- 1 -
B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI 2
NGUYN C TON
NHNG YU T HU HIN I TRONG TIU THUYT
NGUYN BèNH PHNG V NGUYN VIT H luậnvănthạcsĩvănhọc
Ngi hng dn: PGS. TS Trng ng Dung
hiện đại”, và “lịch sử tiểu thuyết Việt Nam chưa có thời nào sánh được với thời kì này:
đồ sộ về khối lượng, phong phú về chủ đề, sâu sắc về nội dung và nghệ thuật của tác
phẩm” [88; 46]. Đặc biệt những năm cuối thập kỉ 80 đầu thập kỉ 90 đã đồng thời xuất
hiện một số tiểu thuyết ngắn của những nhà văn trẻ có ý thức làm mới ngòi bút.
Trên văn đàn, tiểu thuyết ngày càng khẳng định vai trò là “xương sống”, là “cột
trụ” của nền văn học. Những hiện tượng mới lạ, những cách tân táo bạo gây dư luận ồn
ào và kéo dài, những tranh cãi gay gắt, những diễn biến phức tạp và bất ngờ của quá
trình tiếp nhận văn học… hầu như diễn ra trong lĩnh vực tiểu thuyết. Đây cũng là giai
đoạn tiểu thuyết chúng tôi chọn nghiên cứu trong luận văn.
1.3 Thập niên cuối của thế kỉ XX trở lại đây, thuật ngữ hậu hiện đại được giới
cầm bút ở nước ta nhắc đến nhiều trong các cuộc hội thảo, tọa đàm, nhiều hơn cả là
qua các bài tiểu luận – phê bình nghiên cứu. Sau khoảng gần hai chục năm xuất hiện
trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, dẫu đã bớt đi sự ngờ vực, nhưng nhìn chung giới
nghiên cứu ở nước ta vẫn có thái độ dè dặt khi tiếp cận nó. Hiển nhiên, ai cũng biết, ở
Việt Nam không thể có một chủ nghĩa hậu hiện đại theo nghĩa đầy đủ của khái niệm
này. Tuy thế, vẫn có cơ sở để khẳng định: có những dấu ấn, yếu tố hậu hiện đại trong
văn học Việt Nam. Mặc nhiên, chúng tôi không cho rằng cứ những gì của văn học
- 3 -
đương đại thì quy hết về hậu hiện đại, mà chỉ muốn nói, trong cái đương đại hàm chứa
những mầm mống của thi pháp hậu hiện đại.
Tiểu thuyết Việt Nam gần đây có nhiều tín hiệu đổi mới, nhiều khuynh hướng tìm
tòi thể nghiệm, quẫy cựa để “khơi thông dòng chảy” (Nguyên Ngọc). Những sáng tác
của các cây bút tiểu thuyết đương đại như Nguyễn Xuân Khánh, Châu Diên, Tạ Duy
Anh, Hồ Anh Thái, Võ Thị Hảo, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Thuận… như
cuộc tìm kiếm và khai thác tiềm năng thể loại vốn đã được làm cách đây khá lâu ở
phương Tây. Họ đã góp phần tạo nên bước vận động mới của tiểu thuyết Việt Nam.
Nghiên cứu về tiểu thuyết của họ, nhiều nhà nghiên cứu – phê bình đã tìm thấy những
dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại phương Tây.
Luận văn lựa chọn đối tượng nghiên cứu là tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
và Nguyễn Việt Hà còn vì những lí do cơ bản sau:
viết nào bàn về vấn đề dấu hiệu hậu hiện đại trong tiểu thuyết một cách hệ thống. Có
chăng, chỉ là những bài phê bình phát lộ một vài phương diện riêng lẻ nào đó của một
số tác phẩm (các bài viết của Đoàn Cầm Thi, Thụy Khuê, Nguyễn Hòa ). Bên cạnh đó
là những bài viết cảm nhận toàn bộ những tiểu thuyết của hai nhà văn như là việc
hướng dẫn cách tiếp cận tác phẩm (các bài viết của Thụy Khuê, Phùng Gia Thế, Đoàn
Ánh Dương ).
Qua khảo sát nguồn tài liệu tham khảo, chúng tôi thấy có thể sắp xếp thành 3
nhóm:
* Các công trình nghiên cứu, bài viết đăng tải trên website, báo – tạp chí chuyên
ngành nghiên cứu chung về văn học hậu hiện đại
* Các công trình nghiên cứu, bài viết đăng tải trên website, báo – tạp chí chuyên
ngành nghiên cứu chung về tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
* Các công trình nghiên cứu, bài viết đăng tải trên website, báo – tạp chí chuyên
ngành nghiên cứu chung về tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà
Tất cả các bài viết về Nguyễn Bình Phương giúp chúng ta có điều kiện thâm nhập
vào động cơ sáng tạo, tư tưởng nhà văn, quan niệm của nhà văn về thể loại, ít nhiều đã
đề cập tới những yếu tố hậu hiện đại trong tiểu thuyết của nhà văn này (chẳng hạn vấn
đề cảm quan đời sống và đổi mới kỹ thuật tiểu thuyết theo hướng hậu hiện đại) trở
- 5 -
thành những gợi ý quan trọng trong khi chúng tôi triển khai hệ thống luận điểm của
luận văn.
Nhìn một cách đại để, các bài viết và công trình nghiên cứu đã khẳng định việc
Nguyễn Bình Phương đã vượt ra ngoài lối tư duy của tiểu thuyết truyền thống để tìm
kiếm những tiềm năng khác của tiểu thuyết ở các phương diện nội dung cũng như kĩ
thuật trần thuật. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những phát hiện riêng lẻ ở cấp độ tác phẩm
hay ở từng phương diện nào đó của tiểu thuyết. Do đó chưa có điều kiện đi sâu vào
những ảnh hưởng và tiếp thu văn học hậu hiện đại thế giới trong tiểu thuyết Nguyễn
Bình Phương trên một cấp độ tổng thể.
Qua lịch sử nghiên cứu vấn đề tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà, chúng tôi nhận thấy
những thể nghiệm tiểu thuyết của nhà văn chưa được nghiên cứu một cách kĩ lưỡng
Nguyễn Bình Phương và Nguyễn Việt Hà qua cái nhìn so sánh.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát, nhận diện dấu hiệu hậu hiện đại qua thực tế sáng tác của hai nhà văn
Nguyễn Bình Phương và Nguyễn Việt Hà.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ của đề tài, đối tượng nghiên cứu của luận
văn là những tiểu thuyết của hai nhà văn Nguyễn Bình Phương và Nguyễn Việt Hà.
4.2 Tìm hiểu những yếu tố hậu hiện đại trong tiểu thuyết đương đại là mong muốn
lớn của người thực hiện luận văn nhưng khi bước vào thực hiện chúng tôi gặp không ít
khó khăn trong khâu tìm kiếm tư liệu. Bởi vậy, chúng tôi tự giới hạn đề tài nghiên cứu
ở những tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương và Nguyễn Việt Hà – hai nhà văn trẻ
được coi là có những nỗ lực cách tân sáng tác của mình theo khuynh hướng hậu hiện
đại, đồng thời số lượng tiểu thuyết (ở Nguyễn Bình Phương – 5 cuốn và Nguyễn Việt
Hà – 2 cuốn), cần và đủ để cho phép người nghiên cứu đi sâu vào những vấn đề mà
mục đích và nhiệm vụ đề tài đã đặt ra.
Nguyễn Bình Phương với các tiểu thuyết: Trí nhớ suy tàn (tái bản theo bản in
năm 2000 của Nhà xuất bản Thanh niên), Nxb Văn học, 2006; Thoạt kì thủy, Nxb Hội
nhà văn, 2004; Những đứa trẻ chết già (Tái bản lần thứ 2), Nxb Văn học, 2008;
Người đi vắng, Nxb Văn học, 1999; Ngồi, Nxb Đà Nẵng, 2008.
- 7 -
Nguyễn Việt Hà với hai tiểu thuyết Cơ hội của Chúa (tái bản lần thứ 2), Nxb Hội
nhà văn, 2006; Khải huyền muộn, Nxb Hội nhà văn, 2005 chúng tôi chọn là đối tượng
nghiên cứu trong luận văn.
Trong quá trình triển khai nội dung, sự mở rộng sang tiểu thuyết của các nhà văn
đương đại khác chỉ có tính chất liên hệ làm rõ vấn đề mà chúng tôi đang nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên
cứu như sau:
- Phương pháp thống kê, khảo sát.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
sự nỗ lực không ngừng, mỗi nhà tiểu thuyết sẽ có một khuôn mặt riêng với những đóng
góp riêng. Từ đó ở mức độ cần thiết, chúng tôi đi đến những luận điểm khoa học về
những dấu hiệu hậu hiện đại của trong tiểu thuyết của hai nhà văn. II. NỘI DUNG
CHƯƠNG I - SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TƯ DUY TIỂU THUYẾT
TỪ SAU THỜI KÌ ĐỔI MỚI VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA KHUYNH HƯỚNG
HẬU HIỆN ĐẠI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
1.1Tư duy tiểu thuyết Việt Nam trước thời kì đổi mới
1.1.1 Quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người
- 9 -
Tiểu thuyết từ khi ra đời xứng đáng là thể loại có khả năng ôm chứa phạm vi đời
sống rộng lớn với tất cả sự phong phú, phức tạp và chiều sâu khôn cùng của nó. Giai
đoạn 1945 – 1975, với nguyên lí “văn học phản ánh hiện thực” và yêu cầu quán triệt lí
luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, văn học trở nên gắn bó với đời sống xã
hội hơn, theo sát từng biến cố lịch sử. Tính hiện thực được đồng nhất với quan niệm lí
tưởng về hiện thực. Sự lệ thuộc của nhà văn vào hiện thực khi đó sau này được Nguyễn
Minh Châu nhìn lại: “ cũng phải nói thật với nhau rằng: mấy chục năm qua, tự do
sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài
hoa kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn, cho chữ nghĩa những văn bản vốn
thường đứng cao hơn bạn đọc, không bao giờ kể với thái độ do dự hay hoài nghi. Anh
ta tuyệt đối tin vào mình và không diễn ra cuộc phản biện nào giữa nhà văn và độc giả.
Ý thức “độc thoại” là chị em song sinh với cái hiện thực “hoàn kết”, “được biết trước”,
phần nhiều là “như nó phải có”, “cần có”. Đây là kiểu tự sự duy nhất một điểm nhìn.
Thứ ba, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật của tiểu thuyết trong suốt giai đoạn
này là thứ ngôn ngữ nhất quán, tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc ngữ pháp, chọn lựa kĩ
lưỡng ngôn từ để đạt mục đích biểu cảm và truyền tải thông điệp cuộc sống. Văn
chương không dung nạp thứ ngôn ngữ thô tục, nó là tấm thảm nhiều màu được nhà văn
dệt nên từ ý tưởng sáng tạo đẹp đẽ. Giọng điệu trần thuật cũng nhất quán: giọng khẳng
định, ngợi ca của một cái nhìn tin tưởng, lạc quan bao trùm.
1.2 Tư duy tiểu thuyết Việt Nam sau thời kì đổi mới
1.2.1 Quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người
Sau 1975, tiểu thuyết đã có sự nới rộng phạm vi hiện thực, hiện thực lúc này là cái
chưa biết, không thể biết hết, hiện thực phức tạp, cần phải khám phá, tìm tòi. Nhà văn
lựa chọn hiện thực nào không quan trọng bằng cách đánh giá của anh ta về hiện thực
ấy. Nhà văn không coi việc dựng lại trung thực bức tranh đời sống là mục đích của
nghệ thuật, không quan niệm hiện thực phải được miêu tả theo đúng logic thông
thường mà có thể chỉ là phương tiện để diễn tả suy nghĩ, chiêm nghiệm và cả sự phiêu
lưu bút pháp trong khát vọng chiếm lĩnh cái thế giới vô cùng rộng lớn và nhiều bí ẩn
này. Nhà văn đóng vai trò chủ động đối với việc lựa chọn hiện thực – một dấu hiệu dân
chủ hóa văn học.
- 11 -
Thật vậy, lịch sử văn học, nhìn theo một góc độ nào đó là lịch sử của những quan
niệm nghệ thuật khác nhau về con người. Giai đoạn văn học Việt Nam sau 1975, con
người cá nhân phức tạp và bí ẩn đã thay thế cho kiểu con người sử thi – con người
cộng đồng trước đó. Sự thức tỉnh ý thức cá nhân diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi phải nhìn
nhận lại nhiều điều. Tiểu thuyết sau 1975 nói riêng xuất hiện kiểu con người “không
trùng khít với chính mình”, con người phức tạp, nhiều chiều. Vì thế, đem lại cảm giác
con người là một tiểu vũ trụ đầy bí ẩn, không thể biết trước và không thể biết hết. Nhà
văn giai đoạn này muốn đối thoại với quan niệm giản đơn, phiến diện, nhiều chủ quan
tính cách, nhân vật chủ yếu là phương tiện để nhà văn chuyển tải quan niệm về đời
sống” [30; 141]. Chính M. Bakhtin cũng từng nhận định “tính vấn đề là nét mới và đặc
thù của tiểu thuyết, đặc điểm của nó là luôn luôn nhận thức lại, kiến giải lại, đánh giá
lại. Cái trung tâm, nơi xuất phát mọi hoạt động biện giải và biện hộ cho quá khứ được
di chuyển vào tương lai” [20; 48].
Riêng khuynh hướng trần thuật qua nhiều điểm nhìn khác nhau đã là một đổi
mới không phải nhỏ so với văn xuôi giai đoạn 1945 – 1975. Mỗi điểm nhìn trần thuật
gắn với một sự trải nghiệm, và như vậy, hiện thực được đánh giá theo nhiều cách.
Người đọc tự nhiên được lôi cuốn vào “trò chơi” của nhà văn vì anh ta được dành cho
quyền quyết định sau cùng đối với cái hiện thực mà nhà văn trình bày. Mỗi chi tiết trở
thành "điểm rơi" của tư tưởng, chi tiết nào cũng đầy sức gợi và có khả năng kích thích
đối thoại rất mạnh. Tiểu thuyết khẳng định thành công khát vọng dân chủ hóa nghệ
thuật của thời đại bằng kiểu “người kể chuyện không đáng tin cậy”. Trần thuật nhiều
điểm nhìn sẽ làm cho tiểu thuyết đạt tới hiệu quả thẩm mĩ phong phú hơn, bất ngờ hơn
nhờ tính đa tầng, phức điệu.
Không thể không kể đến sự đổi mới phương diện ngôn ngữ tiểu thuyết sau 1975,
vì “Đến thế hệ các nhà văn thời kì đổi mới thì ngôn ngữ đã thật sự trở thành đối tượng
miêu tả của văn chương” [20; 169]. Các nhà văn không biết đến những gửi thưa kiểu
cách, những nghi lễ khách sáo mà ngang nhiên tôn vinh thứ ngôn ngữ đầy góc cạnh, cá
tính, thứ ngôn ngữ được ý thức bằng tư thế dân chủ, bình đẳng giữa con người với con
người. Nghĩa là vấn đề “viết như thế nào” được đặt lên hàng đầu.
Tư duy tiểu thuyết cho phép chất liệu đời thường ùa vào văn học. Chưa bao giờ
trong văn chương, tiểu thuyết nói riêng, những câu chửi thề, nói tục xuất hiện nhiều
- 13 -
như thế và sự dung nạp thoải mái thành phần khẩu ngữ, cố tình xô lệch cú pháp, nhất là
sự công khai “nhại” mọi thứ ngôn ngữ kiểu cách; xuất hiện nhiều lối nói trần trụi, bụi
bặm, dân dã làm cho khoảng cách giữa nghệ thuật và những xô bồ của cuộc sống được
rút ngắn. Ngôn ngữ tiểu thuyết cũng tăng cường tính tốc độ, thông tin và tính triết luận.
Kỹ thuật lồng ghép, cắt dán của điện ảnh được sử dụng rộng rãi, do đó có khi mạch văn
đi chậm nhưng sức nén của thông tin thì rất lớn.
và mô tả một khuynh hướng mới đang được hình thành, vượt qua những giới hạn của
chủ nghĩa đó. Đến đầu những năm 70 của thế kỉ XX, khuynh hướng hậu hiện đại ảnh
hưởng rộng hơn, được giới trí thức đại học như Bell, Kristevia, Lyotard, Derrida,
Foucault, Baudrillard, Jameson đem ra bàn luận và là hiện tượng đặc thù của triết học,
mĩ học, phê bình văn học… Mặc dù còn gây ra nhiều tranh cãi nhưng trong thực tế,
tinh thần hậu hiện đại đã thẩm thấu vào đời sống, trên mọi phương diện, ở mọi quốc
gia, không chỉ tại những cường quốc phương Tây và Mỹ mà còn thâm nhập vào những
quốc gia có nền kinh tế đang phát triển hoặc kém phát triển… Chủ nghĩa hậu hiện đại
trở thành một hiện tượng mang tính toàn cầu. Thực tế sáng tác này được giới đại học
tại Pháp nâng lên thành lí thuyết và trở lại ảnh hưởng đến đời sống, sáng tác và học
thuật Mĩ. Cũng từ đó, chủ nghĩa hậu hiện đại lan rộng ra các nước Châu Âu, châu Úc,
châu Mĩ La tinh và các quốc gia Châu Á (điển hình là Ấn Độ, Nhật Bản và Trung
Quốc).
Khác với trào lưu, trường phái văn học khác, chủ nghĩa hậu hiện đại không có tổ
chức, không có tuyên ngôn. Giới nghiên cứu thừa nhận chủ nghĩa hậu hiện đại xuất
hiện sau chủ nghĩa hiện đại, tương đương với thời hậu hiện đại trong văn chương, là sự
kế thừa và phủ nhận chủ nghĩa hiện đại, bao gồm nhiều khuynh hướng sáng tác như
kịch phi lí, tiểu thuyết mới, hiện thực huyền ảo và trào lưu hậu hiện đại. Hiểu theo
nghĩa hẹp thì chủ nghĩa hậu hiện đại dùng để chỉ trào lưu hậu hiện đại, trào lưu văn học
với các tác giả tiêu biểu như Barthelme, Italo Calvino, Umberto Eco… Song hiểu như
thế nào thì cũng không thể coi đó là khuynh hướng độc tôn. Chủ nghĩa hậu hiện đại là
một thực thể động, một khuynh hướng mở, tồn tại bên cạnh và chuyển lưu một cách tự
nhiên với các khuynh hướng, trào lưu khác.
Ở phương Tây, các triết gia cụ thể hóa cách hiểu về hậu hiện đại, xuất phát từ
những góc nhìn khác nhau: F. Jameson coi đó là ý thức văn hóa của "chủ nghĩa tư bản
- 15 -
muộn", còn J. Baudrillard – hệ quả của sự bùng nổ thông tin đại chúng; J. F. Lyotard –
"kết thúc đại tự sự"; Derrida – "giải trung tâm"; Foucault – "khảo cổ học tri thức"
Theo họ, hậu hiện đại hình thành như hệ quả tất yếu của cuộc đại khủng hoảng về nhận
thức luận xuất hiện từ nửa cuối thế kỉ XIX cùng với sự phá sản của khoa học thực
Sắp đặt Tình cờ
Tôn ti trật tự Hỗn loạn vô chính phủ
Quyền chi phối, biểu tượng Sự cạn kiệt, im lặng
Mục đích nghệ thuật/ Tác phẩm hoàn
thành
Tiến triển/ trình diễn/đang xảy
ra
Khoảng cách Tham dự
Sáng tạo/toàn thể/tổng hợp Không sáng tạo/bộ phận/phản
đề
Hiện diện Vắng mặt
Trung tâm Phân tán
Thể loại/ranh giới Văn bản/liên văn bản
Ngữ nghĩa học Tu từ học
Mẫu (hệ biến hóa) Cú pháp
Câu phụ thuộc Câu đẳng lập
Ẩn dụ Hoán dụ
Tuyển chọn Kết hợp
Gốc/sâu Rễ/bề mặt
Giải thích/ Hiểu Phản giải thích/ khó hiểu
Ý nghĩa Vật mang nghĩa
Văn bản độc giả Văn bản nhà văn
Tự sự/Đại tự sự Phản tự sự/ tiểu tự sự
Mã vạn năng Vốn từ riêng
Triệu chứng Khát vọng
Cố định Không bền vững
Sinh sản/Dương tính Nhiều giai đoạn sinh sản/ Lưỡng
- 17 -
tính
Hoang tưởng Tâm thần phân liệt
* Bất tín nhận thức (Epistemological uncertainty)
Là một phạm trù thế giới quan tiêu biểu nhất cho ý thức hậu hiện đại, gắn liền với
phạm trù cảm quan hậu hiện đại, xác định tính hoài nghi đối với nhận thức: Con người
không có khả năng nắm bắt bản chất, quy luật cơ bản của thực tại luôn biến ảo, thay
đổi chớp nhoáng. Quan điểm của các lí thuyết gia: J. Derrida, M. Folcault, J. Lacan, G.
Deluxe, R. Barthes thì bất tín nhận thức và chối bỏ quan điểm lịch sử và thuyết quyết
định luận.
* Phủ nhận “Đại tự sự” (Grand - narratives)
“Đại tự sự” là khái niệm do Jean Francois Lyotard đưa ra trong cuốn sách nổi
tiếng Điều kiện hậu hiện đại (La Condition Postmoderne) xuất bản ở Paris năm 1979.
“Đại tự sự” là danh từ Lyotard dùng để chỉ những hệ thống ý thức chủ đạo chi phối
hoạt động của con người trong những thời đại khác nhau. Thời hiện đại với nhiều đại
tự sự gò ép con người vào khuôn khổ, không cho phép tư duy độc lập. Theo Lyotard,
cần phải đánh đổ những đại tự sự mà con người đã “chấp” vào. Ông phủ nhận triệt để
những đại tự sự về tri thức trong xã hội hậu hiện đại.
Bất tín đại tự sự, Lyotard thiên về những tiểu tự sự (little narratives) trong đó con
người tự tư duy, tự phản ứng theo cách riêng của mình chứ không gò vào những quy
ước, định đề có sẵn. Tuy nhiên, tuyên ngôn đánh đổ đại tự sự của Lyotard lại bị phê
phán rằng đó chính là một đại tự sự, đó cũng là “tính nhị nguyên” của ngôn ngữ, khó
giải triệt, trừ khi “bất lập văn tự”.
* Giải cấu trúc (Deconstruction) – Giải trung tâm (Decentering)
Giải cấu trúc (còn gọi là Hậu cấu trúc – Poststructuralism) vốn là một trường phái
phê bình xuất hiện tại Pháp cuối thập niên 1960, gắn với những tên tuổi lớn như
Jacques Derrida, Roland Barthes, Kristeva… Từ khi tinh thần hậu hiện đại “từ đường
phố” đi vào “viện hàn lâm” qua công trình Điều kiện hậu hiện đại của Lyotard, giải
cấu trúc đồng nhất với hậu hiện đại và trở thành một trong những tư tưởng nòng cốt
làm nên tư duy hậu hiện đại.
- 19 -
Theo Derrida, mỗi cấu trúc luôn tồn tại một trung tâm và được tạo nên ít nhất có
một cặp đối lập nhị phân. Để trấn áp các mặt đối lập trong cặp nhị phân, đảm bảo tính
* Tính nhục thể (Corporality)
Tính nhục thể là khái niệm của chủ nghĩa hậu cấu trúc và chủ nghĩa hậu hiện đại.
Nó là hệ quả của tính dục hóa ý thức lí luận và mĩ học phương Tây và là cơ sở cho việc
giải nhân cách hóa chủ thể.
Việc đưa ra nguyên tắc nhục thể kéo theo nó ba khuynh hướng (đúng hơn, nó chỉ
đóng vai trò tăng cường thêm ba khuynh hướng đã bộc lộ từ lâu). Thứ nhất, hòa tan
tính tự trị và uy tín của chủ thể vào các hành vi nhục cảm, tức là vào những trạng thái ý
thức nằm ngoài quyền năng của ý chí và lí tính. Thứ hai, việc nhấn mạnh các chấn
động nhục cảm làm gia tăng sự chú ý đến khía cạnh bệnh hoạn của nó. Và cuối cùng
tính dục như sự thể hiện tập trung và rõ ràng nhất của nhục cảm được gần như tất cả
các nhà lí luận hậu cấu trúc đặt lên hàng đầu, lấn át tất cả những hình thức biểu hiện
tình cảm còn lại. Về nguyên tắc, điều này có thể lí giải sự quan tâm của văn học tới vấn
đề tính dục.
Mặc dù đây là khái niệm chưa được ấn định về mặt thuật ngữ và đang được các
nhà lí luận định danh một cách khác nhau nhưng chúng tôi đề cập đến nó bởi coi đây là
một trong những biểu hiện giải nhân cách hóa của chủ nghĩa hậu hiện đại. Nó liên quan
đến vấn đề quan trọng của văn chương hậu hiện đại chủ nghĩa: vấn đề tính dục.
1.3.2.3 Các thủ pháp nghệ thuật cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại
Lối viết hậu hiện đại tự do phóng khoáng, chơi đến tận cùng, thể nghiệm mà
không đặt ra mục đích cho trò chơi của mình nên nó sống với cái ngẫu nhiên. Khuôn
định các thủ pháp của văn chương hậu hiện đại là điều khó khăn nhưng có thể nêu ra ở
đây một số thủ pháp thường gặp:
* Nhại văn (Pastiche)
Chữ Pastiche có nguồn gốc từ Pasticio trong tiếng Ý có nghĩa là một nhạc khúc
có nhiều yếu tố khác nhau, sự hổ lốn, hỗn tạp, lộn xộn. Cơ sở lí luận của thủ pháp nhại
văn là tất cả mọi thứ đều có từ trước, tác giả không thể viết được gì mới hơn ngoại trừ
việc sắp xếp theo quy luật kính vạn hoa. Nhại văn là cách hoán vị, trộn xóc những cách
- 21 -
- 22 -
thậm phồn, bao nhiêu hình thức cũng không đủ để dung chứa. Vì vậy, những tìm tòi,
thể nghiệm mới luôn vẫy gọi các nhà văn; từ đó mà nhiều thủ pháp mới được tạo ra.
Chẳng hạn thủ pháp cắt dán (Cut and paste) vốn được dùng trong điện ảnh, công nghệ
vi tính được nhà văn dùng để thể hiện những mảnh vụn rời rạc của hiện thực. Nghệ sĩ
hậu hiện đại còn chấp nhận mọi chất liệu để tạo nên tác phẩm. Họ cũng dùng lại tất cả
những gì đã từng có trong văn chương nhân loại. Đó chính là thái độ không lựa chọn,
phi trung tâm của tinh thần hậu hiện đại.
1.3.2.4 Chủ nghĩa hậu hiện đại và văn học Việt Nam
* Cơ sở để văn học Việt Nam tiếp cận với chủ nghĩa hậu hiện đại
Trước đây, khi một vài dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại bắt đầu được nhận diện
ở văn học Việt Nam, nó bị phản đối gay gắt, nhiều người cho rằng làm gì có ở Việt
Nam thứ gọi là hậu hiện đại. Dần dần, thứ "quả lạ" ấy đã được tiếp nhận với thái độ bớt
dè dặt hơn, và phần đông ý kiến đi đến thống nhất là ở Việt Nam có những dấu hiệu,
tinh thần của hậu hiện đại dù chưa hình thành một trào lưu, chủ nghĩa rộng rãi như ở
phương Tây, và "đến nay thì hầu như đa số đều công nhận sự tồn tại của nó" [146;
100]. Có những lí do sau đây để một quốc gia như Việt Nam có thể tiếp cận với chủ
nghĩa hậu hiện đại – sản phẩm của xã hội hậu công nghiệp, hậu kĩ nghệ:
Chủ nghĩa hậu hiện đại là một trào lưu triết học và là một khuynh hướng nghệ
thuật đã xóa bỏ lí thuyết trung tâm, mở rộng vùng ảnh hưởng và là cơ hội để vùng văn
hóa ngoại biên phát triển. Thực tiễn, như nhận định của Hans Bertent và Doure
Folkema thì "ở những quốc gia truyền thống hiện đại chủ nghĩa hoặc truyền thống
avant – garde còn quá mạnh, việc tiếp cận chủ nghĩa hậu hiện đại sẽ gặp nhiều khó
khăn. Ngược lại, ở những quốc gia chủ nghĩa hậu hiện đại ít nhiều vắng bóng, việc tiếp
cận vẫn có thể được thực hiện được, tuy nhiên sự tiếp nhận ít nhiều vắng bóng ấy sẽ
ảnh hưởng lên diện mạo của chủ nghĩa hậu hiện đại ở đó" [147]. Quá trình toàn cầu
hóa khiến cho sự tiếp nhận các trào lưu, xu hướng cũng diễn ra nhanh, mạnh hơn và
không có lí do gì để hậu hiện đại không du nhập vào Việt Nam theo quá trình này.
Cùng với dòng thác văn hóa này, các khuynh hướng triết học quan trọng xác định bộ
mặt tinh thần thế kỉ XX: chủ nghĩa Frued, hậu Frued, chủ nghĩa hiện sinh, các trường
cực đoan và duy lí trong chính sự phản bác ấy. Nói cách khác, chủ nghĩa hậu hiện đại
ở Việt Nam, nếu có, chỉ là sự kết hợp cùng lúc giữa chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa
- 24 -
hậu hiện đại, trong đó, các yếu tố mang tính hậu hiện đại được đẩy lên thành các yếu
tố chủ đạo" [147]. Nhà nghiên cứu Lã Nguyên cũng đã khẳng định rằng: "Xin nói
ngay, tôi không nghĩ là trong văn học Việt Nam đã xuất hiện các trường phái, khuynh
hướng hay trào lưu hậu hiện đại với ý nghĩa đầy đủ của khái niệm ấy. Nhưng tôi có cơ
sở để tin là sẽ tìm ra những dấu hiệu, hoặc có thể gọi là các yếu tố hậu hiện đại trong
sáng tác của một số cây bút tiêu biểu của văn học thời đổi mới " [128; 13].
Thực ra, nếu hiểu "chủ nghĩa" theo cách cổ điển, nghĩa là mang tính triết học và
gắn với những trường phái triết học nào đó, thì gọi là "chủ nghĩa hậu hiện đại" còn
nhiều bất ổn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam; có lẽ vì thế có nhiều người thay thế
bằng các cụm từ khác như tâm thức hậu hiện đại, hoàn cảnh hậu hiện đại, điều kiện hậu
hiện đại, văn hóa hậu hiện đại Những cụm từ này chỉ đặc trưng trạng thái lịch sử thời
đương đại; "và chúng ta nên hiểu, chủ nghĩa hậu hiện đại là khái quát về một cách
thức nhìn nhận thế giới" [147; 100].
Đã có thể nhắc đến một thế hệ nhà văn Việt Nam sáng tác với tinh thần hậu hiện
đại như : Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình
Phương, Châu Diên, Thuận, Võ Thị Hảo, Tạ Duy Anh trong văn xuôi và Trần Dần,
Lê Đạt, Hoàng Hưng, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Bùi Giáng, Ngô Tự Lập, Vi
Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, nhóm thơ Mở Miệng trong thơ. Chúng tôi không khẳng
định có hẳn một chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam nhưng tin rằng tinh
thần, dấu ấn của khuynh hướng này thì thực sự đã xuất hiện và thâm nhập khá sâu
trong sáng tác văn chương khoảng 20 năm trở lại đây.
Trở lên, chúng tôi đã cố gắng khái quát những nét chung nhất về chủ nghĩa hậu
hiện đại để làm nền tảng lí luận cho việc nghiên cứu hiện tượng Nguyễn Bình Phương
và Nguyễn Việt Hà – hai cây bút tiểu thuyết đáng chú ý của văn xuôi đương đại.
hai người tình đó và sa vào mớ bòng bong của kí ức mờ mờ, tỏ tỏ không thể quên
nhưng cũng không nhớ được điều gì rõ ràng khiến cuộc sống của cô không yên ổn.
Cuối cùng cô quyết định ra đi". Hay là : "Một kẻ tâm thần do cú đạp của người cha
nghiện ngập từ khi còn trong bụng mẹ. Hắn ta từ nhỏ đã thích giết chóc, lại lớn lên