ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------
NGUYỄN THỊ NHIỆM
TIẾP NHẬN VĂN HÓA DÂN GIAN
TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội – 2014
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------
NGUYỄN THỊ NHIỆM
TIẾP NHẬN VĂN HÓA DÂN GIAN
TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƢƠNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phạm Xuân Thạch. Luận văn được trình bày
theo yêu cầu, quy định của khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn đề ra. Những kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực.
Những tài liệu tham khảo đều có trích dẫn và ghi chú xuất xứ rõ ràng.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về luận văn của mình.
Tôi xin cam đoan.
Hà Nội, ngày 17 tháng 11 năm 2014
Học viên
Nguyễn Thị Nhiệm
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 7
NỘI DUNG .................................................................. Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ...... Error! Bookmark not defined.
1.1. Mối quan hệ VHDG và văn học ..................... Error! Bookmark not defined.
1.1.1. Một số định nghĩa đến xác lập mối quan hệ VHDG và văn họcError! Bookmark not def
1.1.2. Tiếp nhận VHDG trong văn học viết .............. Error! Bookmark not defined.
1.2. Hành trình sáng tác và tiền đề tiếp nhận VHDG trong tiểu thuyết Nguyễn
Bình Phƣơng ............................................................ Error! Bookmark not defined.
1.2.1. Hành trình sáng tác Nguyễn Bình Phương ..... Error! Bookmark not defined.
3.4. Sử dụng ngôn ngữ mang tính chất dân gian ...... Error! Bookmark not defined.
3.4.1. Sử dụng nhuần nhị ngôn ngữ đời thường, thành ngữ, tục ngữError! Bookmark not defin
3.4.2. Ngôn ngữ đan xen văn vần với văn xuôi ........ Error! Bookmark not defined.
3.5. Những đặc sắc và ý nghĩa việc tiếp nhận VHDG của Nguyễn Bình PhƣơngError! Bookmark
3.5.1. Vận dụng đa dạng và ở tầng sâu các chất liệu VHDG:Error! Bookmark not defined.
3.5.2. Ý nghĩa của việc tiếp nhận VHDG trong tiểu thuyết Nguyễn Bình PhươngError! Bookm
KẾT LUẬN .................................................................. Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 11
5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Đầy đủ
Viết tắt
Nxb
Nhà xuất bản
ĐHQG
Đại học Quốc Gia
KHXH
6
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết không phải là một vấn
đề mới. Nó xuất hiện ngay từ những ngày đầu hình thành văn học viết. Là hai loại
hình nghệ thuật khu biệt tương đối trong tất cả các tiêu chí và cách thức phân loại,
văn học dân gian và văn học viết có sự tương tác đa chiều mà có thể nhận ra dễ
dàng chiều ảnh hưởng từ văn học dân gian đến văn học viết là trội hơn. “Kinh
nghiệm nghệ thuật phong phú của nhân loại hàng bao nhiêu đời nay đã vạch rõ
nguyên nhân thành công chủ yếu của những tác phẩm ưu tú ở tất cả mọi nước, là sự
liên hệ mật thiết của nhà văn với đời sống nhân dân, với sáng tác tập thể của nhân
dân” [36; tr.13]. Tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết là một tất yếu và
tiếp nhận văn học dân gian vào văn học viết cũng là một quy luật dĩ nhiên của tiến
trình lịch sử. Văn học dân gian với đặc tính nguyên hợp nên được nhìn nhận trong
tổng thể VHDG (VHDG) khi xét đến tác động của nó tới văn học thành văn.
Từ việc đơn thuần chỉ ra các yếu tố dân gian thuộc phạm vi hình thức (như
motif, hình ảnh, cốt truyện, ngôn ngữ, thể loại,…) thì gần đây, bổ sung nội hàm
khái niệm VHDG, người ta đã nhìn sâu hơn đến chiều kích tư tưởng, tinh thần (như
tín ngưỡng, các nghi lễ, tập quán dân gian) thể hiện trong các sáng tác văn học. Tuy
nhiên dù ở góc độ nào, có thể thấy hầu hết các công trình mới chỉ dừng lại ở mục
đích nhấn mạnh vai trò chất nền của VHDG đối với văn học viết, tức mới chỉ ra
chiều tác động của VHDG mà chưa đánh giá đúng mức vai trò chủ thể tiếp nhận ở
đây là những người sáng tác văn học viết. Trước kho tàng VHDG vô cùng phong
phú, mỗi nhà văn tiếp nhận đến đâu, tiếp nhận như thế nào và thể hiện “tri thức dân
gian” ra sao lại tùy thuộc vào tài năng và cá tính của tác giả, đấy chính là một vấn
đề cần được đào sâu hơn nữa.
1.2. Trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại, ảnh hưởng VHDG đến tác
phẩm văn học ở nhiều cấp độ khác nhau đã không còn quá mới mẻ. Ngay từ trước
(Nguyễn Huy Thiệp), Đi tìm nhân vật (Tạ Duy Anh), Mẫu thượng ngàn (Nguyễn
Xuân Khánh), Sự tích những ngày đẹp trời (Hòa Vang), Ngày xưa, cô Tấm… (Lê
Minh Hà), Người đi vắng, Những đứa trẻ chết già, Ngồi (Nguyễn Bình Phương)…
đều là những tác phẩm chịu ảnh hưởng VHDG khá sâu sắc.
8
1.3. Nguyễn Bình Phương không còn là một cái tên xa lạ trong giới nghiên
cứu, phê bình nhưng số lượng độc giả biết đến anh lại phần nào khiêm tốn. Có thể
do văn anh “kén”, khiến những độc giả bình thường có cảm giác bị “làm khó”, bị
“thách thức”. Tuy nhiên, chính sự “kén” đó cho thấy văn của anh “chất” và quả thực
là một thành quả lao động nghệ thuật không mấy dễ dàng.
Nguyễn Bình Phương đến với thơ trước văn xuôi và rồi anh nhanh chóng
khẳng định ngòi bút đa tài với thành công trên tất cả các thể loại. Trong đó tiểu
thuyết vẫn là các trang viết được “săn đón” nhiều hơn. Văn của Nguyễn Bình
Phương dày đặc những tri thức dân gian, đôi khi trừu tượng, kín đáo, đôi lúc rành
rọt kể chuyện Xa xửa xa xưa, cô Tấm dịu hiền…; khi đưa người đọc đến những dãy
điệp vàng thơ mộng ở thành phố, lúc lại chu du trên đỉnh Rùng, núi Hột hoang sơ
trong “đêm Linh Sơn lạnh như cổ tích”. Những trang viết đầy biến cố, đẫm máu và
nước mắt của Nguyễn Bình Phương phần nào được cân bằng chính nhờ những “giấc
mơ cổ tích” ấy. Thú vị hơn nữa nếu người đọc nhận ra Nguyễn Bình Phương đã
khéo léo đưa vào tác phẩm của anh những nét VHDG đặc trưng nhất của vùng bán
sơn địa Thái Nguyên, vùng đất linh thiêng, “cõi khổ đau, bí ẩn và huyền hoặc” này.
Đặc biệt, tiếp nhận VHDG trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương mới mẻ so
với các hình thức tiếp nhận thường thấy, không chỉ là “giả huyền thoại – giả cổ
tích”, không hoàn toàn là “truyện cũ viết lại”, cũng không hẳn là kiểu “truyện lồng
truyện” nếu xét trên tiêu chí và cách thức phân loại thông thường. Dường như vượt
khỏi những khuôn thức đó, tiếp nhận VHDG trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
cần một định danh mới. Nó thể hiện một cấp độ tiếp nhận mới, tưởng như mờ nhạt
trò của văn học dân gian trong văn xuôi Việt Nam hiện đại (Nxb KHXH) năm 1997
đã có những nghiên cứu mới trong vấn đề này. Tác giả đã chỉ ra vai trò văn học dân
gian cụ thể về các mặt cấu trúc, thể loại và phong cách dân gian trong văn xuôi hiện
đại. Công trình đã có cái nhìn khá toàn diện về tiếp nhận văn học dân gian trong văn
xuôi hiện đại.
Tiếp đến, loạt bài nghiên cứu của Bùi Thanh Truyền cũng đã có những đóng
góp mới mẻ cho vấn đề này, đó là các bài viết Ảnh hưởng thần thoại và cổ tích
trong cách xây dựng nhân vật văn xuôi hôm nay (Tạp chí VHDG, số 5 năm 2001);
Sự hồi sinh của yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam (Tạp chí NCVH số
11 năm 2006); Một số đặc trưng về thời gian nghệ thuật của truyện có yếu tố kỳ ảo
đương đại (Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường ĐHSP Huế - 2007); Song đề
10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
SÁCH TÁC PHẨM
1.
Tạ Duy Anh (2004), Thiên thần sám hối, Nxb Đà Nẵng.
2.
Nguyễn Việt Hà (2006), Cơ hội của chúa, Nxb Hội Nhà văn.
3.
Võ Thị Hảo (2005), Giàn thiêu, Nxb Phụ nữ.
4.
16. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG HN.
17. Trần Lê Bảo (2011), Giải mã văn học từ mã văn hóa, Nxb ĐHQG HN.
18. Carl Gustav Jung (2007), Thăm dò tiềm thức, Vũ Đình Lưu dịch, Nxb Tri thức.
19. Lê Đạt (2011), Đối thoại với đời và thơ, Nxb Trẻ.
20. Chu Xuân Diên (2004), Mấy vấn đề văn hóa và văn học dân gian Việt Nam,
Nxb Văn nghệ TP HCM.
21. Cao Huy Đỉnh (1976), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb KHXH
22. Đỗ Đức Hiểu – Nguyễn Huệ Chi – Phùng Văn Tửu – Trần Hữu Tá (2003), Từ
điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới
23. Melentinsky (2004), Thi pháp của huyền thoại (Song Mộc, Trần Nho Thìn
dịch), Nxb ĐHQG HN.
11
24. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới,
Nxb Đà Nẵng, TP HCM.
25. Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb
ĐHQG HN, HN.
26. Nguyễn Bá Thành (2006), Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
27. Trần Ngọc Thêm (2004), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Tổng hợp TP HCM.
28. Trần Nho Thìn (2008), Văn học Trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa,
Nxb Giáo dục.
29. Vũ Quang Trọng (1997), Vai trò của văn học dân gian trong văn xuôi Việt
Nam hiện đại, Nxb KHXH, Hà Nội.
30. V.Guxep (1999), Mỹ học Folklore (Hoàng Ngọc Hiến dịch), Nxb Đà Nẵng.
31. Trần Quốc Vượng (chủ biên) (2000), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, HN
BÀI VIẾT, CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
32. Lại Nguyên Ân (1992), Thần thoại, văn học, văn học huyền thoại, Tạp chí
45. Kiều Thu Hoạch (1998) Vai trò của truyện kể dân gian đối với sự hình thành
các thể loại tự sự trong văn học Việt Nam, Tạp chí Văn hoá dân gian, số 1+2).
46. Nguyễn Thị Thu Huyền (2012), Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong sáng
tác Nguyễn Bình Phương, Luận văn thạc sĩ, Trường ĐH KHXH&NV.
47. Lê Kinh Khiên (1980), Một số vấn đề lý thuyết chung về mối quan hệ văn học
dân gian và văn học viết, Tạp chí NCVH, số 1.
48. Nguyễn Thị Ngọc Lan (2011), Motif “phần thưởng” trong kiểu truyện người
em (qua khảo sát truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam), Tạp chí VHDG, số 5.
49. Đỗ Thị Liên (2007), Thành ngữ - tục ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Huy
Thiệp, Khóa luận tốt nghiệp, Trường ĐH Cần Thơ.
50. M. Bakhtin (1980), Một số khía cạnh phương pháp luận cần chú ý khi nghiên
cứu văn học quá khứ (Vương Trí Nhàn dịch), Tạp chí NCVH, số 4.
51. Vũ Thị Phương (2008), Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn
Bình Phương, Luận văn thạc sỹ, Trường ĐHKHXH&NV.
52. Nguyễn Ngọc Quân (2009), Đến „Ngồi‟ – một hành trình bền bỉ cách tân tiểu
thuyết của Nguyễn Bình Phương, Khóa luận tốt nghiệp, Trường ĐH
HXH&NV.
13
53. Nguyễn Thị Như Trang (2010), Huyền thoại từ văn học dân gian đến tiểu
thuyết tân huyền thoại thế kỷ XX – những biến đổi trong cấu trúc tự sự, Tạp
chí VHDG, số 4, tr. 40 – 50.
54. Nguyễn Thanh Trâm (2012), Motif hóa thân trong truyện cổ tích người Việt,
tạp chí VHDG, số 1, tr. 48 – 54.
55. Phạm Thị Trâm (2002), Vai trò của văn học dân gian trong sáng tác một số
nhà văn hiện đại”, Luận án tiến sĩ, Trường ĐH KHXH&NV.
56. Phạm Thị Ngọc Trâm (1998), Truyện cổ dân gian – khởi điểm cảm hứng sáng
tạo của nhà văn, Tạp chí VHDG, số 10, tr.71 – 72.
17/04/2009.
67. Nông Hồng Diệu (2005), Nguyễn Bình Phương – Văn học mênh mông như
cuộc sống, http://chuyentrang.tuoitre.vn, 18/11/2005.
68. Nông Hồng Diệu (2013), Nguyễn Bình Phương – Sống bình thường viết không
bình thường, http://www.tienphong.vn/van-nghe/, 11/08/2013.
69. Lam Điền, Nhà văn Nguyễn Bình Phương, không thể tẩy xỏa lịch sử giữ nước,
http://m.tuoitre.vn/
70. La Mai Thi Gia (2011), Ý nghĩa của motif tái sinh trong trong việc thể hiện tư
tưởng chủ đề của truyền thuyết và truyện cổ tích, http://khoavanhocngonngu.edu.vn/, 07/04/2011.
71. Thu Hà (2004), Nguyễn Bình Phương với thói quen quan sát người điên,
http://giaitri.vnexpress.net/, 05/08/2014.
72. Vũ Thị Mỹ Hạnh, VHDG trong văn xuôi đương đại Việt Nam,
http://phongdiep.net/
73. Nguyễn Chí Hoan (2004), Cấp độ hiện thực và sự hão huyền của ý thức trong
„Thoạt kỳ thủy‟, Báo Người Hà Nội, số 33, 13/08/2004.
74. Nguyễn Quang Huy, Thử dẫn vào nghiên cứu văn học từ góc nhìn cổ mẫu
(archétype), http://tapchisonghuong.com.vn/, 23/07/2012
75. Nguyễn
Quang
Huy,
Những
mộng
http://tapchisonghuong.com.vn/ , 19/12/211.
15
văn
hóa
dân
tộc,
http://www.tapchicongsan.org.vn/, 26/2/2007
83. Nguyễn Thị Thanh Xuân, Phê bình cổ mẫu và cổ mẫu nước trong văn xuôi
Việt Nam, http://vanhoanghean.com.vn/i, 21/10/2010.
16