thơ tứ tuyệt trong văn học việt nam từ thế kỷ x đến thế kỷ xix - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN KIM CHÂU

THƠ TỨ TUYỆT TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ
THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XIX

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2000



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.

Tác giả luận án

3


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 3
MỤC LỤC .................................................................................................................... 4
PHẦN DẪN NHẬP ...................................................................................................... 6
1. Ý nghĩa của đề tài ...........................................................................................................6
2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................................9
3. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................................14
4. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................15


2.5. Nhận xét chung ..........................................................................................................62

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ TỨ TUYỆT VIỆT
NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XIX .............................................................. 64
3.1. Sự hình thành, phát triển của thơ tứ tuyệt - nhìn từ góc độ quan niệm nghệ
thuật. ..................................................................................................................................64
3.2. Cách lựa chọn và tổ chức hình ảnh ..........................................................................72
3.2.1. Cách lựa chọn hình ảnh: .......................................................................................72
3.2.2. Cách tổ chức hình ảnh...........................................................................................81
3.2.3. Thơ tứ tuyệt và những khoảnh khắc chuyển biến đột ngột trong cảm xúc, nhận
thức của nhà thơ. .............................................................................................................96
3.3. Bố cục bài thơ tứ tuyệt ............................................................................................103
3.3.1. Câu khởi ..............................................................................................................106
3.3.2. Câu thừa ..............................................................................................................109
3.3.3. Câu chuyển..........................................................................................................111
3.3.4. Câu hợp (kết) ......................................................................................................115
3.4. Đặc điểm ngôn ngữ thơ tứ tuyệt cổ điển việt nam ................................................118
3.4.1. Những đặc điểm về từ ngữ..................................................................................120
3.4.2. Những đặc điểm về cú pháp ...............................................................................134
3.4.3. Hiện tượng câu thơ 6 chữ trong bài thơ tứ tuyệt thất ngôn xen lục ngôn. ..........148

PHẦN KẾT LUẬN .................................................................................................. 156
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 163
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH ........................................................................ 166

5


PHẦN DẪN NHẬP

đã từng diễn ra liên tục suốt chiều dài lịch sử. Nó quy định sự hình thành, phát triển của
dòng văn học bác học chủ yếu dựa trên văn tự Hán. Một trong những biểu hiện cụ thể của
ảnh hưởng đó chính là việc vay mượn thể loại mà phổ biến nhất là hiện tượng sử dụng các
thể thơ Đường luật như bát cú, tứ tuyệt.
Với tư cách những thành tựu nghệ thuật của thơ ca thời Đường, bát cú và tứ tuyệt được
các nhà thơ cổ điển đặc biệt ưa chuộng ở cả Trung Quốc lẫn Việt Nam. Tuy nhiên, so với
bát cú, tứ tuyệt có số phận lịch sử đặc biệt hơn. Có nguồn gốc từ trước thời Đường và hoàn
chỉnh về thi luật trong thời Đường, tứ tuyệt là một thể thơ được sử dụng khá phổ biến trong
văn chương cổ điển Trung Quốc. 73 bài tuyệt cú (Thất ngôn và ngũ ngôn) được chọn giới
thiệu trong “Đường thi tam bách thủ” [148] là một con số đáng kể cho phép ta hình dung
được sự phát triển của thể thơ nhỏ gọn này suốt thời kỳ hoàng kim của thơ ca Trung Hoa.
Ở Việt Nam, sự có mặt của tứ tuyệt được ghi nhận khá sớm qua một bài thơ mang tính
chất đối đáp giữa nhà sư Pháp Thuận, trong vai một người “cai quản bến đò”, với Lý Giác,
sứ thần nhà Tống (năm 986) [129,tr. 82 ]. Nhiều bài tứ tuyệt thời Lý - Trần như “Nam quốc
sơn hà”, “Tùng giá hoàn kinh sư”, “Thuật hoài”... đã trở thành tiếng nói ngắn gọn nhưng hết
sức tiêu biểu, có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với người Việt Nam buổi đầu dựng nước,
giữ nước. Đa số kệ của những nhà sư thời Lý - Trần được viết bằng dạng thức “tứ cú”. Các
ông vua - thi sĩ nổi tiếng thời Trần, thời Lê; các nhà thơ Huyền Quang, Nguyễn Trung
Ngạn, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, Trương Hán Siêu, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh,
Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Trần Tế
Xương,.. đều có những bài tứ tuyệt hay, được người đời sau nhắc nhở
Hơn thế, tứ tuyệt lại tiếp tục đồng hành với tiến trình văn học Việt Nam hiện đại bằng
khả năng tự điều chỉnh, đổi mới, để hôm nay, nó vẫn là một bộ phận không thể thiếu được
trong sự phát triển các hình thức, thể loại thơ ca đương đại.
Thực tế này khẳng định rằng thơ tứ tuyệt cổ điển Việt Nam cần được nhìn nhận, đánh
giá toàn diện, khách quan hơn về vị trí, quá trình phát triển, những đặc điểm, ưu thế nghệ
thuật cũng như khả năng tự đổi mới để tiếp tục được sử dụng trong thơ ca đương đại.
1.2. Những thập niên cuối của thế kỷ XX chứng kiến một bước chuyển biến mới của
khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam bằng sự xuất hiện hướng tiếp cận các hiện tượng văn
7

nhận tác phẩm như một chỉnh thể phức hợp của những mối liên hệ bên trong lẫn bên ngoài
được thể hiện qua mối quan hệ giữa các yếu tố: “Cuộc sống - nhà văn - tác phẩm - người
thưởng thức”. Một cái nhìn toàn vẹn từ nhiều góc độ sẽ mở ra những khả năng to lớn trong
8


việc khảo sát, lý giải sâu sắc hơn những đặc điểm nghệ thuật hay khẳng định thuyết phục
hơn những ưu thế của thơ tứ tuyệt trong miêu tả, biểu hiện.
1.3. Thơ tứ tuyệt không chỉ được quan tâm trong quá trình giảng dạy phần văn chương
cổ điển Trung Quốc và Việt Nam ở bậc Đại học mà còn xuất hiện với tư cách là những tác
phẩm được chọn giảng chính thức trong chương trình giảng văn ở bậc Phổ thông. Thực tế
cho thấy việc giảng dạy một bài thơ chỉ có bốn câu trong 45 phút của một tiết học quả
không phải là điều dễ dàng. Tình trạng “ướt giáo án” vẫn thường diễn ra nhất là đối với các
sinh viên thực tập lần đầu đứng lớp. Là một giáo viên ngữ văn ở trường Đại học, qua luận
án này, người viết muốn đóng góp thêm một số hiểu biết nhất định của mình về thơ tứ tuyệt
nói chung và thơ tứ tuyệt cổ điển Việt Nam nói riêng nhằm phục vụ cho các sinh viên ngành
Sư phạm Văn trong công tác học tập, thực tập sư phạm và giảng dạy sau này.

2. Lịch sử vấn đề
Lượng bài thơ tứ tuyệt trong sự nghiệp sáng tác của một tác giả hay trong các thi tuyển
Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX thường ít hơn các bài thơ bát cú. Trong văn học hiện
đại, từ Phong trào Thơ mới trở đi, các thể thơ mới, thơ tự do lấn át khiến cho tứ tuyệt được
sử dụng khá hạn chế. Mãi đến hai thập niên gần đây, văn học đương đại mới chứng kiến sự
xuất hiện trở lại, ngày càng nhiều của thể thơ ngắn gọn này. Trong tình hình đó, việc ít quan
tâm đến tứ tuyệt của giới nghiên cứu văn học là hoàn toàn có lý do.
2.1. Ngay từ thời kỳ trung đại, những nhà nghiên cứu, phê bình thơ Việt Nam rất ít bàn
về thơ tứ tuyệt. Chúng tôi đã tìm đọc các công trình có tính chất giới thiệu tổng hợp về quan
niệm thơ của các nhà thơ, nhà nghiên cứu, lý luận phê bình văn học thời trung đại như:
“Thơ với người xưa” [137], “Từ trong di sản” [120], “Các tác gia cổ điển Trung Quốc và
Việt Nam bàn về thơ” [138], “Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung đại Việt

thường quan tâm đến việc giới thiệu bố cục, tổ chức kết cấu ngữ âm, vần điệu trong các
dạng thức ngũ tuyệt hoặc thất tuyệt và nhấn mạnh đặc điểm hàm súc tối đa của ngôn từ thơ
tứ tuyệt. Một số tác giả thường kết hợp giới thiệu các đặc điểm hình thức của thơ tứ tuyệt
sau khi phân tích, giới thiệu kỹ về thể thơ bát cú. Một số tác giả khác đã có cái nhìn khách
quan và khoa học hơn để xác nhận nguồn gốc và khẳng định rằng tứ tuyệt là một thể thơ độc
lập, thậm chí, nó còn có thể ra đời trước bát cú. Tuy vậy, mức độ quan tâm của các tác giả
này đối với tứ tuyệt cũng chỉ dừng lại ở chừng mực nhất định 1 .

Để tránh trùng lặp, ở đây, chúng tôi chỉ xin nêu lên một số nhận xét khái quát. Các chi tiết cụ thể
về nhữngquan niệm khác nhau đối với thơ tứ tuyệt sẽ được trình bày kỹ hơn trong mục “Khái niệm”
của phần Nội dung

1

10


Trong những công trình đề cập trên, cuốn “Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại”
[84] của Bùi Văn Nguyên là một công trình có chú ý đáng kể đến quá trình hình thành và
phát triển của thơ tứ tuyệt từ giai đoạn Lý - Trần đến thơ ca hiện đại.
Tác giả đã có nhiều kiến giải bao quát được những vấn đề liên quan đến nội dung và
hình thức của thơ tứ tuyệt ở từng giai đoạn cụ thể. Đặc biệt, tác giả quan tâm đến việc lý
giải nguồn gốc, định danh khái niệm, xác định rõ nội dung khái niệm tứ tuyệt, khẳng định
tính hoàn chỉnh, độc lập của bài thơ tứ tuyệt để kết luận rằng đó không phải là một thể thơ
“phái sinh” từ bát cú. Khi khảo sát tiến trình thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam, ở mỗi
giai đoạn cụ thể, người viết đều dừng lại, tập trung lý giải nguyên nhân hưng thịnh hoặc suy
thoái của thể thơ chủ yếu là dựa vào sự tương thích của nó đối với nhu cầu miêu tả, biểu
hiện của nhà thơ trong những biến động lịch sử đặc biệt của giai đoạn đó. Mặt khác, tác giả
cũng đã giới thiệu các đặc điểm về bố cục, cách lựa chọn hình ảnh, đặc điểm hàm súc tối đa
của ngôn từ thơ và ưu thế thể hiện của thể thơ. Công trình này là một trong những định

Tác giả Đoàn Thị Thu Vân có nhiều đóng góp trong việc khảo sát các đặc điểm nghệ
thuật của thơ Thiền Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, đặc biệt là những nét độc đáo của
các bài “Tứ cú kệ” cực kỳ ngắn gọn mang tính chất “điểm ngộ”, “khai mở” rất thích hợp với
nhu cầu truyền phổ, thuyết giảng đạo lý nhà Phật. Tuy nhiên, các công trình này chỉ nghiên
cứu đặc điểm hay sự phát triển của tứ tuyệt trong một giai đoạn, một thời đại thi ca nhất
định.
2.4. Năm 1997, nhà xuất bản Giáo Dục cho in cuốn “Về thi pháp thơ Đường” [98],
trong đó tập hợp một số bài viết của các tác giả Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cùng với
công trình “Bút pháp thơ ca Trung Quốc” của François Cheng, nhà nghiên cứu văn học
người Pháp gốc Trung Quốc và công trình “Sức quyến rũ của thơ Đường” của hai nhà
nghiên cứu văn học người Trung Quốc, quốc tịch Mỹ là Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân. Tập
sách này là sự đóng góp một cải nhìn mới mẻ về thơ Đường từ góc độ thi pháp thể loại, thi
pháp ngôn từ, các vấn đề về thời gian và không gian nghệ thuật (Bài viết “Thời gian, không
gian trong thơ Đường” của Trần Đình Sử), về đặc điểm bố cục, phép đối trong thơ Đường
(Các bài viết “Vấn đề đối ngẫu trong thơ Đường luật”, “Về trình tự phân tích một bài thơ
bát cú Đường luật” của Nguyễn Khắc Phi). Đặc biệt, các công trình “Bút pháp thơ ca Trung
Quốc” và “Sức quyến rũ của thơ Đường” đã dựa trên cơ sở lý thuyết thi pháp ngôn ngữ của
R. Jacobson để khảo sát một cách toàn diện đặc điểm lựa chọn và kết hợp ngôn từ của các
nhà thơ thời Đường trong mối quan hệ đối sánh với ngôn ngữ thơ ca phương Tây. Những
kiến giải của François Cheng chủ yếu dựa trên cơ sở lý thuyết ký hiệu học bởi, theo ông,
“Toàn bộ thơ Đường là một bài ca được viết ra cũng như một bài viết được hát lên. Qua
những ký hiệu, vẫn tuân theo nhịp điệu nguyên sơ, lời nói đã bung ra, lan tràn tứ phía hoạt
12


động tạo nghĩa của nó. Khoanh lại trước tiên tính hiện thực của những ký hiệu này - những
chữ viết ghi ý của người Trung Quốc - những đặc điểm của chúng, những mối liên quan
giữa chúng với những hoạt động tạo nghĩa khác - đã làm nổi bật một vài nét chủ yếu của thơ
ca Trung Quốc” [98, tr. 78]. Hai tác giả Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân chú ý khảo sát các
vấn đề về cú pháp, cách lựa chọn ngôn từ và sử dụng hình ảnh của thơ Đường trong quan hệ

từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX so với tứ tuyệt Đường thi và với các thể thơ khác vẫn còn là
những vấn đề chưa được quan tâm triệt để.

3. Mục đích nghiên cứu
Dựa trên những thành tựu cũng như những vấn đề chưa được giải quyết triệt để trong
thực tiễn nghiên cứu thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, luận án này hướng
tới việc giải quyết một số vấn đề cơ bản sau:
3.1. Xác định vị trí, miêu tả tiến trình thể loại của thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam
từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX qua việc thống kê và khảo sát một cách tương đối tỷ lệ
sử dụng thể thơ này trong phạm vi sáng tác từ văn học Lý - Trần đến văn học giai đoạn
cuối thế kỷ XIX qua các công trình khảo cứu, các hợp tuyển hoặc tuyển tập thơ của một số
tác giả tiêu biểu ở từng giai đoạn.
3.2. Góp phần lý giải nguyên nhân hình thành, phát triển cũng như sức sống lâu bền
của thơ tứ tuyệt trên cơ sở những nét đặc thù trong quan niệm nghệ thuật của văn chương cổ
điển, những đặc điểm và ưu thế thích ứng của thể thơ đối với nhu cầu phản ánh và biểu hiện
ở từng giai đoạn văn học cụ thể.
3.3. Mục tiêu chính của đề tài là khảo sát các đặc điểm nghệ thuật của thơ tứ tuyệt Việt
Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX trong mối quan hệ đối sánh với tứ tuyệt Đường thi
và với các thể thơ khác. Như đã trình bày, chúng tôi đặt ra mục tiêu khảo sát, lý giải các đặc
điểm nghệ thuật của thơ tứ tuyệt dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa các yếu tố: cuộc sống nhà văn - tác phẩm – người đọc. Nói cách khác, trong quá trình khảo sát những đặc điểm
nghệ thuật của thể thơ này, chúng tôi không những chỉ căn cứ vào chính cấu trúc nội tại của
tác phẩm mà còn căn cứ vào mối quan hệ với những tác động sâu sắc, những nhu cầu cần
phản ánh của hiện thực đời sống, với các quy luật tâm lý sáng tạo và tiếp nhận văn học.

14


4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Để xác định những đặc điểm, trên nguyên tắc chung, cần phải khảo sát thơ tứ
tuyệt Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX trong mối quan hệ đối sánh với nhiều hệ

kỷ thứ XIX
- Đặc biệt, không thể phủ nhận mối quan hệ ảnh hưỏng, tác động sâu sắc của thơ
Đường nói chung và thơ tứ tuyệt thời Đường nói riêng đối với thơ tứ tuyệt cổ điển Việt
Nam. Vì vậy, chúng tôi đã chọn 100 bài thơ tứ tuyệt Đường thi dùng làm cơ sở đối chứng 1
khi cần thống kê, so sánh tỷ lệ để xác định mối quan hệ kế thừa và sáng tạo cũng như
những nét khác biệt của thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX so với
thơ tứ tuyệt Đường thi.
4.2.2. Phương pháp phân tích - so sánh được sử dụng nhằm tìm hiểu:
- Ảnh hưởng của Đường thi, của thơ ca bác học và thơ ca dân gian Việt Nam đối với
quá trình phát triển của thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ thứ X - XIX.
- Đặc điểm nghệ thuật, những ưu thế thể hiện của tứ tuyệt cổ điển Việt Nam.
Tóm lại, các phương pháp, thao tác nghiên cứu đều nhằm đến mục đích cố gắng làm rõ
tính loại biệt về thể loại, xác định quá trình hình thành, phát triển, những đặc điểm nội dung
và nghệ thuật của thơ tứ tuyệt cổ điển Việt Nam trong mối quan hệ so sánh, đối chiếu với tứ
tuyệt cổ điển Trung Quốc.

5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu và tư liệu
5.1 .Văn học dân tộc bao gồm hai bộ phận: văn học viết và văn học dân gian. Đề tài
chỉ giới hạn nghiên cứu kiểu bài thơ bốn câu xuất hiện trong phần văn học viết từ thế kỷ thứ
X đến cuối thế kỷ thứ XIX.
5.2. Đề tài chỉ tập trung thu thập tư liệu từ sự nghiệp sáng tác của một số nhà thơ tiêu
biểu ở các giai đoạn văn học.

1

Xin xem tên các bài thơ được chọn trong phần “Phụ Lục”
16


5.3. Những tác phẩm văn học cổ đã mất mát nhiều theo thời gian. Thơ của hầu hết các

từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ TỨ TUYỆT VIỆT NAM
TỪ THẾ KỶ THỨ X ĐẾN THẾ KỶ THỨ XIX
Thể loại là một phạm trù mang tính lịch sử. Vì vậy, việc nghiên cứu thể loại, trước hết,
cần được tiến hành trên cơ sở tìm hiểu, lý giải con đường hình thành, phát triển thể loại dựa
vào sự thích ứng của nó với nhu cầu phản ánh và biểu hiện ở từng giai đoạn cụ thể.
Mặt khác, để phân tích, cảm thụ, người tiếp nhận phải khởi đầu từ ngôn ngữ, bố cục
bài thơ để cảm nhận vẻ đẹp của hình ảnh và cuối cùng là hiểu được tư tưởng của tác phẩm.
Công việc sáng tác một bài thơ phải bắt đầu theo hướng ngược lại: Từ những ý tưởng phát
sinh do hứng thú, cảm xúc trước tác động của ngoại cảnh, nhà thơ sẽ chọn lọc và tổ chức
những hình ảnh từ thực tế cuộc sống để diễn đạt các ý tưởng. Tuy nhiên, các hình ảnh thể
hiện ý tưởng phải được sắp xếp trong một bố cục chặt chẽ tùy thuộc vào quy cách thể thơ
hoặc ý đồ nghệ thuật của tác giả. Đặc biệt, với thơ Đường luật (Chủ yếu là bát cú và tứ
tuyệt), việc sắp xếp ý tưởng, hình ảnh trong mỗi câu thơ cần tuân thủ theo đúng quy cách bố
cục “Khai - thừa - chuyển - hợp”. Cuối cùng, tác giả dùng ngôn ngữ nghệ thuật để thể hiện
những cảm nhận, suy tưởng qua bài thơ. Vì vậy, ở chương này, đề tài giải quyết các vấn đề
cụ thể sau:
3.1. Sự hình thành, phát triển của tứ tuyệt nhìn từ góc độ quan niệm nghệ thuật
3.2. Cách lựa chọn và tổ chức hình ảnh.
3.3. Bố cục bài thơ tứ tuyệt.
3.4. Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt
Phần Kết Luận
Chúng tôi cố gắng đưa ra một số nhận định khái quát về sự phát triển của thơ tứ tuyệt
trong văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX và phác thảo vài nét về sự phát triển

18


của thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam hiện đại, khởi đi từ Phong trào Thơ mới đến thơ
Cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và thơ tứ tuyệt đương đại.

sớm: “Tứ là bốn, tuyệt là dứt, ngắt. Lối này gọi thê vì thơ tứ tuyệt là ngắt lấy bốn câu trong
bài bát cú mà thành” [39, tr. 27 ]
Tác giả Bùi Văn Nguyên cũng viết: “Thơ bốn câu người ta còn gọi là tứ tuyệt tức là
bài thơ gồm bốn câu có ý nghĩa thật hay. Trong văn học Trung Quốc, người ta không gọi tứ
tuyệt mà gọi là tuyệt cú” [ 84, tr. 213 ]
Tác giả Nguyễn Khắc Phi, trong “Từ điển thuật ngữ văn học”, xác định: “ở ta, quen
gọi là thơ tứ tuyệt. Nghĩa rộng là những bài thơ bốn câu mỗi câu 5 hoặc 7 chữ. Theo nghĩa
hẹp là một dạng của thơ Đường luật, có quy định bằng trắc, niêm đối” [96, tr. 272]
20


Tác giả Lạc Nam trong “Tìm hiểu các thể thơ” cũng có định nghĩa cùng lúc sử dụng
hai thuật ngữ để định danh một khái niệm: “Thơ bốn câu gọi là thơ tứ tuyệt, người Trung
Quốc gọi là tuyệt cú”...[77, tr. 108 ]
Việc sử dụng cùng lúc hai thuật ngữ tứ tuyệt và tuyệt cú tồn tại suốt một thời gian dài,
thậm chí, ở Việt Nam, thói quen sử dụng rộng rãi thuật ngữ tứ tuyệt khiến thuật ngữ tuyệt cú
hầu như chỉ còn được sử dụng khi cần nghiên cứu chuyên sâu. Mãi đến gần đây, trên tạp chí
“Văn Nghệ Trẻ” số 25 (1997), tác giả Tạ Ngọc Liễn mới đặt ra vấn đề có nên dùng thuật
ngữ tứ tuyệt hay không? [70]. Theo ông, trong các tài liệu xưa chưa hề có chỗ nào dùng
thuật ngữ tứ tuyệt. Từ lúc khởi nguyên, người Trung Quốc chỉ sử dụng thuật ngữ tuyệt cú để
chỉ những bài thơ bốn câu ngũ ngôn, lục ngôn hoặc thất ngôn, có quy định bằng trắc, niêm
luật chặt chẽ. Tiếp liền sau đó, trên báo “Văn Nghệ Trẻ”, tác giả Nguyễn Khắc Phi, trong
bài “Về khái niệm tứ tuyệt” [106], có ý kiến trao đổi như sau: “Tứ tuyệt được hiểu như một
từ đồng nghĩa với tuyệt cú, một cách gọi hiện đại của một thể thơ xưa từng mang tên tuyệt
cú”. Theo ông, “một từ, khi đã có đời sống riêng, được hiểu một cách tương đối thống nhất
thì bất tất phải xoá bỏ, cho dù nó đã mang một nghĩa nội hàm khác với lúc ban đầu xuất
hiện”. Tuy nhiên, vẫn theo ông, dù có thể và nên dùng thuật ngữ tứ tuyệt nhưng cần phải
hiểu rằng thuật ngữ này “vẫn mang dấu hiệu khu biệt của tuyệt cú vốn đã tồn tại ổn định
ngót 1500 năm nay: bốn dòng, vần chân, số chữ ở bốn dòng bằng nhau”.
Theo chúng tôi, cách hiểu hai thuật ngữ cùng mang một nội dung như nhau có chỗ bất

nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường” của Nguyễn Sĩ Đại [25]... đã có những cách hiểu có
khả năng bao quát các trường hợp phá cách của thơ tứ tuyệt. Đặc biệt, tác giả Nguyễn Sĩ
Đại đề xuất một cách hiểu khá rộng: “Tứ tuyệt trước hết là một bài thơ bốn câu, không nhất
thiết ngũ ngôn hay thất ngôn, không nhất thiết phải có niêm luật chặt chẽ” [25, tr. 4].
Vấn đề thứ hai là sự tồn tại của hai cách hiểu khác nhau về chữ “Tuyệt”:
- Quan niệm thứ nhất cho rằng: “Tuyệt” là dứt, ngắt, cắt:
Theo tác giả Nguyễn Sĩ Đại, ở Trung Quốc, ngay từ thời Minh Thanh, những học giả
như Ngô Nột, Truyền Nhữ Bảng, Tiền Mộc Am,.. đều xem tuyệt cú là thể thơ “tiệt luật thi
chi bán” (Nửa bài cắt ra từ luật thi) [25].
“Từ Hải từ điển” cũng có một định nghĩa tương tự nhưng thận trọng hơn: “Hữu nhân
thuyết tuyệt thi thị tiệt thủ luật thi đích nhất bán nhi thành” (Có người nói tuyệt thi là do cắt
nửa bài luật thi mà thành) [127, tr. 9]
22


Ở Việt Nam, Dương Quảng Hàm là người chịu ảnh hưởng rất rõ của thuyết này: “Tứ
nghĩa là dứt, ngắt. Lối này gọi thế vì thơ tứ tuyệt ngắt lấy bốn câu
trong bài bát cú mà thành” [39, tr. 14]
Cuốn “Từ trong di sản” do Nguyễn Minh Tấn chủ biên cũng có một định nghĩa như
vậy: “Theo lối thơ này (tức tứ tuyệt) thường cắt hai câu đầu, hai câu cuối hoặc bốn câu cuối
(của bài bát cú) mà thành” [120, tr. 69]
Tác giả Nguyễn Khắc Phi trong “Từ điển văn học” [94] và “Từ điển thuật ngữ văn
học” [96] cho rằng: “Luật tuyệt, còn gọi là tuyệt ngôn luật thi, là do luật của bài bát cú quy
định giống như cắt từ bài bát cú mà ra”.
Cách hiểu này xuất phát từ nghĩa gốc của chữ “tuyệt” nên cũng có những hạt nhân hợp
lý nhưng lại rất dễ dẫn đến một quan niệm chưa thực sự khách quan về nguồn gốc của tứ
tuyệt, cho rằng nó chỉ là một dạng thức “phái sinh” từ bát cú và vì vậy, chắc chắn phải ra
đời sau bát cú.
- Quan niệm thứ hai cho rằng: “tuyệt” là tuyệt diệu, tuyệt vời.
Từ quan niệm “Tuyệt cú giả - nhất cú nhất tuyệt dã” của Dương Thận đời Minh và

“cấu trúc đa chiều vừa đủ sức phản ánh hiện thực vừa mang tính khái quát cao” (Nguyễn Sĩ
Đại).
Cách hiểu này hợp lý hơn khi xem bài thơ tứ tuyệt là một chỉnh thể độc lập, hoàn hảo
về cấu trúc chứ không phải là kết quả của sự cắt ra từ bài bát cú. Khi đứng độc lập với tư
cách là một thể thơ nhỏ gọn nhất trong các thể thơ được sử dụng ở Trung Quốc từ đời
Đường về sau và ở Việt Nam thời trung đại, bắt buộc tứ tuyệt phải là sự tinh lọc tối đa hình
ảnh và cảm xúc, phải dồn nén được toàn bộ tài năng và tâm lực của nhà thơ sao cho bài thơ
nhỏ gọn ấy có thể chuyển tải được những vấn đề lớn lao, đa dạng, sâu xa của đời sống và
tâm linh. Muốn vậy, mỗi câu, mỗi chữ cần phải có sức nặng, phải thật sự “tuyệt vời”.
1.1.3. Vấn đề nguồn gốc thơ tứ tuyệt.
Quan niệm bài thơ tứ tuyệt là do những cách cắt khác nhau của bài thơ bát cú mà thành
đã dẫn đến việc cho rằng tứ tuyệt xuất hiện sau bát cú. Theo tác giả Nguyễn Sĩ Đại, “thuyết
này khá phổ biến với những tác giả như Ngô Nột đời Minh trong Văn Chương Biện Thể,
Truyền Nhữ Bảng (đời Thanh) trong Thi Pháp Nguyên Lưu, Tiền Mộc Am (đời Thanh)
trong Đường Âm Thẩm Thể ”[25, tr. 28].
24


Mâu thuẫn với thuyết “tiệt luật thi chi bán”, các học giả Trung Quốc như Hồ Ứng Lân
(đời Minh), Vương Sĩ Trinh, Lý Gia Ngôn, La Căn Trạch, Đổng Văn Hoán (đời Thanh)...
đều cho rằng “Luật thi thực do tuyệt cú bội phiên nhi thành”, tức tứ tuyệt xuất hiện trước bát
cú và có thể là tiền thân của bát cú. Hồ Ưng Lân đặt vấn đề: “Ý kiến bảo rằng (tuyệt cú) là
cắt hai liên đầu, cuối hoặc ở giữa của một bài thơ cận thể là không đáng tin. Ngũ ngôn tuyệt
cú đã xuất hiện ở hai kinh (Trường An và Lạc Dương) khi chưa có ngũ ngôn luật thi; thất
ngôn tuyệt cú cũng đã có từ thời tứ kiệt (Bốn nhà thơ nổi tiếng thời sơ Đường: Dương
Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương, Vương Bột) bấy giờ cũng chưa có thất ngôn luật
thi” [ 106]
Ở Việt Nam, tác giả Trần Trọng San khẳng định: “Trong dân ca đời Lục Triều, đã thấy
có những bài bốn câu 5 chữ hoặc 7 chữ. Các nhà quý tộc mới phỏng theo đó mà làm ra
những bài bốn câu ngũ ngôn, lục ngôn hoặc thất ngôn. Đến đời Đường, lối thơ bốn câu này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status