phong cách tự sự dân gian trong tiểu thuyết triều ân - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

Trần Thị Hồng Nhung
PHONG CÁCH TỰ SỰ DÂN GIAN TRONG
TIỂU THUYẾT TRIỀU ÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Thái Nguyên - 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC
Trang phụ bìa Trang
Mục lục
1
MỞ ĐẦU
3
1. Lý do chọn đề tài
3
2. Tình hình nghiên cứu
4
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
10
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
10
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
11
6. Đóng góp của luận văn
11
6. Cấu trúc của luận văn
11
NỘI DUNG
13
Chương 1. Những vấn đề chung
13
1.1 Những vấn đề lý thuyết chung về tự sự học dân gian
13
1.2 Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết
23
1.3 Vài nét về con ngƣời và sự nghiệp sáng tác của tác giả Hoàng
Triều Ân

2.2.2.2 Kiểu nhân vật là anh em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha
68
2.2.2.3 Kiểu nhân vật đi tìm cha, mẹ
74
Chương 3. Phong cách tự sự dân gian trong bình diện ngôn ngữ
nghệ thuật

80
3.1 Cách vận dụng thành ngữ, tục ngữ
81
3.2 Lối so sánh ví von giàu hình ảnh
89
KẾT LUẬN
101
TÀI LIỆU THAM KHẢO
105
năng, tâm huyết nhà văn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
1.3 Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao
động, ra đời từ thời kì công xã nguyên thuỷ, trải qua các thời kì phát triển lâu
dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay.
Nó bám rễ sâu vào cuộc sống và tâm hồn dân tộc. Bởi thế, các nhà văn, nhà
thơ của bất cứ một dân tộc nào trên thế giới đều có một vốn văn hoá, văn học
dân gian nhất định, các sáng tác của họ ít nhiều đều có ảnh hƣởng của nền văn
hoá, văn học ấy. Triều Ân là nhà văn đồng thời cũng là nhà nghiên cứu văn
học dân gian. Trong tƣ duy sáng tạo của mình, tác giả đã chịu sự ảnh hƣởng
của thi pháp văn học dân gian rất rõ nét ở các phƣơng diện: xây dựng cốt
truyện, nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật…
Việc nghiên cứu Phong cách tự sự dân gian trong tiểu thuyết Triều
Ân là cơ hội để ngƣời viết có điều kiện đi sâu tìm hiểu loại hình tự sự dân
gian và sự ảnh hƣởng của văn học dân gian đến văn học viết đƣơng đại qua
hiện tƣợng Hoàng Triều Ân. Từ đó góp phần khẳng định vai trò của nhà văn
trong nền văn học Việt Nam, đồng thời góp phần nâng cao trình độ học tập
cũng nhƣ giảng dạy bộ môn văn học dân gian trong nhà trƣờng phổ thông của
ngƣời nghiên cứu.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Điểm lược nghiên cứu về văn học miền núi đương đại
Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại chủ yếu đƣợc hình
thành và phát triển từ sau Cách mạng tháng Tám 1945. Đây là một mảng sáng
tác có đóng góp quan trọng góp phần tạo nên diện mạo chung của nền văn học
Việt Nam hiện đại với hai nguồn tác giả song song. Một là do tác giả ngƣời
Kinh viết, một là các tác giả ngƣời dân tộc thiểu số viết về con ngƣời và cuộc
sống của dân tộc mình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
Việt Bắc (Bàn Tài Đoàn, Chu Văn Tấn, Nông Quốc Chấn), Bước đầu tìm
hiểu văn nghệ Việt Bắc (Nhiều tác giả)… Trong đó, các tác giả đã khẳng
định giá trị của văn học miền núi cũng nhƣ khẳng định đóng góp của nó đối
với nền văn học nƣớc nhà bởi vì Với mảng văn học này, văn học Việt Nam có
thêm một tiếng nói, một phong cách riêng trong việc khám phá tâm hồn, tính
cách con người miền núi nói riêng và con người Việt Nam nói chung
[63.240]. Bên cạnh đó, khi bàn về thể loại văn xuôi, Lâm Tiến còn chỉ ra
Truyền thống văn học dân gian hàng nghìn năm và những điều kiện kinh tế,
văn hóa, xã hội ở miiền núi ảnh hưởng không nhỏ tới văn học các dân tộc
thiểu số [67.196].
Trong cuốn Văn học miền núi, Lâm Tiến đã điểm qua một số tác giả
nhƣ Vi Hồng, Nông Minh Châu, Hoàng Hạc, Nông Viết Toại, Hoàng Đức
Hậu, H’Linh Niê và đều chỉ ra ở họ có “sự vận dụng văn hoá văn học dân
gian cũng như cách nói của dân tộc Tày khá nhuần nhuyễn” [67.17]
Tựu chung lại, giới nghiên cứu phê bình văn học đã có sự quan tâm và
khẳng định vai trò của các nhà văn dân tộc thiểu số đối với nền văn học nƣớc
nhà. Đa số những nghiên cứu đó còn ở mức độ tổng quát của cả một bộ phận,
còn hiếm những tác phẩm chuyên sâu về một tác giả, tác phẩm cụ thể nào. Đó
là một chân trời rộng mở đối với các nhà nghiên cứu về sau.
2.2 Điểm lược nghiên cứu về nhà văn Triều Ân
Trong các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, Triều Ân là một
tác giả có năng lực sáng tạo dồi dào, ít nhiều có phong cách riêng. “Cuộc đời
của nhà văn Hoàng Triều Ân được giới văn nghệ sĩ trân trọng, được xã hội
ghi nhận. Những cống hiến của ông được đánh giá cao” (Đoàn Lƣ).
Cho đến nay đã có khá nhiều công trình, bài viết đề cập đến sự nghiệp
sáng tác cũng nhƣ đóng góp của Triều Ân với nền văn học miền núi nói riêng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7

Về xây dựng nhân vật:
“Truyện của Triều Ân không có những anh hùng, kể cả bóng dáng anh
lãnh đạo. Thế giới nhân vật của anh, khung trời văn chương của anh là
những con người bình thường, không chức sắc, không vĩ nhân” [64.79]
“Nhân vật trong truyện của Triều Ân cũng ngày càng được soi rọi và thể
hiện ở nhiều bình diện, ở đời sống bên trong với những diễn biến tâm lý
không giản đơn một chiều” [64.39]
“Nhà văn đã không ngần ngại đặt nhân vật trong những tình huống,
những thử thách ngặt nghèo để nhân vật tự lựa chọn, ứng xử, qua đó bộc lộ
cá tính và nhân cách của mỗi cá nhân” [64.58]
Về cốt truyện:
“Tác giả đã xây dựng cốt truyện với nhiều tuyến đan xen, cùng với sự mở
rộng không gian truyện và thế giới nhân vật” [64.39]
“Xung đột truyện được thắt và cởi liên tục khiến người đọc thích
thú…Nhìn chung các cốt truyện đều đi sâu khai thác những xung đột khác
nhau của đời sống” [64.101]
Về ngôn ngữ:
“Sức hấp dẫn của truyện không phải ở những cốt truyện độc đáo mà chủ
yếu ở câu chuyện, lời kể chuyện dung dị, chân tình, say mê của tác giả”
[64.50]
“…Ông chỉ vận dụng chất dân gian trong cách viết. Nên ngôn ngữ trong
truyện ngắn gần gũi với ngôn ngữ thường ngày của dân tộc…Nhân vật cũng
không đa dạng, phức tạp, không có những ẩn ý sâu xa, khó hiểu” [64.94]
“Đưa đến mức tối đa ngôn ngữ của đời sống, phương ngôn ngạn ngữ, lối
so sánh ví von của đồng bào vào tác phẩm, đấy là một dụng công của nhà
văn” [64.221]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
Có thể nói, làm nên bản sắc riêng trong các sáng tác của Triều Ân không

những gợi mở bƣớc đầu cho ngƣời viết đi sâu nghiên cứu phong cách tự sự
dân gian trong tiểu thuyết Triều Ân.
3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số phƣơng
pháp sau:
3.1 Phương pháp liên ngành
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận về tự sự học và tự sự học dân gian, từ
đó tìm hiểu phong cách nghệ thuật mang đặc trƣng nghệ thuật dân gian của
tác giả. Đây là một vấn đề tƣơng đối phức tạp, đòi hỏi ngƣời viết phải sử dụng
kiến thức liên ngành folklore học và văn học cũng nhƣ kiến thức ở một số
ngành khác nhƣ xã hội học, dân tộc học.
3.2 Phương pháp thống kê, khảo sát
Thống kê, khảo sát các yếu tố trong tác phẩm mang đặc trƣng của loại
hình tự sự dân gian giúp cho việc nghiên cứu có cơ sở khoa học, chính xác, có
tính thuyết phục cao.
3.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trong luận văn, phƣơng pháp phân tích đƣợc sử dụng linh hoạt, kết quả
phân tích làm tiền đề cho những kết luận khái quát về vấn đề đƣợc đặt ra
trong nhiệm vụ nghiên cứu.
3.4 Phương pháp đối chiếu, so sánh
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng giữa loại hình tự sự dân gian và tiểu
thuyết Triều Ân làm nổi rõ phong cách tự sự dân gian của tác giả.
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiểu thuyết Triều Ân (2009). Nxb Hội nhà văn gồm 3 tác phẩm:
Nắng vàng bản Dao (1992)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
Nơi ấy biên thuỳ (1994)

vật và xây dựng cốt truyện.
Chƣơng 3. Phong cách tự sự dân gian trong bình diện ngôn ngữ nghệ
thuật. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
NỘI DUNG

Một trong những ngƣời đầu tiên nhắc đến khái niệm tự sự trong sự phân
biệt hai loại hình còn lại, phải kể đến là Arixtot. Theo ông, văn học có ba
phƣơng thức mô phỏng hiện thực. Đó là kể về một sự kiện nhƣ về một cái gì
tách biệt với mình, hoặc là ngƣời mô phỏng tự nói về mình không thay đổi
ngôi xƣng, hoặc là trình bày tất cả những nhân vật đƣợc mô tả trong hành
động. Tên gọi của ba phƣơng thức trên lần lƣợt là tự sự, trữ tình và kịch. Nhƣ
vậy, ở dạng ban đầu, tự sự chỉ đƣợc coi là một phƣơng thức mô phỏng hiện
thực.
Cho đến sau này, trong quá trình phân loại văn học, các nhà nghiên cứu
mới dựa vào ba phƣơng thức trên mà khái quát hoá, phân loại thành ba loại
hình văn học. Lúc này tự sự mới xuất hiện với tƣ cách là một loại hình. Trong
cách phân loại đó, theo Bielinxki, khái niệm tự sự đƣợc dùng để chỉ toàn bộ
những tác phẩm biểu hiện đời sống thông qua miêu tả sự kiện. Đặc trƣng nổi
bật nhất và cũng là quan trọng nhất của loại hình tự sự là tính khách quan.
Cũng theo Bielinxki, trong mối quan hệ với những loại hình còn lại, nếu tác
phẩm trữ tình ƣa nói tới cái chủ quan, tác phẩm kịch là “sự dung hợp của các
yếu tố đối lập của tính khách quan tự sự và tính chủ quan trữ tình” thì đối
tƣợng mà tự sự hƣớng tới là tính khách quan của thế giới.
Nhƣ vậy, mỗi nhà nghiên cứu, dƣới các góc độ khác nhau sẽ có quan
điểm khác nhau về tự sự. Song dù nhấn mạnh đặc trƣng nào, tiêu chí loại hình
vẫn có một cái lõi chung nhất. Về khái niệm tự sự, chúng tôi thống nhất quan
điểm của các nhà biên soạn cuốn Từ điển thuật ngữ văn học:
Nếu tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong cảm nhận chủ
quan về nó thì tác phẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong toàn bộ tính
khách quan của nó. Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
mở rộng của đời sống, trong không gian, thời gian qua các sự kiện,
biến cố xảy ra trong cuộc đời con ngƣời. Trong tác phẩm tự sự, nhà

vật” [60.12]. Muốn hiểu sự vật nào thì ngƣời ta kể về sự vật đó, nhƣ vậy tự sự
có nội hàm rất rộng bởi tự sự là phƣơng thức tạo nghĩa và truyền thông tin.
Trong các hình thức tự sự thì tự sự văn học khá phức tạp, vì vậy nó đã đƣợc
nghiên cứu từ rất lâu và văn học trở thành đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu của
tự sự học. Thuật ngữ tự sự học Narratology do nhà nghiên cứu Pháp là
Tzevan Todorov đề xuất năm 1969, từ đó lý luận tự sự đã thay thế cho lý luận
về tiểu thuyết. Theo tác giả Trần Đình Sử, đối tƣợng đƣợc gọi là tự sự học
“bao gồm cả phần lý thuyết cấu trúc văn bản tự sự, cấu trúc sự kiện…cả phần
nghiên cứu các hình thức và truyền thống tự sự, trong các nền văn học dân
tộc cũng như sự so sánh chúng với nhau…nói lên được thực chất và tầm bao
quát của một bộ môn nghiên cứu liên ngành” [60.22].
Tự sự học nghiên cứu cấu trúc văn bản tự sự và những vấn đề liên quan.
Vấn đề cấu trúc tự sự bắt đầu từ chủ nghĩa hình thức Nga chia ra hai lớp chất
liệu và hình thức. Đến nhà lý luận G.Genette nêu thêm lớp tự sự” (kể chuyện).
Theo ông, nguồn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ nói hay viết mà biểu đạt cho
nên vai trò của ngƣời trần thuật là quan trọng nhất.
Lý thuyết tự sự học hiện đại lần đầu tiên làm cho ngƣời trần thuật vô
hình vốn ít đƣợc ngƣời ta chú ý phân tích, đƣợc hiện ra nhƣ một hệ thống biểu
đạt. Nó cho ngƣời ta thấy ngƣời trần thuật đã can dự vào tiến trình tự sự nhƣ
thế nào, từ hình thức đến bình luận.
Lý thuyết tự sự cho thấy rõ sự biến dạng của thời gian bằng các biện
pháp rút gọn, tỉnh lƣợc, kéo dài, dừng lại, lặp lại và các hình thức đổi thay
tính liên tục của sự kiện. Từ đó nó giúp quan sát cụ thể cơ chế nghệ thuật của
tự sự.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
Lý thuyết tự sự hiện đại đã nêu ra vấn đề phƣơng vị hay còn gọi là góc
nhìn, điểm nhìn, tiêu cự trần thuật với mô hình trần thuật.
Tự sự học hiện đại cũng nghiên cứu sâu về hành vi ngôn ngữ tự sự và các

nghệ thuật xây dựng cốt truyện và nhân vật của một tác phẩm tự sự cụ thể để
đánh giá giá trị của tác phẩm ấy thì văn học dân gian lại có cách tiếp cận
khác. Bởi mỗi thể loại văn học dân gian đều đƣợc sáng tạo trên nguồn công
thức folklore, có tính lặp lại. Do vậy, nghiên cứu văn học dân gian phải
nghiên cứu dựa theo đặc trƣng thể loại của chúng. Các thể loại tự sự dân gian
kể trên đều có cách xây dựng cốt truyện và nhân vật riêng theo đặc trƣng từng
thể loại.
Sau khi khảo sát tiểu thuyết Triều Ân, chúng tôi nhận thấy sự ảnh hƣởng
đậm nét của văn học dân gian đặc biệt là thể loại cổ tích trong phong cách
sáng tác của tác giả. Do đó, ở luận văn này, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu một
số yếu tố nghệ thuật của thể loại cổ tích - một thể loại khá hoàn chỉnh và là bộ
phận quan trọng nhất trong các thể loại tự sự dân gian để từ đó so sánh, đối
chiếu, tìm hiểu phong cách tự sự dân gian trong tiểu thuyết Triều Ân.
Truyện cổ tích là thể loại truyện dân gian nảy sinh từ xã hội nguyên thủy,
nhƣng chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu là
phản ánh và lý giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con
ngƣời trong cuộc sống khi đã có mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh xã hội quyết
liệt. Truyện bày tỏ quan niệm đạo đức, lí tƣởng và mơ ƣớc của nhân dân lao
động về một xã hội công bằng, dân chủ, hạnh phúc qua những yếu tố hoang
đƣờng, kì ảo.
Cốt truyện cổ tích thƣờng ngắn gọn, đƣợc cấu tạo theo đƣờng thẳng, xây
dựng theo trình tự thông thƣờng, việc gì xảy ra trƣớc kể trƣớc, việc gì xảy ra
sau kể sau, không có nhiều kiểu kết cấu đa dạng. Trình tự không gian cũng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
đƣợc tuân theo trình tự thời gian. Cốt truyện phát triển theo một mạch tình
tiết: nhân vật chính dẫn ta đi từ giai đoạn này đến giai đoạn khác của truyện.
Do đó, nó rõ ràng, trong sáng, dễ thuộc, dễ kể phù hợp với đặc trƣng truyền
miệng và đặc trƣng tập thể của văn học dân gian. Truyện cổ tích buộc phải

nhƣ những con ngƣời thật, yêu mến, phán xét nó nhƣ những kẻ ngoài đời. Bởi
do đặc điểm thể loại, tƣ tƣởng nhân vật không đặt ở cá tính mà đặt ở phẩm
chất, chuẩn mực của đời sống xã hội, đƣợc thua trong truyện cổ tích không
phải ở cá tính khôn dại mà ở thiện ác, công lý.
Truyện cổ tích thƣờng có hai tuyến nhân vật đƣợc phân định rõ ràng:
nhân vật chính diện và nhân vật phản diện đại diện cho một bên là cái thiện
với một bên là cái ác. Những nhân vật chính diện thƣờng bị áp bức, bóc lột
nhƣng họ lại mang vẻ đẹp hoàn hảo từ phẩm chất đến hình thức. Nếu có
những nhân vật xấu xí, kì dị thì cuối cùng nhờ yếu tố thần kì họ đƣợc trút bỏ
lớp ngoài xấu xí để trở nên đẹp đẽ, khôi ngô (Sọ dừa, Hoàng tử cóc trong
truyện cùng tên). Ngƣợc lại những nhân vật phản diện lại xấu đến tột cùng và
bao giờ cũng nhận đƣợc một kết cục bi thảm (Cám trong Tấm Cám, vợ chồng
ngƣời anh trong Cây khế). Điều đó thể hiện ƣớc mơ ngàn đời của nhân dân
lao động, những con ngƣời tội nghiệp thấp cổ bé họng luôn bị đè nén, bị áp
bức về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, về một xã hội công bằng “ở hiền gặp
lành”. Bởi truyện cổ tích xuất hiện phần lớn khi công xã thị tộc tan rã và đƣợc
thay thế bằng gia đình riêng lẻ, khi xã hội có sự phân chia giai cấp, có kẻ bóc
lột và ngƣời bị bóc lột.
Truyện cổ tích thƣờng có những câu tục ngữ, thành ngữ hay ca dao. Sự
thâm nhập giữa truyện cổ tích và các thể loại văn học dân gian này là điều tất
nhiên. Có khi truyện cổ tích đƣợc sáng tác ra để giải thích những câu tục ngữ
hoặc ca dao có trƣớc, chẳng hạn nhƣ truyện Bụng làm dạ chịu, Của Thiên
trả Địa, Đồng tiền Vạn Lịch…; có khi từ nội dung truyện cổ tích đã xuất hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

21
những câu tục ngữ, ca dao mới nhƣ trong truyện Thạch sùng còn thiếu mẻ
kho, Tôi phải đôi đấu sành… Dù ở trƣờng hợp nào đi nữa thì sự kết hợp
những câu ví, câu ca nhƣ vậy với truyện cổ tích cũng đều có tác dụng làm cho
truyện tăng thêm nhiều ý vị. Trong nhiều trƣờng hợp, việc dùng những câu

thƣờng đƣợc nhân dân dùng trong lời nói hằng ngày.
Thói quen hay nói ví von là thói quen của nhân dân ta. Thói quen đó thể
hiện việc sử dụng một cách có ý thức khả năng âm điệu của ngôn ngữ dân tộc.
Trong truyện Tấm Cám có nhiều câu văn vần bắt chƣớc âm thanh thiên nhiên.
Chim vàng anh kêu:
Giặt áo chồng tao
Thì giặt cho sạch!
Phơi thì phơi bằng sào
Chớ phơi bờ rào
Rách áo chồng tao
Khung cửi kêu:
Cót ca cót két
Lấy tranh chồng chị
Chị khoét mắt ra
Những câu văn đầy màu sắc ấy có tác dụng miêu tả nhân vật, sự việc có
tác dụng làm nổi bật, gây nhiều hứng thú ở ngƣời đọc. Ngoài ra, trong nhiều
truyện, nhất là những truyện dài nhƣ truyện Tấm Cám, những câu văn vần gài
vào những chi tiết quan trọng có tác dụng làm dễ nhớ, phục vụ rất nhiều cho
việc truyền khẩu. Trong truyên cổ tích, chỉ có phần văn vần này - hoặc là lấy
từ tục ngữ ca dao sang, hoặc là sáng tác theo yêu cầu của truyện – là tƣơng
đối kiên cố. Còn phần văn xuôi thì luôn luôn thay đổi theo từng địa phƣơng,
theo từng ngƣời kể. Nghiên cứu ngôn ngữ văn học của truyện cổ tích chủ yếu
là nghiên cứu phần văn vần này. Tuy tỉ lệ văn vần tƣơng đối ít so với văn xuôi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

23
nhƣng ý nghĩa của văn vần rất lớn. Việc kết hợp văn xuôi với văn vần này là
một đặc điểm nghệ thuật rất đáng chú ý của truyện cổ tích.
1.2 Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết
Một nền văn học thƣờng có hai hệ thống thẩm mỹ là văn học dân gian và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status