BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 CHU THỊ MINH THẢO
THỜI GIAN TỰ SỰ
TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM HÀ NỘI, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lý luận văn học, cùng các thầy cô giáo
phòng Sau Đại học trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi trong suốt quá trình triển khai luận văn.
Hà Nội, ngày 12 tháng 07 năm 2013
Học viên Chu Thị Minh Thảo
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thầy giáo - TS.
Phùng Gia Thế.
Tôi xin cam đoan:
- Đây là kết quả nghiên cứu tìm tòi của riêng tôi.
- Đề tài không trùng với kết quả của bất cứ tác giả nào khác.
Hà Nội, ngày 12 tháng 07 năm 2013
Học viên Chu Thị Minh Thảo
Chương 2. TRÌNH TỰ KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA
NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG 25
2.1. Trình tự kể ở cấp độ mạch truyện 25
2.1.1. Trình tự kể biên niên 27
2.1.2. Phi tuyến tính hóa trình tự kể 44
2.2. Trình tự kể ở cấp độ văn bản 63 Chương 3. TẦN SUẤT VÀ NHỊP ĐIỆU KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU
THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG 69
3.1. Tần suất kể chuyện 69
3.1.1. Tự sự đơn nhất 69
3.1.2. Tự sự trùng lặp và tự sự khái quát 88
3.2. Nhịp điệu kể chuyện 91
3.2.1. Nhịp điệu chậm dần 92
3.2.2. Nhịp điệu nhanh dần 99
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Nói đến tiểu thuyết là nói vấn đề thời gian tính. Theo nhà cấu trúc
luận người Pháp Gérard Genette thì "tiểu thuyết đặc biệt có khả năng nhấn
mạnh quá trình thời gian hơn bất kỳ thể loại nào khác". Mặt khác, nói đến tiểu
thuyết là nói đến nghệ thuật tự sự, đó là nghệ thuật xếp đặt các chuỗi tình tiết
học đương đại Việt Nam. Ông sáng tác và thành công trên nhiều thể loại, đặc
biệt là ở thể tiểu thuyết. Sau đây, chúng xin lược khảo những nghiên cứu,
đánh giá về tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương.
Từ cấp độ nghiên cứu chung về tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
có thể kể đến một số bài viết như: “Một lối đi riêng của Nguyễn Bình
Phương” của Hoàng Nguyên Vũ, “Một số đặc điểm nổi bật trong sáng tác của
Nguyễn Bình Phương” của Trương Thị Ngọc Hân, “Tiểu thuyết hiện đại - Sự
hội ngộ các tư duy tiểu thuyết hiện đại trong tiểu thuyết Nguyễn Bình
Phương” của Nguyễn Phước Bảo Nhân, “Yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết của
Nguyễn Bình Phương” của Nguyễn Thị Ngọc Anh, “Cảm nhận tiểu thuyết
Nguyễn Bình Phương”, “Những dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết của
Nguyễn Bình Phương” của Phùng Gia Thế, “Nghệ thuật tự sự trong tiểu
thuyết của Nguyễn Bình Phương” của Hoàng Thị Thùy Linh,…
Ngoài ra, còn có một số bài phê bình, giới thiệu về tiểu thuyết của
Nguyễn Bình Phương của Nxb. Hội nhà văn, của các trang báo mạng và các
công trình nghiên cứu đề cập đến phạm vi tiểu thuyết Việt Nam đương đại lấy
các sáng tác của Nguyễn Bình Phương như là các minh chứng để làm sáng tỏ
vấn đề. Tiêu biểu trong số đó, chẳng hạn như: “Nhận diện thi pháp thể loại
tiểu thuyết mới ở Việt Nam sau 1990” của Phùng Phương Nga, “Tiểu thuyết
Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI” của Cao Thị Hà, Những cách tân nghệ
thuật trong Tiểu thuyết Việt Nam đương đại (giai đoạn 1986 - 2006) của Mai
Hải Oanh…
Nghiên cứu Nguyễn Bình Phương, chúng tôi đặc biệt chú ý những bài
đánh giá cụ thể về các bình diện thi pháp trong mỗi tác phẩm của ông. Tiêu
3
4
thời gian tự sự - một phương diện quan trọng trong thi pháp tiểu thuyết của
nhà văn lại chưa được các nhà nghiên cứu, phê bình bàn luận chuyên sâu.
Nghiên cứu vấn đề thời gian tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình
Phương, tác giả luận văn cũng học tập được nhiều ý tưởng và cách tiếp cận
vấn đề thời gian tiểu thuyết trong bài viết của nhà tác giả: Đào Duy Hiệp
(“Các cấp độ thời gian trong truyện ngắn Chí Phèo” [14]; “Thời gian trong
Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh” [15]), Nguyễn Mạnh Quỳnh (“Tìm
hiểu nhịp điệu kể chuyện trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng [37]; Tiểu thuyết
Vũ Trọng Phụng, nhìn từ lí thuyết thời gian tự sự của G. Genette, Luận án
Tiến sĩ Ngữ văn [38]), Thái Phan Vàng Anh (“Thời gian trần thuật trong tiểu
thuyết Việt Nam đương đại” [4]), các luận văn thạc sĩ về thời gian tự sự của
Phùng Hữu Hải, Nguyễn Thị Vân Anh…
Từ sự phân tích sơ bộ ở trên, chúng tôi cho rằng, việc nghiên cứu đề tài
“Thời gian tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương” là cần thiết và có ý
nghĩa lí luận - thực tiễn thiết thực. Có thể xem đây là một trong những con
đường thuận lợi nhất để tác giả luận văn tìm ra những nét độc đáo trong tiểu
thuyết Nguyễn Bình Phương nhằm đánh giá đúng những đóng góp của ông
vào tiến trình tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
2. Mục đích nghiên cứu
3.1. Phân tích đặc tính và diễn biến thời gian tự sự trong tiểu thuyết
Nguyễn Bình Phương nhằm chỉ ra một phương diện độc đáo trong tiểu thuyết
của nhà văn.
3.2. Khẳng định những đóng góp quan trọng về tư duy tiểu thuyết và thi
pháp thể loại (cách viết, kĩ thuật tiểu thuyết) của Nguyễn Bình Phương vào
tiến trình tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
chỉ ra những nét độc đáo trong tư duy nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn.
7.2. Khẳng định những đóng góp quan trọng của Nguyễn Bình Phương về
tư tưởng và kĩ thuật tiểu thuyết vào tiến trình tiểu thuyết Việt Nam đương đại
7.3. Góp phần khẳng định ý nghĩa của hướng phân tích lí thuyết – lịch
sử trong nghiên cứu văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng.
6
7. Bố cục của luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và tài
liệu tham khảo. Riêng phần nội dung được trình bày trong ba chương:
Chương 1. Khái niệm thời gian tự sự và một số đặc điểm của tổ chức
thời gian tự sự trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
Chương 2. Trình tự kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương.
Chương 3. Tần suất và nhịp điệu kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn
Bình Phương.
8
thay còn có thế giới của Tư Tưởng, của Linh Hồn, một thế giới vĩnh cửu, vượt
khỏi thời gian, không chịu sự khống chế của quy luật thời gian. Thời gian trở
thành “hình ảnh chuyển động của sự vĩnh cửu bất động”. Aristote lại quan
niệm thời gian cũng như sự chuyển động mang tính chất vĩnh cửu, vô thuỷ vô
chung. “Thời gian là thước đo của sự chuyển động giữa trước và sau, thời
gian liên tục bởi vì thuộc vào sự liên tục”. Chỉ có thời gian hiện tại mới là thời
gian thực sự. Theo trường phái Khắc Kỷ (stoiciens), thời gian không có thực
chất, nhưng “mọi sự vật hiện hữu và chuyển động chính ở trong thời gian”.
Thời gian nằm trong cuộc sống của thế giới, tức là của Tạo Hoá, bởi vì vũ trụ
chính là Thiên Nhiên, là Tạo Hoá. Bởi vậy mà các nhà hiền triết của trường
phái Khắc Kỷ tuân theo thời gian, chấp nhận thời gian, sống phù hợp với thời
gian để hoà đồng với tạo hoá.
Thời kì Trung cổ, Thánh Augustin đã đưa ra những nhận định sâu sắc
về thời gian: “Thời gian là gì? Nếu không ai hỏi tôi về thời gian, thì tôi biết
rõ; nhưng khi cần phải giải thích thì tôi không còn biết thời gian là gì. Tuy
vậy, tôi dám mạnh bạo quả quyết rằng, nếu không có gì xảy ra, sẽ không có
thời gian đi qua; nếu không có gì xảy đến, sẽ không có thời gian sắp tới; nếu
không có gì hiện hữu, sẽ không có thời gian hiện tại. Nhưng hai thời gian này,
quá khứ và tương lai, làm sao chúng có mặt được, nếu quá khứ không còn nữa
và tương lai chưa tới? Ngay cả hiện tại, nếu luôn còn đó, không mất đi trong
quá khứ, nó sẽ không phải là thời gian, nó sẽ là vĩnh cửu. Vậy, nếu hiện tại
muốn là thời gian, phải mất đi trong quá khứ, thì làm sao chúng ta khẳng định
rằng nó cũng có mặt, khi mà lí do duy nhất của sự có mặt này chính là sự
không còn nữa?”. Như vậy, Thánh Augustin đã quan niệm thời gian không
phải là cái bất biến, vĩnh cửu mà nó luôn trôi chảy, vận động không ngừng, nó
gian tâm lí. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà nghiên cứu văn
học bởi nó đã chỉ ra sự khác biệt của thời gian trong nghệ thuật và thời gian
trong các lĩnh vực khác, chạm tới vỉa tầng tâm lí, vấn đề nhận thức và vô
thức. Đồng thời nó còn mở ra cho người viết một hướng xử lí thời gian mang
đậm tính nghệ thuật.
10
Thời gian là một nhân tố rất quan trọng trong nghệ thuật tự sự. Ở một
số nước phương Đông, trong đó có Việt Nam, giới lí luận đồng thời quan tâm
tới cả hai yếu tố: không gian và thời gian. Nhưng ở phương Tây, họ quan tâm
đặc biệt tới trục thời gian hơn là không gian. Nhà tự sự học người Pháp
Gérard Genette quan niệm: “Tôi có thể kể một câu chuyện mà không cần nói
chính xác địa điểm nó xảy ra, hoặc nó xa cách bao lăm so với địa điểm phát
ngôn của tôi, nhưng dường như tôi không thể nào loại bỏ việc xác định thời
gian trong tương quan với hành động kể chuyện của mình, bởi lẽ tôi cứ nhất
thiết phải kể lại câu chuyện trong một thì nhất định về hiện tại, quá khứ hoặc
tương lai” [8, tr.85].
Và “thời gian là một vấn đề được lưu ý đặc biệt trong nghệ thuật kể
chuyện, bởi lẽ đi tìm một định nghĩa đơn giản nhất về kể chuyện, người ta cho
rằng đó chính là nghệ thuật xếp đặt những chuỗi tình tiết hoặc nghệ thuật
trình bày các sự kiện trong mối liên hệ với thời gian” [8, tr.85].
Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 nhất là sau 1986 với sự đổi mới kĩ thuật
viết, với những cách tân táo bạo trong nghệ thuật tự sự đã phá vỡ (nhưng
không cắt lìa) cấu trúc thời gian truyền thống, góp phần tạo nên những sắc
thái độc đáo của thời gian trong tiểu thuyết đương đại.
1.1.1.2. Các loại thời gian trong tự sự
G. Genette đã phân chia thành ba loại: thời gian của chuyện, thời gian của
truyện và thời gian phát ngôn (kể truyện).
Về thời gian của chuyện, nó được coi như là “sự diễn tiến của các sự
kiện trong tính kế tiếp hay đồng thời, nghiêm ngặt như là chúng đã được hoàn
thành, xét về mặt chiếu vật, là trật tự niên biểu của các sự kiện hình thành nên
truyện” [11, tr.18]. Hay nói khác đi, thời gian của chuyện là “thời gian được
đóng khung trong những sự kiện, những nhân vật được kể vận động theo trật
tự niên biểu” [17, tr.110]. Thời gian của câu chuyện không phải lúc nào cũng
trùng với thời gian của truyện kể.
Thời gian của truyện là “thời gian chủ quan của người kể” [17, tr.111],
tức là thời gian của sự kiện, của nhân vật đã được sắp xếp lại, phân bố lại theo
chủ quan của người kể. Thời gian của truyện thể hiện tài năng của người viết
12
trong việc xử lí thời gian, thể hiện khả năng nhìn nhận và phản ánh cuộc đời
của họ. Thời gian của truyện có khi trùng với thời gian của câu chuyện, có khi
không. Đó là khi trật tự thời gian trong truyện bị xáo trộn, không theo trật tự
thời gian niên biểu của các sự kiện, nhân vật, sự việc xảy ra sau đưa lên trước,
sự việc xảy ra ở quá khứ lại đưa về sau, qúa khứ, hiện tại, tương lai không
theo trình tự tuyến tính.
Thời gian kể truyện (thời gian phát ngôn): thời gian kể và thời gian của
truyện là một thể xoắn kép, khó tách bạch mà không phải lúc nào người đọc
cũng nhận ra. Thời gian kể là “thời gian đã được định lượng rõ ràng và đó là
thời gian hình tuyến của ngôn từ” [17, tr.113]. Lấy cái hình tuyến của lời kể
để diễn đạt cái phi tuyến của không gian, nhân vật là một nét đặc trưng của
của trần thuật” [41, tr.94]. G. Genette đã tìm ra “độ lệch văn bản thông qua
mối liên hệ của hai lớp thời gian này”.
Dưới quan niệm tự sự học, G. Genette đã đưa ra định nghĩa về thời gian
như sau: “Thời gian nghệ thuật là một chuỗi thời gian kép, có thời gian của
cái được kể lại và thời gian của truyện, tức là thời gian của cái được biểu đạt
và thời gian của cái biểu đạt”. Không phải thời gian nào xuất hiện trong
truyện cũng là thời gian nghệ thuật. Đi vào khám phá thời gian nghệ thuật của
một tác phẩm tức là đi vào tìm hiểu cả thời gian được trần thuật và thời gian
trần thuật (thời gian tự sự). Và Tự sự học quan tâm chủ yếu đến thời gian tự
sự - nghệ thuật xử lí thời gian của nhà văn.
Thời gian tự sự (narrative time), còn được gọi là “thời gian giả”
(pseudo – temporal) theo cách nói của G. Genette, để phân biệt với thời gian
của bản thân câu chuyện hoặc sự kiện được trần thuật chính là thời gian của
truyện kể. Đó là “thời gian của trật tự các sự kiện đã được phân bố lại trong
truyện do sắp xếp chủ quan của người kể chuyện” [12, tr.33]. Thời gian tự sự
không tuân theo quy luật của thời gian vật lí thông thường mà đã được tái tạo
lại bởi chủ quan của người kể chuyện. Người kể chuyện bao giờ cũng sử dụng
thời gian như một phương tiện đặc thù làm bối cảnh để kể chuyện, thoát ra
14
ngoài thời gian quy ước. Trình tự trần thuật sẽ bị đảo lộn bằng cách thuật lại
những việc đã qua hay chưa đến. Các thủ pháp rút gọn, tỉnh lược, kéo dài,
ngừng nghỉ, lặp lại… cũng thường được người kể chuyện sử dụng để tổ chức
thời gian của trật tự các sự kiện sao cho đạt hiệu quả nghệ thuật cao nhất.
Giữa thời gian tự sự và thời gian của bản thân câu chuyện có mối quan
hệ với nhau. Nói cách khác, đó là mối quan hệ giữa thời gian trần thuật và
trình tự thời gian tiếp nối các sự kiện trong câu chuyện với trình tự thời gian
giả được sắp xếp trong trần thuật” [26, tr.496]. Nghĩa là trình tự kể chuyện
xác định mối quan hệ tiếp nối của các sự kiện trong câu chuyện với cái cách
mà chúng được sắp xếp trong truyện (sự sắp xếp thời gian giả). Trong tự sự
cổ trung đại, thường thì trình tự thời gian tiếp nối các sự kiện và trình tự thời
gian giả được sắp xếp trong trần thuật là thống nhất, trùng khít với nhau; trần
thuật trong văn bản theo thời gian hình tuyến, việc xảy ra trước kể trước, việc
xảy ra sau kể sau, không có sự sai trật tự niên biểu. Nhưng về sau, trình tự
biên niên của các sự kiện trong câu chuyện thường bị xáo tung. Trình tự của
cái được kể được ngắt ra bằng một số cách khác nhau.
Thời sai (anachrony) là thuật ngữ mà G. Genette sử dụng để chỉ ra tất
cả những kiểu lệch pha, các độ chênh giữa trình tự thời gian của chuyện và
thời gian của truyện. Đảo thuật và dự thuật là hai biểu hiện cơ bản của thời
sai.
Đảo thuật (analepse) là “thuật lại những sự việc đã qua” [26, tr.496],
nghĩa là kể lại các sự kiện đã diễn ra trước hiện thời “bây giờ” của câu chuyện
đang được kể.
G. Genette chia đảo thuật ra thành các loại: đảo thuật bên ngoài, đảo
thuật bên trong và đảo thuật hỗn hợp.
- Đảo thuật bên ngoài (external analepse) là ngoái về phía sau, trước
điểm bắt đầu của truyện và cũng kết thúc trước đó. Đảo thuật bên ngoài
không can thiệp vào khung thời gian của câu chuyện.
- Đảo thuật bên trong (internal analepse) là “kể lại những sự việc có
giao thoa về thời gian ở đầu… sự việc đang trần thuật” [26, tr.496]. Đảo thuật
16
17
+ Dự thuật bổ sung (completing prolopse): lấp đầy về phía trước một
khoảng trống thời gian sẽ xuất hiện sau đó.
+ Dự thuật tuần hoàn (repeating prolopse) là những lời báo trước cho
sự kiện sẽ được kể vào thời điểm thích hợp của truyện.
Genette còn đưa ra khái niệm “achrony”, nhiều người dịch là dự thuật
hồi tưởng, và định nghĩa nó là “một đảo thuật dự báo” hay “một dự thuật có
tính hồi tưởng”, nghĩa là “nó xảy ra muộn hơn khi chúng ta đã nhìn thấy nó”
hoặc “nó đã xảy ra và chúng ta sẽ nhìn thấy nó sau”.
Dự thuật trong văn học, nhất là văn học cổ điển hay xuất hiện dưới hình
thức “điềm báo” hoặc “báo mộng”.
Dù là đảo thuật hay dự thuật cũng đều có hai loại: đồng sự và dị sự.
Loại trước là kể lại hoặc kể trước những sự việc liên đới. Loại sau thì ngược
lại, tức là kể lại hoặc kể trước những sự việc không liên đới.
Thời sai còn bao gồm tầm thời sai và phạm vi. “Thời điểm của cốt
truyện mà ở đó truyện kể được ngắt ra để kể truyện, G. Genette gọi là tầm
thời sai là khoảng cách thời gian từ chuyện đến truyện kể. Nó cũng có thể bao
phủ lên khoảng thời gian cốt truyện dài hay ngắn hơn, Genette gọi là biên độ
(amplitude) của nó” [17, tr.116].
Thời sai cũng bao gồm khoảng thời gian (duration) của câu chuyện, đó
là sự kiện đã diễn ra bao nhiêu lâu, hoặc nó sẽ kéo dài trong bao nhiêu lâu.
Như vậy, để khám phá, phân tích được thời gian tự sự của một tác
phẩm tự sự trước hết phải khảo sát được trình tự kể hay chính xác hơn là tìm
ra được ý nghĩa của thời sai. “Công việc có tính chất phân tích nghệ thuật
thực sự, đó không phải là tách rời việc phân tích thời gian sự kiện và thời gian
trần thuật mà là đi tìm mối liên hệ giữa hai cái đó để phát hiện ra những độ
lệch giữa chúng” [8, tr.89].
Nó nhấn mạnh vào một sự ám ảnh nào đó, hoặc thể hiện một thái độ, một
hành vi vô lí.
19
- Tự sự mang tính tổng hợp (récit itératif) là “trần thuật một lần sự việc
xảy ra rất nhiều lần” [26, tr.497]. Loại tự sự này có thể được xem xét bởi các
yếu tố: khoảng thời gian mà sự kiện xuất hiện, nhịp độ lặp lại của sự kiện và
quãng thời gian được mở rộng ra bởi sự thuật lại sự kiện.
Tần suất chính là “cách tính thời gian kể theo tần số xuất hiện trong
mối tương quan giữa lời kể và cốt truyện” [17, tr.140].
Tần suất kể truyện chính là một phương diện cơ bản của thời gian tự
sự, tuy nhiên nó ít được các nhà lí luận phê bình chú ý tới.
Ba cấp độ kể trên là những phương diện cơ bản nhất và cũng gần như
hoàn thiện nhất về thời gian tự sự. Khảo sát thời gian trong một tác phẩm tự
sự dựa trên lí thuyết thời gian tự sự mà G. Genette đã đề xuất sẽ giúp ta nắm
bắt được những chuyển vận phức hợp, bóc tách được các lớp thời gian, luận
giải được quan niệm thời gian, phương cách tự sự, tư tưởng… của tác giả.
Genette đã có công lớn trong việc lập ra “công thức” thời gian tự sự để khám
phá tác phẩm. Bởi vậy, ông được đánh giá là “người có quyền uy nhất” (chữ
dùng của Phương Lựu) trong thời gian tự sự.
1.1.2.3. Nhịp điệu kể chuyện
Nhịp điệu là tốc độ, là yếu tố thứ ba của thời gian tự sự để chỉ ra mối
liên hệ giữa thời gian có thể thay đổi của các phần của câu chuyện với độ dài
của văn bản mà trong đó các phần truyện được kể lại.
Chỉ cái khoảng cách giữa thời gian tự sự và thời gian câu chuyện, G.
Genette sử dụng thuật ngữ “phi đẳng thời” (anisochronie). Khoảng cách này