“Giá trị hiện thực, giá tr ị nhân đ ạo trong t ư t ưởng và bút pháp ngh ệ thu ật
của tác phẩm đã khi ến tác ph ẩm t ồn t ại b ền v ững qua th ử thách c ủa th ời
gian” [132].
Tiểu thuyết Dã tràng của Thiết Can tuy không tạo nên “làn sóng” bất
ngờ trong đời sống văn học đương thời, nhưng nó cũng được Vũ Ngọc Phan
lưu tâm đến. Theo như Vũ Ngọc Phan, trong Dã tràng, “Thiết Can cũng cho ta
biết cái phần đời đầy tội lỗi nhỏ nhen của ông ta, nhưng ông cho bi ết m ột
cách kín đáo ở tên Đông, trong tập Dã tràng, một tập văn chưa dám mang rõ
hẳn cái danh là tự truyện”. [103, tr. 96].
Cùng thời với Dã tràng của Thiết Can, còn có ti ểu thuy ết Bốc đồng của
nhà văn Đỗ Đức Thu. Đây cũng là m ột trong nh ững tác ph ẩm mà tính ch ất t ự
truyện nhuốm tràn lên cả trang ti ểu thuy ết. Khi đánh giá v ề Bốc đồng của
Đỗ Đức Thu, Vũ Ngọc Phan vi ết: “ Bốc đồng mà đặt vào loại ti ểu thuyết thì
chỉ là một tiểu thuyết rất tầm thường. Tác gi ả dựng truy ện đã b ừa bãi, r ặt
những chuyện con con, nối v ới nhau m ột cách s ơ sài, k ết c ấu cũng l ại không
được khéo”[104, tr. 172]. Đi vào khám phá tác ph ẩm Bốc đồng, Vũ Ngọc Phan
cũng nhận ra được những hạn chế nhất định của cu ốn ti ểu thuy ết này và
dường như nhà văn Vũ Ngọc Phan không m ấy có “thi ện c ảm” v ới l ối vi ết c ủa
Đỗ Đức Thu trong Bốc đồng. Có lẽ vì thế nên Vũ Ngọc Phan m ới vi ết nh ững
dòng như sau: “Đọc xong Bốc đồng, người ta có cái cảm tưởng như vừa mới
duyệt qua một nhóm người đứng lộn xộn, một b ọn người trông không rõ
hình thù, hầu hết đứng thập thò, không nh ận h ẳn đ ược v ẻ m ặt m ột ai” [104,
tr. 172].
Cùng chung trong dòng chảy của văn học hiện thực, sự xuất hi ện của
Mạnh Phú Tư với những trang tiểu thuyết có tính cách “đặc Việt Nam” của ông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status