TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN – LỚP VĂN 4A
BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ
MÔN: HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HÀNH TRÌNH ĐỔI MỚI CỦA
VĂN HỌC QUỐC NGỮ VIỆT NAM
SỰ SONG KẾT GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI
TRONG TIỂU THUYẾT “NGỌN CỎ GIÓ ĐÙA” CỦA
NHÀ VĂN HỒ BIỂU CHÁNH
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Cẩm Hà
MSSV: K36.601.035
TP. Hồ Chí Minh, 15 tháng 05 năm 2014
Sự song kết giữa truyền thống và hiện đại trong “Ngọn cỏ gió đùa” - Hồ Biểu Chánh
MỤC LỤC
1.Kết cấu 5
b)Kết cấu theo hai tuyến nhân vật 5
2.Xây dựng nhân vật 6
b)Thể hiện tính cách nhân vật qua hành động 7
c)Miêu tả thiên nhiên để xây dựng nhân vật 8
d)Sử dụng ngôn ngữ đối thoại khắc họa tính cách nhân vật 8
e)Gợi tính cách qua việc đặt tên cho nhân vật 9
f)Thể hiện tính cách nhân vật bằng miêu tả diễn biến tâm lý 9
3.Ngôn ngữ 10
a)Sử dụng khẩu ngữ, từ địa phương 10
b)Vận dụng thành ngữ, tục ngữ 13
c)Dùng câu văn biền ngẫu, có đối, có vần 14
4.Mô phỏng tác phẩm văn học nước ngoài 14
1.Đề tài-chủ đề 18
2.Cảm hứng sáng tạo 19
a)Cảm hứng đạo lý 19
b)Cảm hứng hiện thực 21
“ Ngọn cỏ gió đùa”: Tiểu thuyết gồm nhiều nhân vật, nhưng có thể nói nhân vật chính
của “Ngọn Cỏ Gió Đùa” là Lê Văn Đó, một thanh niên của đồng ruộng Miền Nam. Lê Văn
Đó chỉ vì cảnh ngộ đói cơm của gia đình, của chị dâu và mấy đứa cháu nhỏ mà liều thân trộm
cắp một nồi cháo heo, rồi bị cảnh tù tội suốt 20 năm với muôn vàn khổ cực, ngược đãi.
Nhân vật phụ là Lý Ánh Nguyệt, một cô gái nhan sắc, tài hoa nhưng mẹ mất sớm, cha
là một nhà nho nhưng không đỗ đạt công danh và đã chết nơi xứ người. Ánh Nguyệt bơ vơ, bị
đời vùi dập, bị chàng công tử tên là Từ Hải Yến lừa gạt ái tình, khi Ánh Nguyệt mang thai
sinh ra đứa bé gái, tên là Từ Thu Vân, thì Từ Hải Yến thi đậu làm quan đi cưói vợ khác,
không ngó ngàng chi tới mẹ con Ánh Nguyệt, Thu Vân. Cuộc đời trôi nổi, tang thương đã đẩy
mẹ con Thu Vân, Ánh Nguyệt xa cách nhau, Ánh Nguyệt đến nương nhờ nơi trang trại cơ
ngơi của Thiên Hộ Trần Chánh Tâm, nhưng rồi lại gặp thêm nhiều giông bão, cuộc đời đầy
oan nghiệt khiến Ánh Nguyệt mang bệnh nặng và qua đời.
Thiên Hộ Trần Chánh Tâm chính thật là Lê Văn Đó, nay đã thay tên đổi họ và đã trở
nên người giàu có, nhưng là người giàu có nhân nghĩa, thương xót giúp đỡ mọi người, lập nhà
tế bần, dưỡng lão, viện mồ côi Dù vậy, những kẻ tàn ác, bất nhân vẫn không buông tha cho
Lê Văn Đó. Họ đã tố cáo lý lịch của Lê Văn Đó với quan trên lúc bấy giờ là Từ Hải Yến,
khiến cho Lê Văn Đó một lần nữa phải mất hết của cải và lại phải lâm cảnh tù tội như xưa, mà
lần nầy là chung thân khổ sai, lưu đày biệt xứ, thiệt là bất công. Lê Văn Đó không chịu cam
tâm tù tội suốt đời, ông đã tìm cách vượt ngục trở về, vì ông phải thực hiện một lời hứa danh
Lê Thị Cẩm Hà – K36.601.035 Trang 3
Sự song kết giữa truyền thống và hiện đại trong “Ngọn cỏ gió đùa” - Hồ Biểu Chánh
dự và lương tâm với Lý Ánh Nguyệt: lời hứa cứu vớt và nuôi dưỡng đứa con gái tội nghiệp
của Ánh Nguyệt là Từ Thu Vân.
Những ngày còn lại trong đời của Lê Văn Đó, một con người từng trải phong ba, bị
bao lần tù tội, bị đối xử bất công, bị đời bạc đãi, bị người khinh khi, bị người hãm hại, bị
người vu oan, bị người áp bức, là những ngày tận tâm chăm sóc, thương yêu một đứa bé gái
bơ vơ, bị đời ngược đãi, cơ khổ linh đinh là Từ Thu Vân, con gái của Lý Ánh Nguyệt và Từ
Hải Yến. Dù biết rõ Từ Thu Vân là con gái ruột của mình, nhưng quan Bố Chính Từ Hải Yến
không chịu nhìn mà còn ép buộc Lê Văn Đó phải mang Thu Vân đi khuất mắt ông, cũng
không được cho ai biết tông tích, lý lịch Thu Vân là con gái của quan Bố Chánh Từ Hải Yến.
các hành động của nhân vật. Đây là một biện pháp kết cấu cổ điển mà chúng ta thường gặp
trong những truyện kể dân gian, truyện thơ và tiểu thuyết Việt Nam viết bằng chữ Hán.
Tiểu thuyết “Ngọn cỏ gió đùa” của Hồ Biểu Chánh chia ra 6 quyển gồm 21 chương, mở
đầu các quyển là một cụm từ 9 chữ nói rõ nội dung của các chương trong quyển đó (Đau đớn
phận hèn, Nát thân bồ liễu, Nắng táp mưa sa, Đường ngay nẻo vạy, Nghĩa nặng tình sâu, Ân
tình vẹn vẻ).
Cách đặt tên đầu quyển như trên giúp độc giả đoán được những nội dung chính của tiểu
thuyết và những diễn biến của câu chuyện diễn ra sau đó. Điểm đặc biệt ở tiểu thuyết này của
Hồ Biểu Chánh là cuối mỗi chương không có những câu hỏi chuyển đoạn như: “Vị tri hư thực
như hà, thả thính hạ hồi phân giải”, “chưa biết thắng thua thế nào, xem hồi sau phân giải’’, và
“không biết người ấy là ai, xem hồi sau sẽ rõ” thường thấy trong tiểu thuyết chương hồi truyền
thống.
Với lối kết cấu theo thời gian, “Ngọn cỏ gió đùa” trình tự thời gian được giữ nguyên,
chuyện gì xảy ra trước nói trước, chuyện gì xảy ra sau nói sau, không theo mạch tâm tưởng của
nhân vật. Mỗi chương, của tác phẩm gắn với một hay nhiều sự kiện. Liên kết các chương thành
một mắt xích tạo ra sự vận động của nội dung cốt truyện:
Quyển 1 (chương I – IV) Đau đớn phận hèn
Quyển 2 (chương V – IX) Nát thân bồ liễu
Quyển 3 (chương X – XII) Nắng táp mưa sa
Quyển 4 (chương XIII – XV) Đường ngay nẻo vạy
Quyển 5 (chương XVI – XVIII) Nghĩa nặng tình sâu
Quyển 6 (chương XIX – XXI) Ân tình vẹn vẻ
b) Kết cấu theo hai tuyến nhân vật
Trong tiểu thuyết “Ngọn cỏ gió đùa” của mình, Hồ Biểu Chánh phân chia nhân vật thành
hai tuyến đối lập nhau: chính-tà, thiện-ác, có nhân, có nghĩa-bất nhân, bất nghĩa… Những người
có nhân, có nghĩa thường là “con nhà nghèo”. Họ đã trải qua trăm đắng ngàn cay, số phận lênh
đênh để rồi cuối cùng được hưởng hạnh phúc, no cơm, ấm áo. Hạng người bất nhân, bất nghĩa
thường là “con nhà giàu”. Chúng là những kẻ tàn ác, dâm giật, tham tiền, ham danh lợi, đểu
cáng … và cuối cùng đều bị trừng phạt. Cái nhìn quả báo như thế giúp tiểu thuyết “Ngọn cỏ gió
đùa” của Hồ Biểu Chánh đầy xúc động, cụ thể về sự sa đọa và tội ác của bọn địa chủ, tư sản, về
thoát khỏi lao tù, giữ trọn lời hứa với Ánh Nguyệt nuôi dưỡng Thu Vân đồng thời ra sức vun
vén hạnh phúc cho đôi trẻ Vương Thể Phụng – Từ Thu Vân, ông trở về sống những ngày điền
viên bên cháu bỏ qua những ngày tháng khốn khổ khi xưa. Đấy chính là niềm ước mơ về một xã
hội công bằng, một đạo lý, một niềm tin, một nhu cầu giải phóng rất đời mà cũng rất người của
nhà văn. Tuy nhiên, kiểu kết cấu này cũng có những nhược điểm nhất định. Nó thể hiện một cái
nhìn đơn giản về thế giới, con người, nó chịu sự chi phối của cảm hứng đạo lý.
2. Xây dựng nhân vật
Trong bối cảnh phát triển của tiểu thuyết ở thời kỳ đầu của công cuộc hiện đại hóa văn
học, các nhà văn nói chung, Hồ Biểu Chánh nói riêng ngoài việc kế thừa truyền thống đã có
những cách tân nhất định trong nghệ thuật xây dựng nhân vật.
a) Khắc họa tính cách nhân vật thông qua giới thiệu tiểu sử và miêu tả chân dung, ngoại
hình nhân vật
Phần lớn các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh chịu ảnh hưởng cách xây dựng nhân vật của
tiểu thuyết trung đại Việt Nam và tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Do vậy, trong quá trình xây
dựng nhân vật, Hồ Biểu Chánh dùng thủ pháp giới thiệu tiểu sử nhân vật, qua đó, ít nhiều đã hé
mở tính cách của nhân vật. Nhà văn giới thiệu nhân vật nữ: Lý Ánh Nguyệt (Ngọn cỏ gió đùa):
“Nàng này tên là Lý Ánh Nguyệt, con gái của Lý Kỳ Nguyên. Nàng đã được hai mươi mốt tuổi
Lê Thị Cẩm Hà – K36.601.035 Trang 6
Sự song kết giữa truyền thống và hiện đại trong “Ngọn cỏ gió đùa” - Hồ Biểu Chánh
rồi. Mẹ khuất sớm, nàng không chịu lấy chồng, ở hủ hỉ với cha trót mấy năm trường. Ban ngày
cha đi đốn củi, vãi mạ, con đi xúc cá, hái rau. Ban đêm cha hay chữ, nên cha thường lấy kinh
sử mà đọc cho con nghe, còn con đờn tươi nên con thường đờn vài khúc tiêu tao cho cha giải
muộn”. Qua những lời giới thiệu ngắn gọn của nhà văn về nhân vật, người đọc đã hình dung
được những tính cách của Lý Ánh Nguyệt. Và thực tế diễn biến trong tác phẩm đã chứng minh
được những nét tính cách tốt đẹp đó của các nhân vật.
Bên cạnh việc giới thiệu tiểu sử để xây dựng nhân vật, Hồ Biểu Chánh còn sử dụng biện
pháp miêu tả chân dung, ngoại hình nhân vật. Đây là một thủ pháp truyền thống được dùng phổ
biến trong văn học phương Đông theo quan niệm “trông mặt mà bắt hình dong”. Chúng ta có
thể bắt gặp kiểu giới thiệu nhân vật này trong một số truyện thơ (Truyện Kiều, Nhị độ mai), tiểu
thuyết chữ Hán (Nam triều công nghiệp diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí…), tiểu thuyết cổ
chau mày. Ông tuốt áo quần dựa mé bờ, ông nhảy xuống chiếc xuồng nang của ai buộc gần đó,
Lê Thị Cẩm Hà – K36.601.035 Trang 7
Sự song kết giữa truyền thống và hiện đại trong “Ngọn cỏ gió đùa” - Hồ Biểu Chánh
ông cầm cây dầm bơi riết, coi bộ mạnh dạn vô cùng. Hơn một trăm người đứng trên bờ ai thấy
cũng đều chắc lưỡi xanh mặt.”
Để lên án cách hành xử tàn tệ của Từ Hải Yến đối với Ánh Nguyệt, Hồ Biểu Chánh miêu
tả hành động bất nghĩa của hắn đối với nàng: “Nàng nghe tiếng cười giọng nói giống như tiếng
cười giọng nói của chồng, nên nàng ngừng bước đứng lại mà dòm vô quán nữa. Đèn đốt sáng
quắc, rượu thịt đầy bàn, Hải Yến ngồi phía trong đương ôm một đứa ca nhi trum trủm trong
lòng mà hun hít.”, sau khi phụ bạc Ánh Nguyệt (lúc này đã sinh ra Thu Vân) nhận được bức thư
của Hải Yến “biểu nàng lo kiếm chồng khác mà làm ăn, vì chàng kết nghĩa với nàng đó là ngẫu
hiệp chơi trong lúc du học, chớ không phải duyên nợ trăm năm chi đó mà chờ đợi”, hắn bỏ mặc
hai mẹ con không hề thương xót.
Như vậy, qua phân tích có thể thấy tính cách tâm trạng của nhân vật trong “Ngọn cỏ gió
đùa” được thể hiện ngay trên bề mặt của hành động. Nhân vật từ đầu đến cuối không đi chệch
khỏi những nét tính cách, tâm lý được nhà văn xác định từ trước. Người tốt thì trước sau gì cũng
tốt, người xấu cũng vậy.
c) Miêu tả thiên nhiên để xây dựng nhân vật
Để tăng tính tiểu thuyết cho tác phẩm của mình, Hồ Biểu Chánh còn sử dụng nghệ thuật
miêu tả thiên nhiên khắc họa tính cách và tâm trạng nhân vật. Trong “Ngọn cỏ gió đùa”, Ánh
Nguyệt chờ tin tức của chồng trong đêm mưa gió não nề, người và cảnh như hòa làm một:
“Đêm hôm vắng vẻ mưa gió ồn ào. Dựa mé bờ tiếng ễng ương kêu uềnh oàng, trên mái nhà giọt
mưa rớt lộp độp. Đêm nay là đêm rằm, mà trăng bị mây án nên mịt mù cảnh vật, mùa này là
mùa cây cỏ tươi tốt, mà bị dông mưa nên lá đổ nhánh oằn. Ánh Nguyệt chong đèn một mình, lúc
ngó ngọn đèn thấy gió tạt đèn xao dạ những bàng hoàng, khi ngó ra sân thấy bọt nước hiệp tan
lòng thêm ảo não. Nhìn quanh quất thì thấy một người với một bóng, lắng tai nghe thì tiếng dế
lộn với giọt mưa sa. Người buồn mà cảnh còn giục buồn thêm, thân đã khổ mà phận lại e còn
khổ nữa”.
Có thể thấy, trong văn học trung đại, thiên nhiên thường xuất hiện trong thơ, ít xuất hiện
trong tiểu thuyết, trừ truyện thơ. Ở Tây du ký, khi miêu tả thiên nhiên, tác giả thường viết những
Như vậy, ngôn ngữ đối thoại của nhân vật trong tác phẩm đã phản ánh tính cách, phẩm
chất, tâm trạng của họ. Trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, ngôn ngữ của nhân vật thường chiếm
tỷ lệ ít hơn so với ngôn ngữ người kể chuyện nhưng đã có khả năng tái hiện sinh động và gợi
cho người đọc hình dung được bản chất của nhân vật.
e) Gợi tính cách qua việc đặt tên cho nhân vật
Đây là điểm cách tân của Hồ Biểu Chánh so với các tác giả văn học trung đại. Nhà văn
khi xây dựng hệ thống nhân vật đã xác định phẩm chất và tính cách nhân vật thông qua tên gọi.
Hầu hết các nhân vật trong tiểu thuyết “Ngọn cỏ gió đùa” đều có đầy đủ họ và tên. Điều này
khá giống với tiểu thuyết cổ điển. Người xưa xem tính cách con người có tính tiền định và tên
gọi cũng thế. Tên gọi của nhân vật báo trước những đặc điểm tâm lý và phẩm chất đạo đức của
nhân vật. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà văn đều rất cân nhắc khi đặt tên hoặc dùng các biệt
danh cho nhân vật của mình. Mỗi cái tên ông đặt đều có một dụng ý rõ rệt: Cao Thị Phi là người
xảo trá “nói nhiều tánh lại hỗn hào” lươn lẹo tham lam, Ánh Nguyệt là người con gái trong
trắng đẹp như ánh trăng, Chánh Tâm là người có tâm chân chính, … Cũng như các nhà văn
Nam Bộ nói chung Hồ Biểu Chánh quan niệm cái tên nhân vật sẽ biểu hiện phần nào tính cách
của họ.
f) Thể hiện tính cách nhân vật bằng miêu tả diễn biến tâm lý
Tâm lý nhân vật thể hiện chủ yếu thông qua ngôn ngữ người kể chuyện, qua điểm nhìn
của nhà văn và độc thoại nội tâm của nhân vật. Trong văn học trung đại, các nhà văn ít chú ý
đến việc miêu tả tâm lý nhân vật. Do vậy, tính cách của nhân vật thường “giản đơn, nhất phiến,
một chiều”. Có thể nói rằng sự xuất hiện thi pháp miêu tả tâm lý nhân vật đã đánh dấu một bước
tiến của tiểu thuyết Việt Nam từ tiểu thuyết chương hồi, truyện thơ sang tiểu thuyết hiện đại.
Học tập các nhà văn đi trước, Hồ Biểu Chánh cũng dùng ngôn ngữ độc thoại nội tâm như
một phương tiện hữu hiệu để phác họa tính cách nhân vật. Trong tiểu thuyết “Ngọn cỏ gió đùa”,
Hồ Biểu Chánh miêu tả trạng thái suy nghĩ liên miên, tự phân tích mình kỹ lưỡng, phải trải qua
những dằn vặt, sau một đêm mà mái tóc điểm bạc của Thiên Hộ. Và rồi vì cứu người bạn tù
khỏi bị oan, Thiên Hộ quyết định ra chứng thực mình chính là Lê Văn Đó, tội phạm đang truy
nã. Thiên Hộ đã hy sinh cá nhân mình dưới ánh sáng của lòng bác ái mà hòa thượng Chánh Tâm
đã dẫn dắt anh đi: “Đến chừng ấy nghe quan án định án trảm giam hậu người khùng ấy, rồi lính
Lê Thị Cẩm Hà – K36.601.035 Trang 9
làm cho dân cả huyện trông thấy đều buồn bực thở than” .
Ngôn từ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh từ ngôn ngữ dẫn truyện đến ngôn ngữ nhân vật
đều thuần chất Nam Bộ. Ông chắt lọc lời ăn tiếng nói của nhân dân và vận dụng vào sáng tác
của mình một cách thuần thục.
Về phương diện ngữ âm, tiểu thuyết “Ngọn cỏ gió đùa” Hồ Biểu Chánh cho người đọc
thấy được đặc điểm phát âm của người Nam Bộ. Cách phát âm vẫn còn tồn tại cho đến ngày
nay. Ông thể hiện một cách chân thật và sinh động cách nói năng của người dân miền Nam. Nhà
văn ghi lại các biến thể phát âm trong ngôn ngữ đối thoại của nhân vật. Những biến thể phát âm
này thường diễn ra ở bộ phận âm chính, đó là hiện tượng rút ngắn độ mở của nguyên âm như:
phước (phúc), hun (hôn), bá nhựt (bá nhật), chơn (chân), nưng (nâng), huê (hoa),chác nghĩa
(chuốc nghĩa), đờn cầm (đàn cầm), hưỡn bước (hoãn bước), hườn công (hoàn công), chánh
đáng (chính đáng), hiệp ý (hợp ý), chính chiên (chính chuyên), đờn ông (đàn ông), bất nhơn (bất
nhân), mơi (mai), bịnh (bệnh), vưng (vâng), nhơn sanh (nhân sinh)…
Lê Thị Cẩm Hà – K36.601.035 Trang 10
Sự song kết giữa truyền thống và hiện đại trong “Ngọn cỏ gió đùa” - Hồ Biểu Chánh
Cùng với những biến thế về nguyên âm, thì trong tiểu thuyết của mình, Hồ Biểu Chánh
cũng sử dụng những biến thể phát âm về phụ âm đầu như: day (quay), nhắm nhía (ngắm nghía),
hửi (ngửi), mắc (đắt), nhỏ mức (nhỏ sức), hực hỡ (rực rỡ), giồi (dồi), chắt lót (chắt mót), đôi tôi
(thôi nôi), giọi (rọi), giợt (lợt), guộn (cuộn), khỏa (thỏa), lún thún (lún phún), nhếu nháo (lếu
láo), vắn (ngắn), vồng (trồng), xăng xái (hăng hái)…
Đến với tiểu thuyết “Ngọn cỏ gió đùa” Hồ Biểu Chánh, độc giả gặp rất nhiều từ ngữ
được nhà văn sử dụng phù hợp, đắc địa, phản ánh được đặc trưng của một vùng đất ở cực Nam
của Tổ quốc. Đó là những từ chỉ cây cối, sản vật gắn với một vùng sông nước mênh mông:
mắm, đước, bần, tràm, bông lường, bông lồng đèn, đậu hũ, bông vông, dừa nước, bông súng,
cây còng,… Đó là các từ ngữ chỉ trạng thái, tính chất, chẳng hạn: nằm dàu dàu, ngồi chồm hỗm,
đứng xớ rớ, ngó chằng chằng, buồn nghiến, nhẹ hều, im re, đứng dụ dự một hồi, buồn so, ngó
chừng xăn văn xéo véo, nước mắt nước mũi choàm ngoàm, mừng quýnh, chết điếng, nằm không
cục cựa, râu lún thún, nhảy xoi xói…
Nhân vật trong tiểu thuyết của ông là những con người Nam Bộ với những cái tên bình
dị, chân chất, đặt theo thứ và cách xưng gọi thứ kết hợp với tên: Hai, Sáu : Sáu Thới, bà Hai.
thông như rấm ra rấm rít, lao nhao lố nhố, dấp dính dấp dưởi, xui xị xụi xơ, xăng văng xéo véo,
xí xô xí xào, lăng nhăng lít xít, chộn rộn chàng ràng, chết ngắt chết ngỏm, lững thững lờ thờ…
Những từ láy nói trên đã thể hiện rất rõ tính chất phương ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu
Chánh.
Hồ Biểu Chánh cũng khai thác tối đa lớp khẩu ngữ Nam Bộ, không những dùng trong lời
đối thoại của các nhân vật mà cả trong lời thuật truyện, mô tả của tác giả. Đây là lời thuật đầu
chương 5-quyển II của tác giả “Dầu trong thành thị hay là ra ngoài thôn hương, dầu ở chốn gia
đình hay ra nơi học hiệu, đi đến chỗ nào cũng nghe rùm tai những tiếng : Trời Phật công bình,
Loài người biết nhơn nghĩa. Trời Phật thì mình không thấy hình dung, mà mình cũng không
nghe ngôn ngữ, nhưng vì mình có lòng kính sợ nên mình tin chắc Trời Phật công bình, thôi
cũng cho là phải đi, chớ như loài người ở chung lộn mình đây, tánh người hung bạo giả dối,
thói đời đen bạc xấu xa, mình đã từng thấy hằng ngày, thế thì nói “loài người biết nhơn nghĩa”,
thiệt là khó tin lắm.”
Đây là một đóng góp của Hồ Biểu Chánh đối với văn học đầu thế kỷ XX. Sự xuất hiện
của khẩu ngữ đã làm cho tiểu thuyết “Ngọn cỏ gió đùa” của ông có sự gần gũi, quen thuộc với
công chúng bình dân. Người đọc cảm giác như được nghe chính tiếng nói của mình. Hồ Biểu
Chánh góp phần dựng nên một vùng đất mới của ngôn ngữ, một thứ ngôn ngữ giàu có, sống
động, đầy âm thanh hình ảnh. Sử dụng khẩu ngữ trong các cuộc đối thoại của các nhân vật, Hồ
Biểu Chánh muốn diễn tả được tính cách, bản chất của mỗi nhân vật. Chẳng hạn, đoạn đối thoại
sau giữa hai vợ chồng Đỗ Cẩm – Thị Phi dùng mọi cách moi tiền của Hải Yến, đã cho thấy
chúng là lũ tham lam, cơ hội:
“ Hải Yến vừa ra khỏi cửa, thì Thị Phi ở trong buồng bước ra nói lớn rằng :
- Mình ngốc quá ! Bộ thằng đó giàu lắm, mình sợ giống gì mà đòi tiền cơm một tháng
có 5 quan, không dám đòi nhiều hơn ?
Đỗ Cẩm lấy tay khoát vợ và nói nhỏ nhỏ rằng :
- Ai dè nó giàu ! Mà thôi mầy đừng nói gì hết, để đó mặc tao. Chuyến này tao trúng
mối lớn rồi tao hết lo nghèo nữa. ”
Cùng với đối thoại của nhân vật, trong lời thuật truyện, lời miêu tả Hồ Biểu Chánh cũng
đã sử dụng khẩu ngữ. Đó là những từ ngữ và những cách nói rất riêng của người dân Nam Bộ
mà ngày nay vẫn còn nghe thấy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ta có thể phát hiện tính
thuyết “Ngọn cỏ gió đùa” dùng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ. Nhà văn vận dụng thành ngữ, tục
ngữ rất uyển chuyển, linh hoạt, sáng tạo. Nhờ vậy, tiểu thuyết “Ngọn cỏ gió đùa” của ông ghi
lại cuộc sống của người dân Nam Bộ bằng cách diễn đạt rất riêng, vừa hình tượng, vừa khái
quát làm cho lời văn trở nên hấp dẫn, có sức thuyết phục cao. Hồ Biểu Chánh có nhiều cách vận
dụng thành ngữ, tục ngữ vào tiểu thuyết. Có khi nhà văn sử dụng thành ngữ ở dạng nguyên bản,
không thay đổi, thêm bớt. Ví dụ:
“Hải Yến mừng rỡ hết sức, trong bụng đã chắc rằng trong năm ba ngày nữa mình sẽ
giao duyên với Ánh Nguyệt, sắc cầm hòa hiệp, loan phụng đồng sàng, chẳng còn ngày ngóng
đêm trông hết nỗi nhớ mây thương gió.”
“Cậu là học trò du học, lẽ thì ngày đêm cậu phải để trí vào kinh sử luôn luôn, quyết lập
cho được công danh mà làm hiển vinh tổ phụ chớ sao cậu lại cố ý dòm hoa ngó nguyệt làm chi
mà đến nỗi thương gió nhớ mây như vậy?”
Kết cấu của thành ngữ “chặt chẽ như nắm đấm”, điều đó quy định cách sử dụng nó trong
tác phẩm, thường là dùng liền một khối. Nhưng trong nhiều trường hợp, Hồ Biểu Chánh lại sử
dụng khá biến hóa. Ông tách thành ngữ ra từng bộ phận, đảo vị trí hoặc xen vào những yếu tố
phụ để nhấn mạnh ý nghĩa của thành ngữ, tục ngữ. Chẳng hạn:
“Đàm Tự Chấn nghe nói chuyện đó thì ông giận, Kim Diệp làm con gái không biết trọng
danh tiết, cha mẹ không định mà giám trộm nhớ thầm yêu con trai, bởi vậy ông cau mày xụ
mặt”
Một điểm mới của Hồ Biểu Chánh khi dùng thành ngữ là nhà văn đã cải biến cách phát
âm, cải biến từ vựng để phù hợp với phương ngữ Nam Bộ. Một số thành ngữ được cải biến cách
phát âm: tu nhơn tích đức (tu nhân tích đức), nhắm mắt đưa chơn (nhắm mắt đưa chân), phú
quý vinh huê (phú quý vinh hoa), tâm đầu ý hiệp (tâm đầu ý hợp),… Một số thành ngữ đã cải
biến từ vựng: ghẹo nguyệt giỡn hoa (ghẹo nguyệt trêu hoa), chuột sa hũ nếp (chuột sa chĩnh
gạo), xót ruột bầm gan (bầm gan tím ruột), ham phú phụ bần (tham phú phụ bần), sửa tráp
nâng khăn (sửa túi nâng khăn)…
“Nếu cô khứng kết nghĩa Châu Trần với tôi, thì tôi ra tiền mà trả nợ, rồi tôi mướn nhà
rước cô về, vợ chồng ở với nhau, tôi sôi kinh nấu sử, cô lo sửa tráp nâng khăn, khi buồn hòa
Lê Thị Cẩm Hà – K36.601.035 Trang 13
Sự song kết giữa truyền thống và hiện đại trong “Ngọn cỏ gió đùa” - Hồ Biểu Chánh
giục buồn thêm, thân đã khổ mà phận lại e còn khổ nữa”
Tuy nhiên, lối văn biền ngẫu nếu sử dụng quá nhiều sẽ trở nên khuôn sáo, chú trọng vẻ
đẹp hình thức, tìm những lời hoa mỹ để cốt sao cho câu văn có được sự đăng đối, âm vận hài
hòa, đọc lên nghe réo rắt du dương mà không chú ý đến nội dung tư tưởng và hiện thực được
phản ánh. Do vậy, Hồ Biểu Chánh phải tìm đến một lối văn mới “trơn tuột như lời nói thường”.
Câu văn biền ngẫu trong tiểu thuyết của ông càng về sau càng ít, nhường chỗ cho một lối văn
hiện đại, súc tích. Ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đã dần dần hoàn thiện theo thời gian.
4. Mô phỏng tác phẩm văn học nước ngoài
Ở bước đầu phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, hiện tượng mô phỏng, phóng
tác văn học nước ngoài là hiện tượng hết sức phổ biến. Trong số các tác giả phóng tác thì Hồ
Biểu Chánh là người tiêu biểu nhất. Ông đã biến tác phẩm của người khác thành của mình chứ
không chỉ là những sản phẩm phỏng dịch.
Lê Thị Cẩm Hà – K36.601.035 Trang 14
Sự song kết giữa truyền thống và hiện đại trong “Ngọn cỏ gió đùa” - Hồ Biểu Chánh
Trong số 12 tiểu thuyết được Hồ Biểu Chánh thừa nhận là cảm tác từ tác phẩm văn học
nước ngoài thì “Ngọn cỏ gió đùa” là sáng tác thành công nhất. Có người cho rằng “Ngọn cỏ gió
đùa” cũng là một tác phẩm lớn như bộ tiểu thuyết Những người khốn khổ của văn hào Pháp V.
Hugo (1802-1885).
Sự sáng tạo của Hồ Biểu Chánh thể hiện trước hết ở sự rút ngắn dung lượng tác phẩm.
Để viết Những người khốn khổ (1861), V. Hugo đã mất gần 30 năm lao động nghệ thuật vất vả.
Khi chắp bút viết Những người khốn khổ, V. Hugo còn trẻ, kết thúc tác phẩm, tóc ông đã điểm
bạc. Với hàng ngàn trang viết, tiểu thuyết này được xem như là một bản “anh hùng ca nhân
dân” vang dội những âm điệu hào hùng, tràn đầy những lời ngợi ca những tâm hồn cao thượng.
Hồ Biểu Chánh chỉ làm một công việc đơn giản hơn là mất 5 năm để xây dựng bố cục và chỉ
viết trong hai tháng thì hoàn thành tiểu thuyết Ngọn cỏ gió đùa với gần 600 trang sách-một
trong những tác phẩm có độ dài nhất của Hồ Biểu Chánh-để xây dựng lại thực trạng xã hội một
thời dưới chế độ phong kiến nhà Nguyễn.
Trong Ngọn cỏ gió đùa, Hồ Biểu Chánh đã giữ lại một số nhân vật của Những người
khốn khổ. Jean Vajean-Madeleine là Lê Văn Đó-Trần Chánh Tâm-Thiên Hộ; giám mục Myriel
là hòa thượng Chánh Tâm; Fantine là Ánh Nguyệt; Cosette là Thu Vân; Marius là Thể Phụng;
sức khó xử là có một người khác bị tòa án đem ra xử phạt và cho rằng đó là Jean Vajean và Lê
Văn Đó, ở đây, Hồ Biểu Chánh có cách xử lý giống V. Hugo là để cho nhân vật suy nghĩ đến
bạc tóc rồi quyết định tự thú, minh oan cho người vô tội. Cả hai đều bị tòa án tuyên phạt tù
giam. Song một lần nữa Lê Văn Đó và Jean Vajean lại tìm cách vượt ngục. Cả hai tham gia
chiến trận, được giao nhiệm vụ xử tử kẻ thù là Javert và Phạm Kỳ, nhưng hai người đều quyết
định tha cho hai tên ấy. Sau này cũng chính Javert và Phạm Kỳ khi có cơ hội trừng phạt Jean
Vajean và Lê Văn Đó cũng đã tha chết cho họ.
Hồ Biểu Chánh khi xây dựng nhân vật Phạm Kỳ, một kẻ đối lập với Lê Văn Đó, cũng để
cho anh ta thực hiện những hành động như tên mật thám Javert. Điểm khác giữa hai nhân vật là
thái độ tư tưởng. Javert một cảnh sát tôn sùng luật pháp đến mức cuồng tín. Hành động của Jean
Vajean, Mađơle, đã giúp hắn nhận ra rằng ngoài pháp lý của trần gian còn có pháp lý của trời.
Vì vậy, kết thúc tác phẩm, Javert đã tìm đến cái chết. Còn viên đội Phạm Kỳ thì suy nghĩ đơn
giản hơn nhiều. Phạm Kỳ luôn tin tưởng pháp luật và tin rằng người giàu sang bao giờ cũng nói
đúng pháp luật. Phạm Kỳ không khủng hoảng niềm tin như Javert, mà hành động một cách rõ
ràng. Khi Phạm Kỳ bắt được Lê Văn Đó, anh ta suy nghĩ rồi nói: “Hôm trước mi tha ta không lẽ
bữa nay ta bắt mi. Vậy cũng tha mi mà trừ cái nghĩa nọ. Song ta nói cho mi biết rằng làm quan
cũng có kẻ quấy người phải, cũng có người biết ơn biết nghĩa, chớ không phải mi có nhơn còn
ta không biết nhơn nghĩa đâu. Thôi, mi đi đi. Ta không bắt mi đâu. Ta khuyên mi một điều này,
là phải lánh thân, đừng có gặp ta nữa, bởi vì hễ gặp ta nữa, thì ta vì phận sự ta không thể nào
dung mi nữa được”
Nhân vật Ánh Nguyệt trong Ngọn cỏ gió đùa cũng có nhiều nét khác với nhân vật
Fantine. Trong Những người khốn khổ, V. Hugo đã viết những trang văn đầy xúc động về số
phận cay đắng tủi nhục của cô thiếu nữ Fantine. Là một cô bé mồ côi cha mẹ, Fantine lớn lên
trong nghèo khổ nhưng vô cùng xinh đẹp. Cô bước vào đời với tâm hồn ngây thơ, trong trắng,
nhẹ dạ, cả tin. Fantine đã sa vào cạm bẫy của tên Tolomiette đớn hèn. Hắn đã lừa cho cô có thai
rồi bỏ rơi một cách không thương tiếc. Một cô gái còn trẻ mà đã phải làm mẹ, Fantine lang
thang nơi này nơi khác với hy vọng xã hội còn nhiều người tốt. Với niềm tin mơ hồ như vậy,
Fantine lại sa vào bẫy của vợ chồng Thénardier gian hiểm. Vì chúng mà nàng đã phải bán tóc,
bán răng… hy sinh tất cả những gì có thể để nuôi con, mong cứu con thoát khỏi móng vuốt của
đôi vợ chồng ác độc. Bị đuổi khỏi xưởng thợ của ông Mađơlen, nàng đã phải bán thân để lấy
những thủ đoạn của Hải Yến để tìm cách lấy được Ánh Nguyệt rồi tìm cách bỏ rơi. Làm quan,
Hải Yến lại lấy một người vợ khác giàu có hơn, khi biết con ruột mình là Thu Vân, thấy vợ cũ là
Ánh Nguyệt đang trong cơn hấp hối, hắn cũng không động lòng. Vì vậy, sau này hắn đã bị quả
báo, chết không toàn thây. Đây là một sáng tạo của Hồ Biểu Chánh, vì trong Những người khốn
khổ, nhân vật Tolomiette, người yêu Fantine được miêu tả hết sức mờ nhạt, không có ý nghĩa
sâu sắc.
Sự khác nhau giữa các nhân vật còn thể hiện ở gia đình Marius và gia đình Vương Thế
Phụng. Trong Những người khốn khổ, cuộc tranh luận về ý thức hệ chính trị và sự bất đồng về
chính kiến xẩy ra giữa ông và cháu. Còn ở Ngọn cỏ gió đùa sự bất đồng diễn ra giữa cha và con.
V. Hugo tập trung xây dựng nhân vật Marius, Hồ Biểu Chánh lại miêu tả Vương Thể Hùng
nhiều hơn Vương Thể Phụng, Vương Thể Hùng là một thủ lĩnh chủ chốt trong cuộc khởi nghĩa
của Lê Văn Khôi. Khởi nghĩa thất bại, anh ta sống ẩn dật, trung thành với lý tưởng đã chọn,
chấp nhận xa con trai. Đây là một con người có khí tiết, trọng nghĩa khinh tài, một nhân vật nổi
bật trong các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh. Còn Vương Thể Phụng được miêu tả là một chàng
trai có hiếu với cha. Khi cha còn sống, chàng đã bỏ học, bỏ thi đi tìm cha, lúc ông qua đời, Thể
Phụng đã tìm đến cư ngụ tại căn nhà mà cha đã ở trước đây…
Về phương diện nghệ thuật, Ngọn cỏ gió đùa được Hồ Biểu Chánh viết bằng bút pháp
khác so với bút pháp của V. Hugo. Hồ Biểu Chánh không bộc lộ cái tôi của mình một cách trực
tiếp và dùng lối văn nghị luận diễn thuyết như V. Hugo, mà ông chỉ miêu tả, kể chuyện. Tác giả
thể hiện những triết lý đạo đức thông qua đối thoại giữa các nhân vật. Nếu V. Hugo sắp xếp bố
cục theo trật tự ưu tiên cho những gì mà nhà văn nhấn mạnh thì Hồ Biểu Chánh lại trình bày bố
cục theo thứ tự thời gian, chuyện gì xẩy ra trước nói trước, chuyện gì xẩy ra sau nói sau. V.
Hugo dựng lên một bức tranh đồ sộ với nhiều nét vẽ đa sắc và âm hưởng vang động của lời thơ
làm người đọc xúc động, dõi theo dòng tình cảm bao la, thấm đượm của nhân vật, hoặc đau
buồn, rơi nước mắt, hoặc căm giận phấn khích như muốn cùng xốc tới với các nghĩa binh trên
chiến lũy Paris. Nhà văn tập trung khai thác cách miêu tả, vừa chú ý đến toàn cảnh, vừa sử dụng
rộng rãi những nét tạo hình khắc họa khung cảnh thiên nhiên dẫn đến tâm trạng của nhân vật
Lê Thị Cẩm Hà – K36.601.035 Trang 17
Sự song kết giữa truyền thống và hiện đại trong “Ngọn cỏ gió đùa” - Hồ Biểu Chánh
đang dằn vặt đấu tranh hay đau buồn tuyệt vọng. Mặc dù tác phẩm có nhiều chương, đoạn dài
mà còn đi sâu vào cuộc sống ở nông thôn; không chỉ phản ánh cuộc sống của tầng lớp trên trong
xã hội mà còn miêu tả cuộc sống của những người “dưới đáy” xã hội.
Tiểu thuyết “Ngọn cỏ gió đùa” viết về nông thôn, Hồ Biểu Chánh đã miêu tả nền kinh tế
nông nghiệp lạc hậu. Người nông dân Nam Bộ lao động quần quật quanh năm với những ngành
nghề truyền thống như làm ruộng, làm rẫy, cày thuê, cuốc mướn, chăn nuôi, trồng trọt nhưng
thu nhập lại chẳng là bao. Những năm được mùa thì họ sống đỡ vất vả hơn. Gặp khi thiên tai
(hạn hán, lũ lụt) thì làng mạc, ruộng vườn tiêu điều, xơ xác, đời sống nhân dân gặp nhiều khó
khăn: “Năm mậu thìn (1808) nhằm Gia Long thất niên, tại huyện Tân Hòa, bây giờ là tỉnh Gò
Công, trời hạn luôn trong hai tháng, là tháng bảy với tháng tám, không nhểu một giọt mưa. Lúa
sớm gần trổ, mà bị ruộng khô nên không nở đòng đòng lúa mùa vừa mới cấy, mà bị đất nẻ, nên
cọng teo lá úa.
Lê Thị Cẩm Hà – K36.601.035 Trang 18
Sự song kết giữa truyền thống và hiện đại trong “Ngọn cỏ gió đùa” - Hồ Biểu Chánh
Cái cánh đồng từ Rạch Lá tới Bến Lội, là vú sữa của nhơn dân trong huyện Tân Hòa,
năm nào cũng nhờ đó mà nhà nhà đều được no cơm ấm áo, ngặt vì năm nay cả đồng khô héo,
làm cho dân cả huyện trông thấy đều buồn bực thở than” .
Nhà văn cũng cho ta thấy những mâu thuẫn xã hội gay gắt ở nông thôn. Ông đã phát hiện
ra thủ đoạn gian xảo của giai cấp địa chủ nhằm vơ vét bóc lột dân lành. Họ dựa vào sự thiếu
hiểu biết, tâm lý thật thà của nông dân để mưu lợi cho mình. Tác giả vạch mặt những quan lại
tham lam, dâm dục, cấu kết với những kẻ có quyền thế làm hại dân lành.
Trước đây, trong văn học truyền thống Việt Nam và tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc các
nhà văn đã viết nhiều về đề tài thế sự. Sự cách tân của Hồ Biểu Chánh là nhà văn đã mạnh dạn
hướng cái nhìn của mình vào thực tế xã hội Nam Kỳ lúc bấy giờ, phơi bày lên trang viết hiện
thực phức tạp, mâu thuẫn của cuộc đời mà ông đã nghe, đã thấy và lên tiếng phê phán. Có thể
nói, trái tim nhân hậu và cái nhìn nhạy cảm đã giúp Hồ Biểu Chánh với tiểu thuyết “Ngọn cỏ
gió đùa” đã phản ánh được sự phân hóa giai cấp trong xã hội, sự đối lập giữa người giàu và
người nghèo, sự bất công mà người nghèo phải gánh chịu: “Luật gì lấy một trã cháo heo cho
mẹ với cháu ăn đỡ đói mà phải chịu 20 năm khổ hình! Ác quá! Ức quá!”
Sự bất công đó diễn ra phổ biến rộng khắp từ nông thôn đến thành thị ở Nam Bộ. Nhà
văn vẽ nên những cảnh tượng trái ngược trong xã hội. Tiền bạc, đất đai, nhà cửa chủ yếu tập
niệm truyền thống. Ngày trước, trong chế độ quân chủ phong kiến theo hình mẫu Nho giáo, để
tôn sùng sở hữu tối cao và ngôi vị độc tôn của ông vua, một yêu cầu mà giai cấp thống trị đặt ra
cho mọi người dân là trung quân. Vì thế, tư tưởng trung quân được giai cấp thống trị tuyên
truyền, quảng bá rộng rãi cho dân chúng và hình phạt đặt ra rất nặng nề, khắc nghiệt cho những
ai phạm tội khi quân, bất kính với vua. Nhưng trong tiểu thuyết Ngọn cỏ gió đùa, Hồ Biểu
Chánh để các nhân vật tranh cãi về đạo quân thần. Đây là đoạn đối thoại giữa Vương Thế Hùng
và bố vợ:
“- Thưa cha, đạo quân thần há con lại chẳng biết hay sao. Nhưng mà con xin nói vắn tắt
lời này: “Hễ làm vua mà không biết trọng nghĩa của tôi, thì tôi phạt, chẳng còn biết ai là quân
ai là thần, mà gọi là phản nghịch”.
- Hừ! Lời nói quân vô phụ dữ! Vậy chớ mày quên câu “Quân xử thần tử, thần bất tử bất
trung, phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” rồi sao?
- Thưa, câu sách đó là câu của người nịnh hót nhà vua đặt ra mà làm cho ám muội lòng
dân đặng tiện bề cai trị, câu đó là câu hại dân, chả có ích chi đâu mà phải làm theo”
Trong tiểu thuyết của mình, Hồ Biểu Chánh đã ngợi ca tấm lòng hiếu thảo của những
người con đối với cha mẹ. Trước đây, trong truyện thơ chúng ta đã biết đến những tấm gương
hiếu nghĩa như nàng Kiều bán mình chuộc cha, Lục Vân Tiên nghe tin mẹ mất thì bỏ thi mà về
quê chịu tang mẹ. Đọc tác phẩm “Ngọn cỏ gió đùa” Hồ Biểu Chánh, chúng ta cũng bắt gặp
những tình cảm của con cái đối với cha mẹ hết sức cảm động. Vương Thế Phụng khi biết cha
mình là một trang hào kiệt phải sống cô độc do bất đồng với ông ngoại đã sẵn sàng bỏ ông ngoại
giàu có để đến ở chăm sóc cho cha, bỏ cả thi cử.
Nét nổi bật trong cảm hứng chủ đạo của Hồ Biểu Chánh nói riêng và các nhà văn Nam
Bộ nói chung là sự ca ngợi nhiệt thành, mãnh liệt tư tưởng vì nghĩa. Thông qua những câu
chuyện đời, Hồ Biểu Chánh ca ngợi những con người “xả thân thủ nghĩa”, “trọng nghĩa khinh
tài”, “hiếu nghĩa dũng vi”… Tinh thần vì nghĩa đã làm cho tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh mang
màu sắc đạo lý. Khái niệm nghĩa trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Nam Bộ có
khác so với cách hiểu của Nho giáo. Nội hàm khái niệm mở rộng, đối tượng thực hiện chữ nghĩa
cũng khác hơn. Con người vì nghĩa đã trở thành tấm gương răn dạy đạo lí làm người. Khi Nam
Bộ bị thực dân Pháp cai trị, những hiện tượng phi nhân bất nghĩa xuất hiện ngày càng nhiều. Hồ
Biểu Chánh tiếp tục đề cao tư tưởng vì nghĩa trong hoàn cảnh mới.
con nhà nghèo vẫn không có được để duy trì sự sống. Không chỉ gia đình Lê Văn Đó mà trong
“huyện Tân Hòa lúa cũ dân ăn đã hết rồi còn lúa mới không có mà ăn tiếp. Các nhà nghèo đều
thiếu đói, nên có nhiều người phải bỏ nhà dắt vợ con qua xứ khác mà kiếm ăn”.
Đối lập với cảnh sống bần hàn của người nghèo, là sự dư dật thừa thãi của những nhà
giàu. Trong lúc gia đình Lê Văn Đó cám cũng không có mà ăn thì nhà Bá hộ Cao cơm ăn không
hết, khách khứa tiệc tùng linh đình.
Như vậy, với cảm hứng hiện thực trong “Ngọn cỏ gió đùa”, Hồ Biểu Chánh đã phản ánh
hiện thực cuộc sống hết sức chân thật, đa dạng. Xã hội đó còn nhiều thân phận người nông dân
nghèo như “Ngọn cỏ gió đùa”. Văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam đã làm thay đổi các
giá trị truyền thống, làm xuất hiện những cảnh chướng tai gai mắt.
3. Đặc điểm, tính cách nhân vật
Cũng như “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách, con người cá nhân cá thể đã được phản ánh
trong “Ngọn cỏ gió đùa” sáng tác của Hồ Biểu Chánh. Tuy sự phản ánh đó chưa đạt đến mức
điêu luyện và thần thục như các tiểu thuyết gia Tự lực văn đoàn và văn học hiện thực phê phán
sau này, nhưng Hồ Biểu Chánh bước đầu tạo nên những nhân vật có ý thức cá nhân, cá tính rõ
ràng. Những nét đặc điểm, tính cách nhân vật trong tiểu thuyết “Ngọn cỏ gió đùa” Hồ Biểu
Chánh có nhiều nét mới so với nhân vật trong văn học trung đại. Trong tiểu thuyết của mình, Hồ
Biểu Chánh xây dựng nên một thế giới nhân vật đông đảo, đa dạng với những đặc điểm, tính
cách khác nhau. Xã hội mà nhà văn phản ánh trong tác phẩm là miền Nam với những biến động
lớn lao dưới ách thống trị của thực dân Pháp.
a) Trọng tình
Đây là đặc điểm tính cách hết sức nổi bật của con người Việt Nam nói chung, con người
Nam Bộ nói riêng. Trong các tác phẩm văn học trung đại, tính cách trọng tình của nhân vật
được thể hiện khá rõ. Các truyện thơ Phạm Công-Cúc Hoa, Nhị độ mai, Vương Tường, Truyện
Kiều, Lục Vân Tiên… cho ta thấy những con người giàu tình cảm. Chữ tình ở đây chúng ta có
Lê Thị Cẩm Hà – K36.601.035 Trang 21
Sự song kết giữa truyền thống và hiện đại trong “Ngọn cỏ gió đùa” - Hồ Biểu Chánh
thể hiểu là tình cảm gia đình, tình vợ chồng, tình làng nghĩa xóm, tình thông gia, tình bạn, tình
thầy trò…
Trong quan hệ gia đình, Hồ Biểu Chánh tập trung miêu tả tình cha con, tình ông cháu,
tập quán, hoàn cảnh sống của Việt Nam nói chung, Nam Bộ nói riêng. Tuy mỗi nhân vật có tiểu
sử, số phận, đời sống tâm lý, tính cách khác nhau nhưng mỗi nhân vật lại đại diện cho đạo đức
của giai cấp, tầng lớp mình. Cái nhìn hướng về đạo đức xã hội đã chi phối nhân vật chứ không
phải là cái nhìn hướng vào tư cách, cá tính, nội tâm. Các nhân vật đều được xây dựng theo
nguyên tắc đồng nhất. Nhân vật trùng khít với tính cách, với địa vị xã hội của mình, tâm lý nhân
vật chủ yếu được thể hiện qua ngôn ngữ và hành động bên ngoài. Đây là các phương pháp xây
dựng nhân vật theo kinh nghiệm văn học truyền thống.
Lê Thị Cẩm Hà – K36.601.035 Trang 22
Sự song kết giữa truyền thống và hiện đại trong “Ngọn cỏ gió đùa” - Hồ Biểu Chánh
c) Coi trọng đồng tiền
Trong tiểu thuyết “Ngọn cỏ gió đùa”, Hồ Biểu Chánh xây dựng những tính cách nhân vật
bị chi phối bởi một dục vọng duy nhất là lòng tham tiền. Họ tìm mọi cách, bất chấp các thủ đoạn
miễn sao đạt được mục đích là có thật nhiều tiền.
Có thể thấy, tính tham tiền của con người là một nét rất “thời đại” mà Hồ Biểu Chánh đã
miêu tả được. Loại nhân vật này ít gặp trong văn học truyền thống Việt Nam nhưng lại xuất hiện
nhiều trong văn học phương Tây, nhất là ở các tác phẩm của H. Balzac. Hồ Biểu Chánh đã có sự
đột phá khi nâng tính tham tiền của con người trở thành bản năng, dục vọng cá nhân. Các nhân
vật trong “Ngọn cỏ gió đùa” của ông đã coi đồng tiền là trên hết, bất chấp mọi thủ đoạn để có
thể kiếm được thật nhiều tiền như hành động lợi dụng sự ham muốn của Từ Hải Yến đối với
Ánh Nguyệt, hai vợ chồng Đỗ Cẩm – Thị Phi đã tìm đủ cớ để moi móc tiền bạc và hàng loạt
những việc làm trái đạo nghĩa khác của hai vợ chồng này chỉ vì mục đích duy nhất là có thật
nhiều tiền. Ngòi bút của Hồ Biểu Chánh tỏ ra sắc sảo không kém các hiện thực phê phán sau
này.
Đồng thời với việc thể hiện tính cách của những con người làm giàu bất chính, Hồ Biểu
Chánh đã cho ta thấy những nét mới trong phẩm chất của nhân vật trong tiểu thuyết của ông là
có nguyện vọng làm giàu chính đáng. Lê Văn Đó từ một người tù vượt ngục, nhờ biết đốn cây
cất nhà ở, khai phá rừng hoang mà làm ruộng, quy tập dân làng cùng làm ăn nên đã trở thành
một người cự phú vang danh thiên hạ.
d) Dám tự khẳng định mình
Đây là đặc điểm thể hiện rất rõ ý thức cá nhân, cá tính của nhân vật trong tiểu thuyết
có vai trò quan trọng chi phối cốt truyện. Câu chuyện đều kết thúc có hậu như truyện thơ và tiểu
thuyết chương hồi. Sự cách tân trong sáng tác của ông là nhà văn đã làm mới những đề tài vốn
có, nhân vật đã vượt qua được tính chất ước lệ của quan niệm truyền thống. Nhân vật cổ điển
được thay thế bằng những nhân vật hiện đại với đầy đủ đam mê, dục vọng của con người từ tính
tham tiền, sự yêu thương và hận thù, cho đến cả vấn đề tình dục. Đây chính là sản phẩm của xã
hội Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XX. Hồ Biểu Chánh cũng tiếp thu những thành tựu
nghệ thuật của tiểu thuyết phương Tây để tạo dựng những yếu tố mới về nghệ thuật tiểu thuyết
“Ngọn cỏ gió đùa” của mình, thể hiện qua ngôn ngữ, nghệ thuật xây dựng nhân vật, lựa chọn
chi tiết, kết cấu… Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh được xem là một bức tranh truyền thần bằng chữ
hết sức sống động và chính xác về cuộc sống và phong tục của người dân Nam Bộ. Từ cách dàn
dựng câu chuyện, đến tâm lý, tính cách, diện mạo của nhân vật, khung cảnh sinh hoạt, môi
trường sống của con người đều được thể hiện qua những từ ngữ và cách nói rất riêng của nhân
dân Nam Bộ.
Lê Thị Cẩm Hà – K36.601.035 Trang 24