Phong cách tự sự dân gian trong văn học Việt Nam đương đại (Khảo sát qua các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Huy Thiệp - Pdf 25


116
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3
PHẦN NỘI DUNG 14
Chương 1: Phong cách tự sự dân gian với vấn đề ảnh hưởng của văn học
dân gian đối với văn học viết 14
1.1: Đặc trưng của văn học dân gian trong tương quan với văn học viết 14
1.2: Sự xâm nhập của văn học dân gian đối với văn học viết và những
biểu hiện của phong cách tự sự dân gian trong văn xuôi Việt Nam đương
đại 17
1.2.1: Sự xâm nhập của văn học dân gian đối với văn học viết 17
1.2.2: Những biểu hiện của phong cách tự sự dân gian trong văn xuôi
Việt Nam đương đại 26
Chương 2: Các yếu tố tự sự mang âm hưởng dân gian trong sáng tác
Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Huy Thiệp 30
2.1: Mạch ngầm dân gian trong xây dựng cốt truyện 31
2.1.1: Truyện giả huyền thoại, giả cổ tích 31
2.1.2: Truyện cũ viết lại 37
2.1.3: Truyện lồng truyện 40
2.2: Mạch ngầm dân gian trong việc tạo dựng không gian và thời gian
nghệ thuật 42
2.2.1: Không gian nghệ thuật 42
2.2.2: Thời gian nghệ thuật 55
2.3: Mạch ngầm dân gian trong xây dựng hệ thống nhân vật 60
2.3.1: Nhân vật xuất thân từ huyền thoại 60
2.3.2: Nhân vật nữ 64
2.3.3: Nhân vật cộng đồng 68
Chương 3: Một số tín hiệu nghệ thuật dân gian trong sáng tác Nguyễn
Xuân Khánh, Nguyễn Huy Thiệp 72

hấp dẫn của nền văn học.
1.2: Trong các nhà văn Việt Nam đương đại việc sử dụng những chất
liệu dân gian trong sáng tác là một điều dễ nhận thấy với những mức độ đậm
nhạt khác nhau. Trong đó phải kể đến hai tác giả tiêu biểu và đây cũng là hai
tác giả là đối tượng mà chúng tôi muốn đề cập đến trong luận văn của mình:
nhà văn Nguyễn Xuân Khánh với tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn (đạt giải
thưởng tiểu thuyết Hội nhà văn Việt Nam 2006) và tác giả Nguyễn Huy
Thiệp, một cây bút truyện ngắn xuất sắc, tiêu biểu nhất của cao trào đổi mới
văn học Việt Nam sau năm 1986. Hai cá tính, hai phong cách nghệ thuật khác
nhau cũng như cách thức khai thác chất liệu dân gian không giống nhau,
Nguyễn Xuân Khánh và Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên được những dấu ấn
đặc biệt và thành tựu đáng ghi nhận. Với những sáng tạo nghệ thuật có cội
nguồn cắm rễ bởi nguồn mạch dân gian, họ cũng như những cánh diều lượn

4
bay trong không gian rộng lớn để hứng lấy ngọn gió mới của thời đại nhưng
vẫn bám chặt lấy đất mẹ để tiếp thêm nguồn sức mạnh và hút lấy những chất
nhựa tinh tuý nhất.
Trong đó, sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp hiện rõ tính liên tục và đứt
đoạn của lịch sử văn học dân tộc. Đứt đoạn bởi những khám phá và sáng tạo
không ngừng của cá nhân người nghệ sĩ. Liên tục được tạo bởi sự tiếp thu và
kế thừa nguồn mạch truyền thống. Một mặt, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
đã động chạm đến những vấn đề nhức nhối của hiện thực, một hiện thực đang
bị ly tán, phân rã, mặt khác nó lại bàng bạc những màu sắc dân gian của lớp
trầm tích văn hoá tồn tại trong thẳm sâu kho “kí ức tập thể” và “vô thức cộng
đồng” dưới dạng những “siêu mẫu” (archétype) (chữ dùng của Sigmund
Freud).
Nguyễn Xuân Khánh được độc giả biết đến nhiều với tiểu thuyết Hồ
Quý Ly, sau 5, 6 năm sau ông lại tiếp tục được đón nhận với tiểu thuyết Mẫu
thượng ngàn, cuốn tiểu thuyết đặc sắc, tinh tế về văn hoá phong tục Việt

gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam … đã đề cập đến tính
đặc thù của sự phát triển nền văn học viết trong mối tương quan với văn học
dân gian Việt Nam. Lê Kinh Khiên trong bài Một số vấn đề lý thuyết chung về
mối quan hệ văn học dân gian-văn học viết đã đưa ra những lập luận, kiến
giải về điều kiện và hoàn cảnh ra đời, đặc trưng thi pháp và quy luật chung
của sự tác động giữa văn học dân gian và văn học viết.
Ngoài ra, có những công trình, những bài viết đã đi sâu vào một số khía
cạnh cụ thể trong sự tác động qua lại giữa hai hệ thống nghệ thuật:
Trong bài nghiên cứu Vai trò của văn học dân gian trong sự phát triển
của văn học dân tộc [43], tác giả Đặng Văn Lung đã tổng kết các cách sử
dụng của các tác giả đối với văn học dân gian gồm: 1. Dùng y nguyên câu và
truyện dân gian, 2. Tiếp nhận một vài yếu tố của câu và truyện, 3. Các nhà
văn sử dụng chất liệu diễn xướng của văn học dân gian, 4. Sử dụng phương
thức khuyết danh và truyền miệng của văn học dân gian để sáng tác ra truyện
Nôm khuyết danh. Từ đó nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận: Văn học dân gian

6
và văn học viết có mối quan hệ bên trong, bên ngoài theo những quy luật nhất
định. Ở mỗi thời kỳ lịch sử mối quan hệ ấy có thiết diện khác nhau mà các
nguyên nhân tạo ra các thiết diện ấy cũng khác nhau.
Về sự hình thành thể loại, Kiều Thu Hoạch trong bài Vai trò của truyện
kể dân gian đối với sự hình thành các thể loại tự sự trong văn học Việt Nam
[22] đã chứng minh rằng, folklore nói chung, văn học dân gian nói riêng là cơ
sở, nền tảng đối với sự hình thành nền văn học viết trong đó có thể loại tự sự.
Truyện kể dân gian đã ảnh hưởng đến dòng văn học của dân tộc khởi đầu
được ghi chép bằng chữ Hán từ thời Lý cho đến thời kỳ cận đại và góp phần
đắc lực nhất, mạnh mẽ nhất vào sự ra đời của các thể loại tự sự của văn học
viết.
Bên cạnh đó còn có những công trình đi vào nghiên cứu sự ảnh hưởng
của văn học dân gian đối với những tác phẩm nghệ thuật cụ thể như Vũ Ngọc

những dấu ấn của truyện cổ dân gian đối với bộ phận truyện trong văn học
Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay ở góc độ sử dụng thi pháp, cốt truyện trong
quá trình sáng tác, Luận án Vai trò của văn hóa dân gian trong sáng tác của
một số nhà văn hiện đại [67], tác giả Phạm Thị Trâm đã chỉ ra được vai trò và
sức sống tiềm tàng của truyện cổ cũng như phạm vi ảnh hướng sâu rộng của
nó trong đời sống văn hóa xã hội và văn học, đi vào tìm hiểu truyện cổ dân
gian, một số hình thức mô phỏng phát triển cốt truyện và sáng tạo mới trong
văn học Việt Nam sau 1975.
Hoàng Cẩm Giang trong bài Sự xâm nhập và tái sinh của một số mô
thức tự sự dân gian trong văn xuôi Việt Nam từ 1986 đến nay đã thống kê các
kiểu xâm nhập của truyện kể dân gian đối với tiểu thuyết và truyện ngắn Việt
Nam từ 1986 đến nay với những kiểu loại chính là giải huyền thoại, giải cổ
tích; truyện cổ viết lại và truyện lồng truyện. Từ việc phân loại đó tác giả đã
đưa ra những lí giải và phân tích của mình cũng như chỉ ra những những biến
đổi trong cấu trúc thể loại và những giá trị, những ý nghĩa mới mẻ được tạo
nên từ quá trình trên, "mọi ranh giới đều bị xóa nhòa, thực và ảo, quá khứ và
hiện tại đan xen, từ liên văn bản đã trở thành liên thế giới". [17,tr. 54].

8
Tiếp đến là Bùi Thanh Truyền trong bài viết Mạch ngầm cổ tích trong
dòng chảy văn học dân tộc [71] đã chỉ ra một dòng chảy liên tục từ cổ tích
dân gian - cổ tích văn học - đến truyện giả cổ tích, truyện cũ viết lại. Trong đó
sự tìm về cội nguồn của văn học truyền thống trong truyện giả cổ tích và
truyện cũ viết lại không hề có ý vị phục cổ, cũng không phải là "văn học
phỏng theo văn học" mà là một sáng tác ngôn từ đúng nghĩa. Truyền thống
không hề tạo ra sức ì cho hiện đại mà ngược lại luôn tạo ra động lực, năng
lượng cho sự phát triển của hiện đại.
Cũng nhà nghiên cứu này, trong bài viết Song đề truyền thống - hiện
đại trong điểm nhìn nghệ thuật của truyện giả cổ tích và truyện cũ viết lại
thời đổi mới [72] đã đi vào nghiên cứu một đặc điểm thi pháp thú vị trong hai

tinh thần hiện đại [50], Nguyễn Thị Tuyết Nhung đã chỉ ra được những nét kế
thừa, bảo lưu những yếu tố thuộc về tâm thức dân gian và những đối thoại,
phủ định nó trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Nhà nghiên cứu đã chỉ ra
tư tưởng bao trùm sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp là triết học tự nhiên- nhân
bản, thứ triết học nguyên sơ, bắt nguồn từ tín ngưỡng phồn thực sâu xa của
nền văn hóa cổ Đông Á và Đông Nam Á. Vay mượn cốt truyện cổ, tái tạo
những nhân vật xưa, đưa những bài thơ, những bài đồng dao dân dã mà thấm
thía vào những trang văn của mình đồng thời lại hòa vào dòng chảy của chủ
nghĩa hiện đại trong văn học thế giới thế kỷ XX với những khai phá về chủ đề
cái phi lí, sự cô đơn, tha hóa Từ đó khẳng định truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp một mặt là sự tiếp nối nguồn mạch văn học dân gian, mặt khác thấm
đượm cảm quan hiện đại, có thể nói Nguyễn Huy Thiệp đã sáng tạo nên
"folklore hiện đại".
Nguyễn Xuân Khánh với cuốn tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn đã được
công chúng đón nhận nhiệt liệt và các nhà nghiên cứu đánh giá cao. Trần Thị
An trong bài Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu
thượng ngàn [1] đã đặt không gian của cuốn tiểu thuyết trong bối cảnh văn
hóa dân gian Việt Nam ở nhiều thời điểm để chỉ ra sự tác động của tín
ngưỡng dân gian lên không gian nghệ thuật của tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn

10
và bước đầu nhìn nhận quan điểm của nhà văn về tín ngưỡng dân gian người
Việt. Trong đó tín ngưỡng dân gian đã được người viết soi chiếu dưới 3 góc
độ: Tín ngưỡng dân gian với tư cách là nội lực cố kết cộng đồng, tín ngưỡng
dân gian với tư cách là phản lực tự vệ của một dân tộc và tín ngưỡng dân gian
với tư cách là vô thức cộng đồng cần khai phóng. Dưới cái nhìn của một nhà
nghiên cứu văn học dân gian, những ảnh hưởng của văn hóa dân gian mà cụ
thể là tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của nhà văn
Nguyễn Xuân Khánh đã được nhìn nhận một cách sâu sắc, cho thấy sự gần
gũi và khác biệt trong hành trình sáng tạo của nhà văn và dòng chảy văn học

thông qua hình tượng người phụ nữ như người phụ nữ với việc lí giải nguồn
gốc dân tộc, người phụ nữ với những giá trị về phẩm chất và đức hạnh, người
phụ nữ với lao động sản xuất, người phụ nữ với sức mạnh đấu tranh và bảo vệ
tổ quốc, người phụ nữ với ý thức bản năng mạnh mẽ và cuối cùng bài viết đã
dành ra một phần quan trọng để phát triển thêm cho những luận điểm trên của
mình bằng việc đưa ra dẫn chứng cuốn Mẫu thượng ngàn, một tác phẩm văn
học thể hiện nguyên lý tính Mẫu đặc sắc và tinh tế. Người viết đã phát hiện từ
việc thể hiện bản năng mạnh mẽ của người phụ nữ, "nhà văn lại thêm một lần
nữa phát triển thêm cho hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam đó
là việc kết hợp ý thức tôn giáo và bản năng của những người phụ nữ" [27],
nói cách khác người phụ nữ ở đây đã được "tôn giáo hóa".
Có thể thấy, những nghiên cứu về ảnh hưởng của văn học dân gian
trong các tác phẩm của hai nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Huy Thiệp
mới chỉ dừng lại ở những công trình, những bài viết khai thác trên một hoặc
một số khía cạnh riêng lẻ chứ chưa được tìm hiểu một cách hệ thống và toàn
diện. Tuy nhiên đó có thể coi là những gợi dẫn vấn đề bổ ích và quý báu để
chúng tôi tiếp tục triển khai trong luận văn này.

3: Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn lựa chọn tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của nhà văn Nguyễn
Xuân Khánh (NXB phụ nữ, Hà Nội, 2006) và một số truyện ngắn được dẫn từ

12
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (NXB Hội nhà văn, 2005) làm đối tượng
nghiên cứu cho đề tài.
Luận văn sẽ đi sâu vào nghiên cứu những biểu hiện của phong cách
nghệ thuật tự sự dân gian trong sáng tác của hai tác giả Nguyễn Xuân Khánh,
Nguyễn Huy Thiệp như: cách thức xây dựng cốt truyện, hệ thống nhân vật,
môi trường văn hoá, ngôn ngữ, môtip, biểu tượng.


Xuân Khánh, Nguyễn Huy Thiệp.

14

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: PHONG CÁCH TỰ SỰ DÂN GIAN VỚI VẤN ĐỀ ẢNH

học dân tộc, là kết tinh tư tưởng thẩm mỹ cho nền văn học viết ra đời và phát
triển về sau.
Cùng là loại hình nghệ thuật ngôn từ, nảy sinh trên cơ sở thực tiễn đời
sống và truyền thống văn hoá của dân tộc, chịu sự tác động của hoạt động
sáng tạo nghệ thuật, văn học dân gian và văn học viết đồng thời có những đặc
trưng riêng với khả năng nhận thức và tái tạo hiện thực riêng.
Nếu sáng tác dân gian mang tính tập thể, tính tập thể được phản ánh
trong sự sáng tạo của cá nhân nhưng không có tên tác giả thì văn học viết lại
nhận thức và tái tạo lại thực tiễn theo những nguyên tắc chọn lọc và điển hình
hoá các hiện tượng đời sống, với nghệ thuật xây dựng nhân vật, với hình thức
tư duy trừu tượng cùng cá tính sáng tạo của cá nhân nhà văn.
Sự sáng tạo của cá nhân trong văn học viết tuân theo những quy luật
tâm lí của sáng tác cá nhân, giá trị của tác phẩm văn học phụ thuộc vào sự độc
đáo của cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ, làm đa dạng và phong phú hơn
nền văn học. Trong khi đó trong sáng tác dân gian, sáng tạo của cá nhân
thường tuân theo những quy luật tâm lí của sáng tác tập thể. Tính tập thể tiêu
biểu cho tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của một lớp người, một giai cấp trong
xã hội được biểu hiện bằng hình thức nghệ thuật mang tính chung nhất. Cái
riêng trở thành cái chung trong tập thể sáng tạo. Ở đó, theo lời của M.Gorki
“Kinh nghiệm cá nhân không ngừng chảy vào nguồn dự trữ của tập thể, toàn
bộ kinh nghiệm tập thể đã trở thành sở hữu của mỗi thành viên trong nhóm”.
[18,tr. 49]

16
Đặc trưng của văn học dân gian là sự vận động liên tục từ thế hệ này
sang thế hệ khác, từ nơi này đến nơi khác. Do lưu truyền bằng miệng, ngoài
những văn bản đã ghi chép, tác phẩm văn học dân gian luôn vận động, sửa
chữa để ngày càng gắn với công chúng dân gian hơn. Do vậy văn học dân
gian có tính đa dị bản, quá trình sáng tác và lưu hành là một. Trong khi đó
trong văn học viết, văn bản là cố định, ở đó quá trình sáng tác và lưu hành

học viết. Mối quan hệ giữa hai bộ phận này là mối quan hệ tương hỗ ở đó văn
học viết chịu ảnh hưởng của văn học dân gian trên nhiều phương diện từ nội
dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật, đồng thời văn học viết cũng có tác
động trở lại đối với văn học dân gian nhưng xét cho cùng có thể nói rằng văn
học dân gian “cho” nhiều hơn là “nhận”.
Sau khi quốc gia Đại Việt giành được độc lập, nền văn học chia thành
dòng văn học dân gian và văn học viết. Bên cạnh việc tiếp thu ảnh hưởng của
văn học Trung Quốc, dòng văn học viết càng ngày càng dân tộc hóa về mặt
hình thức ngôn từ, sử dụng nhiều chất liệu văn học dân gian.

1.2.1.1: Ở lĩnh vực thơ ca:
Giữa văn học dân gian và văn học viết nói chung, thơ ca dân gian với
thơ ca bác học nói riêng có một mối quan hệ qua lại vô cùng khăng khít, bền
chặt trong suốt chiều dài lịch sử.
Từ thế kỷ XV, trong thơ Nôm, Nguyễn Trãi đã sử dụng sáng tạo ngôn
ngữ dân tộc, làm cho dòng văn học dân tộc được khơi nguồn trước đó nay
được mở rộng “cuồn cuộn nước triều đông”. Đó là thứ ngôn ngữ của người
lao động được gọt giũa, cách điệu hoá và nâng lên để diễn đạt những ý tưởng
cô đúc, nhuần nhị:
Lận đận nhà giàu no bữa cám
Bạn bè kẻ trộm phải ăn đòn
(Bảo kính cảnh giới- Bài 21)
Hai dòng thơ trên đã gợi nhắc ta nhớ đến hai câu quen thuộc trong dân
gian:

18
Ở gần nhà giàu đau răng ăn cám
Ở gần kẻ trộm ốm lưng chịu đòn
Hay câu tục ngữ “Không thầy đố mày làm nên”, “Có làm thì mới có ăn/
Không dưng ai dễ đem phần đến cho” lại được Ức Trai thể hiện sáng tạo, súc

ngữ, thành ngữ dân gian và Truyện Kiều xâm nhập lẫn nhau. [23,tr. 299].
Trong tác phẩm, không khó để nhận ra việc tác giả Nguyễn Du đã sử
dụng các mã ngôn từ của ca dao. Nếu trong ca dao có những lời:
Vì thuyền, vì bến, vì sông
Vì hoa nên bận cánh ong đi về
thì trong Truyện Kiều có câu thơ tương ứng:
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa
Từ câu ca dao thủa nào:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng?
đến vần thơ đầy tâm sự của Nguyễn Du là một sự tiếp thu đầy chủ ý:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường…
Trong ca dao có câu:
Yêu nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua
(lời Thuý Kiều)
thì trong Truyện Kiều ta lại bắt gặp ý tứ quen thuộc:
Rắp mong treo ấn từ quan
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua
(độc thoại Kim Trọng)
Từ ca dao đến Truyện Kiều, thể thơ lục bát đã đi đến hoàn thiện. Với
âm điệu hài hoà, phong phú, biến hoá, vừa thích hợp với trữ tình lại có khả
năng tự sự, có khi được cất lên như những lời nói thường, lại vừa được sử
dụng với vẻ bay bổng, lãng mạn. Như nhà văn Nguyễn Đình Thi đã nhận xét
“Tiếng nói Việt Nam trong Truyện Kiều như làm bằng ánh sáng vậy”. [59].

20
Tiếp mạch truyền thống, các nhà thơ hiện đại lại tiếp tục vận dụng một
cách sáng tạo nguồn thi liệu dân gian để làm nên những tác phẩm đặc sắc.

Tục gói bánh chưng ăn với thịt mỡ, dưa hành, treo câu đối ngày tết:
Tháng giêng lá dong
bóc dính bánh chưng
xanh thịt mỡ
đỏ dưa hành
bạch vế đối lẳng
(Nằm vạ tháng giêng- Phan Huyền Thư).
Khổ thơ gợi nhắc ta nhớ về câu đối quen thuộc mang hồn vía, bản sắc
của dân tộc: Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ/ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng
xanh.
Trong thơ Vi Thuỳ Linh, truyện cổ xuất hiện qua lời kể của mẹ, biết
bao câu chuyện quá đỗi thân thuộc đã đi vào kí ức êm đềm của tuổi ấu thơ:
Chuyện Tấm dịu hiền
Mẹ chỉ kể đến đoạn cô lấy chồng hoàng tử
Sẽ kể cho con
Thạch Sanh gan dạ bắn đại bàng cứu công chúa
Về Trương Chi xấu trai nhưng giọng hát tuyệt vời
Có tài, được biệt đãi, đâu chỉ công chúa mê, sẽ có chìa
khóa mở đến nhiều cánh cửa
Về chú Gióng lên ba, ăn bảy nong cơm ba nong cà, lớn
phổng thành dũng sĩ, cưỡi ngựa sắt, nhổ tre đằng ngà, diệt giặc
xong, Gióng lên núi Sóc cưỡi ngựa về trời, đâu màng công trạng
vinh hoa phú quý(…)
Về Mị Châu lấy Trọng Thủy, nhưng không u mê đến mức
phản bội vua cha, mất Âu Lạc cho Triệu Đà
Về Mị Nương sẽ lấy Sơn Tinh để không có chiến tranh, ngập lụt
(Kể chuyện cho con-Vi Thuỳ Linh)

22
Điều đặc biệt cần ghi nhận ở những nhà thơ trẻ đó là họ đã tạo ra một

truyện dân gian/ dã sử truyền miệng có dịp được sưu tập và ghi chép thành
văn bản cố định, đồng thời góp phần xây dựng các tác phẩm tự sự trong dòng
văn học viết đương thời.
Cũng theo hướng ghi chép các truyện kể dân gian, nhà chép sử Lý Tế
Xuyên thời Lý Trần đã ghi chép những truyện kể về các vị thần có công với
dân với nước của thời cổ đại và trung đại trong tác phẩm Việt điện u linh
(Những truyện linh thiêng huyền diệu ở đất Việt) vào thế kỷ thứ 14. Nối tiếp
công việc này, Trần Thế Pháp thời Trần và sau đó, Vũ Quỳnh, Kiều Phú ở
đầu thời Lê, thế kỷ 15 đã ghi chép những truyện dân gian một cách đầy đủ và
phong phú hơn trong tập sách mang tên Lĩnh Nam chích quái (Lượm lặt
những truyện quái dị ở cõi Lĩnh Nam). Có thể nói, Việt điện u linh và Lĩnh
Nam chích quái là hai tác phẩm đặt nền móng đầu tiên cho thể loại truyện ký
lịch sử ở các thời đại sau.
Quá trình phát triển của thể loại truyện ký chính là một tiền đề nghệ
thuật quan trọng đẩy tới sự hình thành một thể loại mới trong văn học tự sự
Việt Nam, đó là tiểu thuyết lịch sử, hay còn gọi là loại truyện ký lịch sử
trường thiên. Cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18, có tác phẩm Việt Nam khai quốc
chí truyện của Nguyễn Khoa Chiêm, cuối thế kỷ 18, có tác phẩm Hoàng Lê
nhất thống chí của nhóm tác giả họ Ngô Thì, khoảng đầu thế kỷ 19 có tác
phẩm Việt Nam khai quốc chí diễn âm- bộ tiểu thuyết lịch sử đầu tiên bằng
chữ Nôm…
Nếu như chủ đề lịch sử với nội dung yêu nước đã làm nảy sinh những
tác phẩm truyện ký lịch sử và dọn đường cho các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử
ra đời thì chủ đề tình yêu với nội dung nhân đạo lại là cơ sở để tạo nên các tác
phẩm truyền kỳ. Bắt đầu từ Thánh Tông di thảo ra đời khoảng thế kỷ 15, sau
đó vào thế kỷ 16, có tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, thế kỷ 18 có
thêm Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, khoảng cuối thể kỷ 18 đầu thế
kỷ 19 có Tân truyền kỳ lục của Phạm Quý Thích…

24

25
cách cơ bản, các môtip chính yếu…điểm khác biệt là các chi tiết, sự kiện, tính
linh hoạt của cốt truyện, nhân vật.
Trần Thế Pháp (khởi thảo Lĩnh Nam chích quái, sau đó là Vũ Quỳnh,
Kiều Phú hiệu đính, bổ sung) và Lí Tế Xuyên (được xem là soạn giả Việt điện
u linh) có thể coi như những người tiên phong trong việc sáng tác thể loại văn
học này. Đến những tác giả của văn học hiện đại như Nguyễn Trọng Thuật
(Quả dưa đỏ), Nguyễn Tuân (Chùa Đàn, Trên đỉnh non Tản), Phạm Hổ
(Truyện hoa truyện quả), Tô Hoài (Nỏ thần, Đảo hoang, Nhà Chử), một mặt
giữ lấy những đặc trưng cơ bản của cổ tích truyền thống mặt khác lại mặc cho
chúng chiếc áo khoác của thời đại mới, hướng đến những yêu cầu mang tính
thời sự.
Truyện Chuyện nỏ thần của Tô Hoài có tên trùng với tên truyền thuyết
nảy sinh từ mảnh đất Cổ Loa và được lưu truyền rộng rãi khắp cả nước để ca
ngợi một danh tướng của An Dương Vương là Cao Lỗ đã chế tạo ra chiếc nỏ
thần kỳ, bắn một phát ra hàng vạn mũi tên và giết chết vô số quân giặc. Tác
phẩm này của Tô Hoài ngoài việc sử dụng ba truyền thuyết: Truyện lẫy nỏ,
Thục An Dương Vương xây thành và Mỵ Châu Trọng Thuỷ còn sử dụng
truyền thuyết về Đô Nồi, truyện Lý Ông Trọng … các truyền thuyết được
móc nối lại với nhau đã làm cho câu chuyện thêm phần hấp dẫn, vừa quen mà
vừa lạ.
Cũng giống như Chuyện nỏ thần, ở Đảo hoang, Tô Hoài cũng ghép nối
một số truyện dân gian khác như truyện Thần núi Tản Viên, Sơn Tinh Thuỷ
Tinh vào Sự tích dưa hấu. Tái sinh lại truyện kể dân gian về quả dưa hấu, Tô
Hoài đã thể hiện những nhận thức sâu sắc về lịch sử và văn minh dân tộc.
“Câu chuyện dưa hấu là tinh thần sức mạnh lớn lao của dân tộc, là truyền
thống chiến đấu chống thiên nhiên, chống ngoại xâm, giành quyền sống và
phát triển qua tất cả các đời”. [25,tr. 10]
Con đường từ truyện cổ tích dân gian đến sự ra đời của truyện cổ tích
văn học vẫn chưa dừng lại ở đó mà nó còn tiếp tục phát triển, biến thiên mạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status