Sự thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển văn hóa ở Cần Thơ - Pdf 23

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Truyền thống và hiện đại là những yếu tố có mặt trong đời sống của mỗi
quốc gia dân tộc, trên mọi lĩnh vực của quá trình phát triển, trong đó có lĩnh vực
văn hóa, cái được xem như nền tảng tinh thần của xã hội. Tuy nhiên, truyền thống
và hiện đại không bao giờ tồn tại một cách tĩnh tại, tách biệt nhau mà chúng luôn
có sự liên hệ, tác động lẫn nhau, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau, tạo thành
sự vận động, phát triển và làm thành diện mạo văn hóa của một dân tộc. Chính vì
vậy mà mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong văn hóa đã trở thành vấn
đề hàng đầu ở mọi quốc gia, đặc biệt là ở những nước đang phát triển, vốn mang
trên mình sức nặng của truyền thống hình thành qua suốt chiều dài của lịch sử và
lại đứng trước một sự nghiệp hiện đại hóa to lớn. Nếu không nhận dạng được một
cách đầy đủ sự thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong quá
trình phát triển của văn hóa, chúng ta không thể phát huy đầy đủ vai trò của văn
hóa đối với sự phát triển xã hội. Chính vì tầm quan trọng đó, khi bước vào thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta chủ trương: phải giữ gìn và phát huy những
truyền thống văn hóa tốt đẹp của mình; đồng thời phải biết tiếp thu kế thừa những
yếu tố hiện đại phù hợp với thời đại phát triển hiện nay, phù hợp với sự tiến bộ
chung trên thế giới. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã
viết: “Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt
quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền
thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc. Tiếp thu tinh hoa của các
dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp thêm nền văn hóa Việt Nam”
1
.
Giải quyết tốt mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại là phát huy tối đa
sức mạnh nội sinh của dân tộc, vừa tiến lên văn minh, hiện đại, vừa giữ gìn bản sắc
dân tộc, tạo lập con đường phát triển ổn định và bền vững cho đất nước.
Đối với Cần Thơ, trong quá trình phát triển văn hóa luôn luôn có sự tác động
của sự thống nhất biện chứng giữa truyền thống và hiện đại; trong đó, hiện đại bắt
nguồn từ truyền thống, lấy truyền thống làm nền tảng trên cơ sở chắt lọc, kế thừa

“Cơ sở lý luận văn hóa Mác-Lênin” (1976) do Acnônđốp A.I chủ biên, Mátxcơva;
“Một số vấn đề lý luận văn hóa” (1977) của Actanốpxki S.N, Lêningrát; “Những
vấn đề triết học của văn hóa” (1984) của tập thể tác giả, Mátxcơva; “Tính kế thừa
trong sự phát triển văn hóa trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội” (1977) của
Cairan V.I, Mátxcơva;…Bên cạnh những công trình nghiên cứu lớn của các nhà lý
luận mácxít về văn hóa, ở phương Tây đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về
văn hóa với khuynh hướng chung là khẳng định vai trò quan trọng không thể thiếu
của văn hóa truyền thống trong phát triển như: “Tạo dựng nền văn minh mới của
làn sóng thứ ba” (1996) của Alvin Toffler và Heidi Toffler, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội; “Sự va chạm của các nền văn minh” (2003) của Samuel Huntingtong,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Lịch sử văn hóa thế giới” của X. Carpusina và
V. Carpusin (2002), Nxb. Thế giới, Hà Nội.
Ở các nước khu vực Đông Á, đặc biệt là Trung Quốc, từ thời kỳ cải cách đến
nay, đã có nhiều công trình lý luận khoa học nghiên cứu về vai trò của văn hóa dân
tộc trong quá trình toàn cầu hóa như: “Cải cách thể chế văn hóa” (1996) do Khang
Thức Chiêu chủ biên; “Thử bàn về qui luật đặc thù của phát triển văn hóa trong
2
điều kiện kinh tế thị trường” (1997) của Lưu Bôn; “Văn hóa trong sự phát triển tư
bản chủ nghĩa ở khu vực Đông Á” (2000) của Kyong-Dong Kim (Hàn Quốc)…
Ở Việt Nam, sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình
phát triển văn hóa được Đảng ta đặc biệt quan tâm và đã được thể hiện khá đầy đủ
trong các văn kiện của Đảng. Đồng thời, đã có những công trình được xuất bản
thành sách hay đăng trên các tạp chí lý luận, các cuộc hội thảo khoa học bàn về vai
trò của văn hóa đối với sự phát triển, trong đó phải kể đến những công trình như:
“Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” (1993) của GS.Trần Văn
Giàu, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh; “Truyền thống và hiện đại: vài suy nghĩ và đề xuất”
(2000) của GS. Phan Huy Lê; “Văn hóa và thời đại” (2009) của Nguyễn Chí Tình,
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội;“Hiện đại hóa ở Việt Nam” (1997) của Nguyễn Thế
Nghĩa, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội; “Văn hóa Việt Nam - truyền thống và hiện
đại” (2000) do Viện Thông tin Khoa học xã hội tổng hợp và giới thiệu; “Tìm hiểu

- Thứ nhất, phân tích những vấn đề lý luận chung về văn hóa và sự thống
nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển văn hóa.
- Thứ hai, trên cơ sở trình bày, phân tích nội dung, đặc điểm của sự thống
nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển văn hóa
ở Cần Thơ, luận án đề xuất một số giải pháp phát triển văn hóa ở Cần Thơ trong sự
thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời còn sử dụng tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích và tổng hợp, diễn dịch và qui nạp,
lôgich và lịch sử, thống kê… để nghiên cứu và trình bày luận án. Luận án được
tiếp cận dưới góc độ triết học văn hóa.
5. Cái mới của luận án
- Cái mới thứ nhất là, trên cơ sở lý luận chung về văn hóa, luận án đã lý giải
và phân tích rõ về sự thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong
quá trình phát triển văn hóa ở Cần Thơ.
- Cái mới thứ hai là, từ sự phân tích thực trạng văn hóa Cần Thơ, luận án đề
xuất một số giải pháp có tính định hướng góp phần vào phát triển văn hóa Cần Thơ
trên cơ sở sự thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa khoa học, luận án góp phần luận giải một cách hệ thống và khoa
học về sự thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình
xây dựng nền văn hóa mới ở Cần Thơ. Trên cơ sở đó, luận án góp phần làm cho
các cấp ủy đảng và chính quyền Cần Thơ nhận thức sâu sắc hơn, đúng đắn hơn về
vai trò của văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội ở Cần Thơ hiện nay.
Về thực tiễn, một số giải pháp có tính định hướng mà luận án đề xuất, có thể
góp phần thiết thực vào giải quyết những vấn đề cơ bản trong quá trình xây dựng
và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Cần Thơ.

Anh E. Tailor trong cuốn “Văn hóa nguyên thủy” xuất bản năm 1871. Theo E. Tailor, văn
hóa “được cấu thành một thể thống nhất từ kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức,
phong tục, tập quán và mọi khả năng, thói quen khác mà con người có được như một
thành viên xã hội”. Hội nghị quốc tế Mêhicô do UNESCO tổ chức từ ngày 26 tháng 7 đến
06 tháng 8 năm 1982, có trên 100 nước tham dự, với trên 1.000 đại biểu đã chấp nhận một
quan niệm về văn hóa sau đây: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét
riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một số xã
hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương,
những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục
và tín ngưỡng. Chính văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính
văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành sinh vật đặc biệt, nhân bản, có lý tính, có óc phê
phán và dấn thân một cách có đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán được
những giá trị và thực thi những lựa chọn. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự
ý thức được bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên
những công trình vượt trội lên bản thân mình”
2
.
2
. Người đưa tin UNESCO, số 9/1997, tr. 12-13.
5
1.1.2. Quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về văn hóa
Theo quan điểm của C.Mác, văn hóa là cái thể hiện sức mạnh xã hội của hoạt động
lao động sản xuất của con người. Và hoạt động lao động sản xuất của con người - cái thể
hiện năng lực sáng tạo của con người, năng lực tạo ra toàn bộ sự phong phú, đa dạng cho
tồn tại đích thực của con người “giới tự nhiên thứ hai”, giới tự nhiên cho mình “theo quy
luật của cái đẹp”, hình thành mối quan hệ của con người với thế giới tự nhiên xung quanh
và quan hệ của con người với con người trong cộng đồng xã hội - chính là cội nguồn của
văn hóa.
Theo quan điểm của Ph.Ăngghen, để tìm hiểu cội nguồn của văn hóa, phải đặt nó
trong quá trình hình thành loài người. Tư tưởng chủ đạo trong bài viết của ông là “lao

3
. C.Mác và Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 647.
4
. Sđd, tr. 648.
5
. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 431.
6
chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng
nước và giữ nước”
6
, “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”.
Phân tích các cách tiếp cận văn hóa phổ biến hiện nay, có thể rút ra khái niệm văn
hóa, theo quan điểm của tác giả: văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo ra và được con người tích lũy qua quá trình hoạt động
thực tiễn; những giá trị đó đáp ứng được nhu cầu của cả cộng đồng, được cộng đồng
thừa nhận và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hóa là biểu hiện của
trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.
1.2. SỰ THỐNG NHẤT VÀ MÂU THUẪN GIỮA TÍNH TRUYỀN THỐNG
VÀ HIỆN ĐẠI NHƯ MỘT QUY LUẬT PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HÓA
1.2.1. Khái niệm truyền thống trong văn hóa
Truyền thống được hiểu như là tập hợp những tư tưởng và tình cảm, những thói
quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được hình
thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Do đó, truyền thống bao giờ cũng mang ba đặc trưng cơ bản là: tính cộng đồng, tính ổn
định và tính lưu truyền. Tất nhiên, những đặc trưng đó chỉ có ý nghĩa tương đối, vì bản
thân truyền thống cũng có quá trình hình thành, phát triển và biến đổi. Mỗi khi hoàn cảnh
lịch sử, cơ sở kinh tế - xã hội và hệ tư tưởng thay đổi thì truyền thống cũng có những biến
đổi, vừa có mặt kế thừa, phát triển, có mặt loại bỏ; vừa có sự hình thành những truyền
thống mới.
1.2.2. Khái niệm hiện đại trong văn hóa

không nên tuyệt đối hóa truyền thống, vì nếu tuyệt đối hóa, lý tưởng hóa các giá trị truyền
thống sẽ dẫn đến ý thức phục cổ, cản trở công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Trái lại, không nên phủ định truyền thống, nếu phủ định truyền
thống sẽ dẫn đến xu hướng hiện đại hóa bằng con đường ngoại nhập, đánh mất bản sắc
dân tộc, tự hủy hoại sức mạnh nội sinh, làm mất tính bền vững và ổn định của sự phát
triển. Thứ ba là, truyền thống được bảo tồn, phát triển một cách sinh động và phong phú
nhờ tính hiện đại. Trải qua hàng nghìn năm xây dựng, bảo vệ đất nước, dân tộc Việt Nam
đã tạo lập cho mình một di sản truyền thống tinh thần rất phong phú, đa dạng, đó là tinh
thần yêu nước; truyền thống đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc; truyền thống lao động cần cù,
sáng tạo, tính thích nghi và hội nhập để tồn tại và phát triển, lối ứng xử mềm dẻo; tính
cộng đồng kết hợp với tinh thần nhân ái, truyền thống khoan dung…; trong các giá trị
truyền thống văn hóa đó, những cái tiến bộ, phù hợp luôn được bảo tồn, phát triển nâng
cao sinh động, phong phú. Còn những truyền thống lạc hậu, lỗi thời, không phù hợp với
yêu cầu phát triển của xã hội và thời đại cần được loại bỏ.
Sự mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong sự phát triển của văn hóa,
được biểu hiện trên những mặt cơ bản sau:
Một là, tính ổn định của truyền thống và một số yếu tố lạc hậu, bảo thủ của truyền
thống trở thành lực cản của hiện đại. Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, nhân dân ta đã từng bước xây dựng lối sống mới phù hợp với sự phát triển của xã
hội công nghiệp, nhưng vẫn giữ gìn và phát huy được các giá trị tốt đẹp trong lối sống cổ
truyền của dân tộc. Tuy nhiên, trong lối sống vẫn còn một số hạn chế, đó là tư tưởng tiểu
nông sản xuất nhỏ, tính bảo thủ, mê tín dị đoan, tâm lý bè phái, cục bộ, chủ nghĩa kinh
nghiệm, chủ nghĩa bình quân, thói quan liêu, gia trưởng , không còn phù hợp với thời đại
ngày nay cần khắc phục, nhằm xây dựng lối sống mới văn minh, hiện đại. Hai là, trong
quá trình phát triển có những yếu tố của hiện đại không phù hợp, mâu thuẫn, xung đột với
truyền thống. Quá trình toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế mang lại cho nhân dân ta khá nhiều
cái mới, cái hiện đại từ phương Tây; đồng thời, nó cũng tạo ra những giá trị truyền thống,
về lối sống cá nhân và dân tộc. Biểu hiện rõ nét nhất là các giá trị văn hóa ngoại lai mà họ
cho là "mới”, "hiện đại". Một bộ phận trong giới trẻ chạy theo thứ văn hoá và lối sống
8

2.1.2. Qúa trình phát triển và các loại hình văn hóa ở Cần Thơ
Về quá trình phát triển văn hóa ở Cần Thơ có thể chia làm ba giai đoạn như sau:
Giai đoạn khai hoang mở đất: cư dân ở các vùng, miền khác nhau, các dân tộc khác nhau
(Kinh, Khmer, Hoa, Chăm) lưu tụ về đây để khai mở đất đai, thành lập thôn ấp đầu tiên
trên vùng đất Trấn Giang này, với hành trang có sẵn trong mình là những điệu hát, câu hò,
những phong tục, truyền thống văn hóa từ miền Bắc, miền Trung mang vào, hình thành
9
nên nền nông nghiệp lúa nước. Từ những đặc điểm văn hóa, những phong tục tập quán,
lối sống của các vùng, miền khác nhau đó kết hợp với điều kiện sống, những phong tục
tập quán, sinh hoạt văn hóa của vùng đất mới, tạo ra sự vun hợp của nền văn minh sông
nước, miệt vườn. Các nghi lễ cúng đình, thờ cúng Thần nông, các vị tiền hiền, hậu hiền có
công với dân, với nước; những phong tục, tập quán: cưới xin, ma chay, cùng với nó là các
làn điệu dân ca, hò vè, đờn ca tài tử mang đặc điểm văn hóa sông nước ca ngợi tấm lòng
nhân hậu, nghĩa khí kiên trung, yêu quê hương đất nước, tôn trọng lẽ phải cũng dần dần
xuất hiện; các phương thức sinh hoạt, tinh thần lao động cần cù với tính cách táo bạo,
phóng khoáng, thực tế, trọng tình nghĩa, đã tạo nên sự thống nhất và đa dạng của văn hóa
Cần Thơ. Các tài danh tiêu biểu được nhân dân yêu thích của giai đoạn này là Bùi Hữu
Nghĩa, Phan Văn Trị (cử Trị), Lê Quang Chiểu, Nguyễn Thần Hiến, Mộc Quán - Nguyễn
Trọng Quyền Giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ giải phóng dân tộc: giai
đoạn này các loại hình văn hóa, nghệ thuật, những phong tục, tập quán, những giá trị văn
hóa truyền thống, lễ hội của giai đoạn đoạn trước được phát huy, hình thành nên các loại
hình văn hóa mới mang tính chất cách mạng, lòng yêu nước, tinh thần bất khuất của dân
tộc, tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, tinh thần táo bạo trong chiến đấu và sản xuất.
Đồng thời, đã xuất hiện các loại hình văn hóa lớn, đầu tiên phải kể đến là Đoàn văn công
giải phóng, đội thông tin tuyên truyền lưu động, cùng với các loại hình văn hóa đó là
những là điệu ca dao, dân ca kháng chiến, chập cải lương, tấu hài… ca ngợi lòng yêu
nước, tinh thần chiến đấu anh dũng của quân và dân Cần Thơ, động viên nhân dân tay
súng, tay cày vừa chiến đấu đánh đuổi ngoại xâm, vừa sản xuất xây dựng quê hương đất
nước; đồng thời góp phần ngăn chặn những loại văn hóa phẩm đồi trụy, những tệ nạn xã
hội. Bên cạnh những loại hình văn mới, ở Cần Thơ đã hình thành các khu di tích lịch sử -

và nhân dân Cần Thơ tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa, giá trị văn hóa của nhân loại;
mặt khác phải biết giữ gìn, bảo tồn những đặc điểm giá trị riêng có của vùng đất Cần Thơ,
góp phần vào việc thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Giai đoạn này xuất
hiện những nhà văn hóa, với những tác phẩm tiêu biểu như: “Giáp hạt”, Tập truyện của
Hoàng Hà; “Nắng mùa xuân”, Văn của nhiều tác giả; “Nhìn xa”, Thơ của Nguyễn Bá;
“Nhớ lại cái Tết năm ấy”, Hồi ký của Nguyễn Thanh Bình
8
.
Về các loại hình văn hóa - nghệ thuật ở Cần Thơ: Văn học dân gian, được nhân
dân sáng tác từ khi đặt chân đến đây khai thác vùng đất mới này đến nay suốt mấy thế kỷ
qua và ngay từ ban đầu đã mang sẵn trong mình cái vốn văn hóa ngàn đời của dân tộc. Họ
đã thuộc nằm lòng những điệu hát hò, những chuyện cổ tích, truyền thuyết, giai thoại… từ
miền Bắc và miền Trung mang vào bổ sung cho văn hóa địa phương không ngừng phát
triển. Văn hóa - nghệ thuật không thể tách rời văn hóa quần chúng và văn hóa chuyên
nghiệp, cũng như không thể tách rời nghệ thuật dân gian và nghệ thuật đỉnh cao. Văn học
- nghệ thuật bao gồm các loại hình như: dân ca, hò, sân khấu (đặc biệt đờn ca tài tử và cải
lương là loại hình nghệ thuật được nhiều người ưa thích nhất). Sân khấu, trước khi nói đến
các loại hình nghệ thuật sân khấu chính thống như hát bội, cải lương, kịch nói trên đất Cần
Thơ, không thể không nói tới nhạc lễ, nhạc tài tử là hai loại hình nghệ thuật tiền thân của
sân khấu hát bội và cải lương đã từng thịnh hành ở vùng đất trung tâm đồng bằng sông
Cửu Long này. Bên cạnh các loại hình văn hóa - nghệ thuật đặc sắc, còn có các loại hình
nghệ thuật như: Nhạc, múa, họa, nhiếp ảnh, điện ảnh, v.v… và các hoạt động văn hóa:
triển lãm, bảo tàng, thư viện, thông tin, tuyên truyền, báo chí… đã góp phần tạo nên giá trị
văn hoá chuẩn mực của người dân Cần Thơ. Giá trị văn hóa đó là: giá trị đạo đức, chính
trị, xã hội, thẩm mỹ… đáp ứng nhu cầu cơ bản của cả cộng đồng, được cộng đồng thừa
nhận như một lý tưởng, một khát vọng vươn tới. Lễ hội Cần Thơ có nền tảng chung là lễ
nghi nông nghiệp của cư dân trồng lúa nước. Các trò diễn xướng phổ biến trong lễ hội ở
Cần Thơ là hát bội (mang tính chính thống) và một số loại hình diễn xướng dân gian khác
như múa bóng rỗi, múa mâm vàng… gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Lễ hội
tiêu biểu của người Việt ở Cần Thơ là cúng đình, trong năm đình có 2 kỳ lễ hội lớn được

tình nghĩa, được biểu hiện qua các phương thức sinh hoạt: từ các công trình kiến trúc, các
tác phẩm văn học - nghệ thuật, cho đến các phong tục, tập quán, lễ hội và các sinh hoạt tôn
giáo. Điều đó được thể hiện ở chỗ, các loại hình và giá trị văn hóa Cần Thơ là phản ánh
đời sống thực tiễn sinh động của cư dân và vùng đất Cần Thơ; đến lượt mình, các loại
hình và các giá trị văn hóa Cần Thơ lại tác động trở lại, góp phần nâng cao nhận thức, tình
cảm của con người, định hướng các tầng lớp nhân dân thực hiện nếp sống văn minh, ý
thức trách nhiệm đối với xã hội, cộng đồng không ngừng được nâng lên, tình làng nghĩa
xóm được bồi đắp, có ý thức giúp đỡ nhau trong cuộc sống, hình thành nên tính cách
phóng khoáng, giản dị, “trọng nghĩa khinh tài”… của người Cần Thơ nói riêng và miền
Tây nói chung.
2.2. QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI
TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở CẦN THƠ
12
2.2.1. Sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển
văn hóa ở Cần Thơ
Hiện đại bắt nguồn từ truyền thống, lấy truyền thống làm nền tảng để chắt lọc,
kế thừa và phát triển của văn hóa ở Cần Thơ được thể hiện trên các mặt:
Trước hết là lòng yêu nước. Lòng yêu nước là truyền thống tốt đẹp của nhân dân cả
nước nói chung và Cần Thơ nói riêng. Nó được bắt nguồn từ truyền thống qua mấy ngàn
năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ
xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một
làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm
tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Lịch sử ta có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ
tinh thần yêu nước của dân ta"
9
. Rõ ràng là Hồ Chí Minh cũng chứng minh quan điểm:
Hiện đại bắt nguồn từ truyền thống trên cơ sở bảo tồn, kế thừa, phát huy truyền thống. Nó
bắt nguồn từ lịch sử Bà Trưng, Bà Triệu… đến Nguyền Huệ - Quang Trung. Rồi đến
những thắng lợi vang dội của các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Truyền thống

Thứ nhất, hành vi ứng xử văn hóa trước đây của người Cần Thơ nặng về lễ giáo
phong kiến, gia trưởng. Ngày nay, hành vi ứng xử truyền thống trước đây như tôn kính
đối với ông, bà, cha mẹ, lễ phép đối với mọi người, kính trên nhường dưới, giúp đỡ những
người hoạn nạn, có hoàn cảnh khó khăn vẫn được bảo tồn nhưng không còn gò bó, gượng
ép, vừa phù hợp với văn hóa, đạo đức truyền thống của Việt Nam, vừa phù hợp với chuẩn
mực của xã hội hiện đại. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận dân cư, nhất là giới trẻ có những
hành vi ứng xử thiếu văn hóa; thiếu ý chí phấn đấu, sống buông thả, sa đà vào các tệ nạn
xã hội. Vì vậy, việc giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cần được quan tâm đúng mức.
Thứ hai, nghệ thuật sân khấu cải lương. Cải lương hiện nay có sự kế thừa cải lương
trước đây, nó đổi mới, phong phú nhờ tính hiện đại. Trong quá trình phát triển, các bài bản
cải lương đã được bổ sung thêm từ nguồn dân ca, hò, lý Nam bộ; từ chỗ chỉ có ca cổ phát
triển lên thành tân cổ giao duyên. Và khi tiếp cận, giao lưu với sân khấu kịch hát Quảng
Đông (Trung Quốc) và tân nhạc của phương Tây, cải lương cũng đã chọn lọc một số bài
bản, dân tộc hóa để làm giàu thêm vốn âm nhạc sẵn có. Cùng lúc bổ sung thêm các bài
bản, dàn nhạc dân tộc của cải lương đã biết cách tiếp nhận các nhạc cụ hiện đại. Nội dung
từ tuồng tích đơn thuần, mang tính nhân bản và giá trị nhân đạo hàm chứa trong hình
tượng những nhân vật điển hình cần cù và giàu đức hy sinh, nhân ái, vị tha với bà con,
đồng bào và quyết liệt, khẳng khái, dũng mãnh trước kẻ thù giai cấp và kẻ thù dân tộc ;
ngày nay nội dung tuồng tích gắn với việc tuyên truyền, giáo dục đường lối, chủ trương
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đã làm cho sắc điệu cải lương thêm gần gũi với cuộc
sống đương đại. Chính việc đáp ứng kịp thời những yêu cầu mới phát sinh từ hiện thực
cuộc sống đã là động lực thúc đẩy việc phát triển, nâng cao trình độ sáng tạo của các nghệ
sĩ và đương nhiên, mặt bằng thẩm mỹ của nghệ thuật cải lương cũng ngày càng được nâng
cao hơn.
Thứ ba, đờn ca tài tử, ngay từ những ngày đầu mới hình thành, các buổi ca nhạc tài
tử thường được tổ chức trong những đám tiệc: cưới, giỗ, mừng thọ,… khi khuya về, vắng
khách, lúc công việc đám tiệc bộn bề tạm xong chờ sáng là đám đờn ca lại trỗi lên phục vụ
mọi người; hoặc sau những ngày lao động đồng áng mệt nhọc, tối lại, họ tụ họp nhau đờn
ca bên tách trà, chung rượu.
Nếu như trước đây, nội dung của bài ca tài tử được sáng tác nhằm động viên tinh

vai trò của văn hóa, làm cản trở sự phát triển của cái mới, cái hiện đại
Hiện nay, còn không ít cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên, trong đó có cả
cán bộ lãnh đạo của thành phố Cần Thơ chưa nhận thức đúng vai trò của văn hóa, chưa
thấy hết tầm quan trọng của sự thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại
trong quá trình phát triển văn hóa, cho rằng văn hóa là lĩnh vực đứng ngoài kinh tế, văn
hóa là lĩnh vực không sinh lợi; chưa thật sự coi trọng các giá trị văn hóa, chưa thấy tính
cấp bách của công tác văn hóa trong toàn bộ sự nghiệp đổi mới đất nước; công tác văn hóa
còn xếp vào vị trí thứ yếu và chưa thật sự gắn kết hữu cơ với các nhiệm vụ phát triển kinh
tế, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng, chỉnh đốn Đảng trên từng địa bàn. Từ đó làm
cản trở sự phát triển của cái mới, cái hiện đại, cản trở sự phát triển của thành phố, dẫn đến
sự phát triển của văn hóa chưa đồng bộ và tương xứng với tăng trưởng kinh tế. Vì vây,
Đảng bộ và nhân Cần Thơ cần đổi mới nhận thức về văn hóa, nhận thức đúng đắn vị trí,
vai trò, tầm quan trọng của văn hóa, sự thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện
đại trong quá trình phát triển văn hóa, đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Có như vậy
15
các cấp lãnh đạo của thành phố Cần Thơ mới đủ sức hoạch định đúng đắn đường lối chiến
lược phát triển thành phố, đề ra mục tiêu, phương hướng phát triển văn hóa phù hợp với
tình hình thực tế của địa phương. Đồng thời, phải biến những nhận thức đó thành hành
động cụ thể của các cấp lãnh đạo thành phố Cần Thơ, đưa nội dung văn hóa (phương
hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển văn hóa) vào nghị quyết các kỳ đại hội
đảng bộ các cấp; chương trình, kế hoạch phát triển văn hóa hàng năm; đầu tư đúng mức
cho phát triển văn hóa. Có như vậy, mới bảo đảm cho thành phố Cần Thơ phát triển nhanh
và bền vững.
Mâu thuẫn giữa bộ máy tổ chức, quản lý và các thiết chế văn hóa cũ với yêu cầu
phát triển nền văn hóa mới ở Cần Thơ
Một số mô hình, nội dung, phương thức hoạt động văn hóa và phong trào xây dựng
đời sống văn hóa truyền thống hàng chục năm qua ở Cần Thơ sẽ không còn phù hợp, đòi
hỏi phải có sự sáng tạo, chuyển đổi nhịp nhàng với trào lưu mới của một thành phố công
nghiệp, thương mại, dịch vụ tiến dần đến sự hội nhập vào nếp sống văn minh đô thị, đời
sống thị dân, công nhân, trí thức, doanh nhân. Nhưng khi người dân hòa nhịp được với đời

chay còn tồn tại khá nặng nề ở một số nơi. Trong lĩnh vực văn hóa tín ngưỡng - tôn giáo
cũng đang bị lợi dụng, làm cho nạn mê tín dị đoan tăng lên; niềm tin và đạo lý bị xói mòn.
Quan hệ gia đình vốn được đặc trưng bởi quan hệ tình cảm, trực tiếp nay đã và đang có xu
hướng trở thành quan hệ gián tiếp và lỏng lẻo hơn. Bên cạnh những tác động tích cực như
nâng cao đời sống sinh hoạt gia đình, giảm bớt gánh nặng cho người phụ nữ và tạo được
sự độc lập, tự chủ mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình thì sự eo hẹp về thời
gian, sự phát triển của các loại hình dịch vụ xã hội đang đe dọa những giá trị truyền thống
và ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của gia đình. Như vậy, rõ ràng quá trình công
nghiệp hóa - đô thị hóa không chỉ đơn thuần là quá trình tăng trưởng về lượng mà cả một
sự thay đổi về chất đang diễn ra và tác động trực tiếp và gián tiếp đến đời sống sinh hoạt
gia đình. Rõ ràng là Cần Thơ có rất nhiều mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong
lĩnh vực văn hóa cần giải quyết.
Kết luận chương 2
Cần Thơ là vùng đất mới so với các vùng khác, nhưng Cần Thơ đã trải qua một
thời kỳ tồn tại và phát triển đã để lại cho người dân ở đây những di sản văn hóa vô
cùng quý giá, với những đặc điểm cơ bản là văn hóa sông nước, văn minh miệt vườn;
văn hóa Cần Thơ thống nhất mà đa dạng; trong đức tính và văn hóa giao tiếp người
dân Cần Thơ có tính phóng khoáng, khoan dung, cộng đồng, chất phác, giản dị, thực
tế, trọng tình nghĩa. Trong quá trình phát triển văn hóa ở Cần Thơ luôn luôn có sự tác
động, thống nhất giữa truyền thống và hiện đại như một quy luật phát triển của văn
hóa. Đồng thời, văn hóa ở Cần Thơ cũng bộc lộ sự mâu thuẫn giữa truyền thống và
hiện đại, biểu hiện trên các mặt: sự tụt hậu về nhận thức của một bộ phận cán bộ,
đảng viên và nhân dân đối với vai trò của văn hóa, làm cản trở sự phát triển của cái
mới, cái hiện đại; các biểu hiện của phong tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời làm cản trở
sự phát triển xã hội mới; các biểu hiện về mặt sinh hoạt văn hóa tinh thần (lễ hội, tôn
giáo…) không chuyển đổi kịp yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần
khắc phục trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới ở Cần Thơ.
Chương 3
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA
Ở CẦN THƠ TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

hàng, bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, du lịch, thị trường bất động sản…Nhờ
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa mà đến nay nền kinh tế Cần Thơ có bước phát
triển vượt bậc: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 15% năm. Thu nhập bình quân đầu
người 36,82 triệu đồng (theo giá thực tế), tương đương 1.959 USD, tăng 1.575 USD so
với năm 2005
10
.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Cần Thơ với mục đích xây dựng Cần Thơ
thành thành phố trung tâm của vùng đồng bằng sông Cửu Long
Những năm gần đây, nhất là từ khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Cần
Thơ tăng tốc xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, với nhiều công trình, dự án chiến lược của
10
Trích Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lầ thứ XII, nhiệm kỳ 2005-2010.
18
thành phố và Trung ương đầu tư trên địa bàn đã đưa vào sử dụng như: sân bay Cần Thơ
(giai đoạn I), cầu Cần Thơ, Quốc lộ IA, Trung tâm điện lực Ô Môn, khu đô thị mới Nam
Cần thơ, xây dựng bến cảng nước sâu Cái Cui, khu công nghiệp Hưng Phú I, II, đại lộ
Nam sông Hậu dự án nâng cấp đô thị giai đoạn I…Một số công trình, dự án quan trọng
khác đang trong quá trình hoàn tất như: nâng cấp trường đại học Cần Thơ thành trường
đại học trọng điểm quốc gia; nâng cấp, xây dựng Trung tâm kỹ thuật - ứng dụng công
nghệ; nâng cấp, xây dựng phòng thí nghiệm công nghệ sinh học; nâng cấp, mở rộng cụm
cảng Cần Thơ; đầu tư xây dựng nhà máy lọc dầu công suất 02 triệu tấn/năm; dự án thoát
nước và xử lý nước thải với công nghệ tiên tiến để xử lý các chất thải đô thị (nước thải, rác
thải sinh hoạt, rác thải y tế…) và các chất thải công nghiệp để hạn chế đến mức thấp nhất
sự ô nhiễm môi trường, nhất là nguồn nước sông Hậu, bảo đảm mọi điều kiện để Cần Thơ
phát triển bền vững. Đây là tiền đề tốt đẹp cho tương lai, khẳng định tính chất “trung tâm
khu vực”.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng
tích cực
Cơ cấu kinh tế của Cần Thơ đã chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại

sống văn hóa tiếp tục phát triển và đi vào chiều sâu; đến năm 2010, toàn thành phố có
38/85 xã, phường, thị trấn và 88% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa
12
. Phong trào thể dục
thể thao quần chúng phát triển đều khắp trên địa bàn thành phố; tỷ lệ người tham gia tập
luyện thể thao thường xuyên đạt 24,2% dân số
13
. Đời sống kinh tế và dân trí phát triển
từng bước tạo công bằng và tiến bộ xã hội và là cơ sở vững chắc cho sự ổn định chính trị.
3.1.2. Thực trạng văn hóa ở Cần Thơ
Về trình độ dân trí, những năm gần đây, trình độ dân trí của người dân Cần Thơ
được nâng lên một bước đáng kể. Cần Thơ đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, phấn
đấu đến 2010 hoàn thành phổ cập trung học phổ thông. Chủ trương xã hội hoá giáo dục -
đào tạo đạt kết quả bước đầu, biểu hiện rõ nhất là trong vận động học sinh đến trường,
chống bỏ học, khuyến khích tài năng, hỗ trợ kinh phí cho học sinh có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn. Tuy nhiên, một bộ phận người dân Cần Thơ chưa nhận thức đúng vị trí, vai trò
của giáo dục, chưa quan tâm đến việc học của con em mình, từ đó dẫn đến mặt bằng dân
trí của thành phố còn thấp.
Xây dựng con người mới, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục
được khẳng định là nền tảng tư tưởng của toàn xã hội. Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự
hào dân tộc được phát huy. Ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, chủ động vươn lên lập
thân, lập nghiệp, phấn đấu đưa bản thân, quê hương Cần Thơ từng bước thoát khỏi nghèo
nàn, lạc hậu được phát triển trong đại đa số quần chúng. Tính năng động và tính tích cực
xã hội của các công dân, năng lực cá nhân được khuyến khích phát triển. Tinh thần đổi
mới, sáng tạo, dám nghĩ dám làm ngày càng thể hiện rõ hơn trong sản xuất, kinh doanh,
nhất là trong thế hệ trẻ. Tuy nhiên, việc giáo dục lý tưởng, lẽ sống cho thanh niên chưa
thường xuyên, hiệu quả hạn chế. Xu hướng thực dụng, chạy theo lối sống hưởng thụ có
chiều hướng gia tăng đang tác động tiêu cực đến đạo đức, lối sống của một bộ phận cán
bộ và nhân dân Cần Thơ.
Về văn hóa pháp luật, một điều không thể phủ nhận, ngày nay đời sống của các

trạng rác thải, khí thải và nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng. Sức khỏe của người dân,
đặc biệt là phụ nữ và trẻ em bị xâm hại. Các giải pháp bảo vệ môi trường an toàn, hiệu quả
đang được các ngành, các cấp của thành phố Cần Thơ tập trung hướng tới mục tiêu vì con
người, vì ngày mai. Tuy nhiên, chất lượng các thành phần môi trường nhất là môi trường
nước mặt chưa được cải thiện. Tiến độ triển khai các dự án đầu tư về môi trường nhất là
các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở kỹ thuật như thoát nước và xử lý nước thải, chưa đáp
ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Về môi trường văn hóa - xã hội, công tác xây dựng đời sống văn hóa ở Cần Thơ
tiếp tục được đẩy mạnh, gắn chặt với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa” theo hướng nâng cao chất lượng, đang ngày càng phát huy hiệu quả trong
việc góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần cho nhân dân. Tuy nhiên,
môi trường văn hóa của Cần Thơ ở nhiều nơi tiếp tục bị xuống cấp nghiêm trọng, nhất là
sự gia tăng của mại dâm, ma tuý, cờ bạc, tội phạm, tai nạn giao thông. Những tiêu cực
trong hoạt động âm nhạc, phim ảnh, mỹ thuật, kiến trúc, quảng cáo, thi người đẹp…gây
bức xúc trong dư luận.
Việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở Cần Thơ có
bước tiến đáng kể. Công tác kiểm kê di tích, sưu tầm văn hóa phi vật thể, xây dựng luật
pháp, thực hiện các chương trình chống xuống cấp di tích đã được các cơ quan trong
thành phố quan tâm thực hiện. Việc xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy các di sản
văn hóa đạt được bước tiến về cả quy mô, chất lượng và hiệu quả. Tuy nhiên, công tác
phát hiện, bảo tồn, phát huy và khai thác giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể
còn hạn chế do thiếu kinh phí và cơ chế quản lý phù hợp, phát sinh nhiều tiêu cực trong
trùng tu, tôn tạo. Một số di sản văn hóa vật thể tiếp tục bị xâm phạm, lấn chiếm, đánh cắp,
làm hư hại khá nặng nề, nhiều di sản không còn khả năng khôi phục.
21
3.2. QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở CẦN THƠ TRONG THỜI KỲ
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
3.2.1. Quan điểm và phương hướng chung trong việc phát triển văn hóa ở Cần
Thơ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, trí tuệ người Cần Thơ và đời sống văn hóa lành
mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các
đoàn thể nhân dân và trong từng cá nhân, gia đình, thôn xóm, đơn vị, tổ chức cơ sở ở Cần
Thơ. Thường xuyên nâng cao trình độ phổ cập văn hóa đáp ứng nhu cầu văn hóa ngày
càng cao và đa dạng của các tầng lớp nhân dân ở Cần Thơ; đi đôi với nhiệm vụ đào tạo,
14
. Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị “Về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước”.
22
bồi dưỡng các tài năng văn hóa, nhất là đội ngũ đạo diễn, nhà văn giỏi. Giáo dục truyền
thống cho thế hệ trẻ, trước hết phải coi trọng giáo dục ngay từ gia đình. (3) Trong phát
triển kinh tế - xã hội ở Cần Thơ, cần bảo đảm sự phát triển cân đối cả ba lĩnh vực: kinh tế,
xây dựng đảng và văn hóa; trong đó, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng
đảng là then chốt và văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, tạo nên sự phát triển đồng bộ
của các lĩnh vực này chính là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và
bền vững của thành phố Cần Thơ. Gắn chặt nhiệm vụ xây dựng văn hóa với nhiệm vụ xây
dựng, chỉnh đốn Đảng thông qua cuộc vận động lớn: Học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh, đặc biệt là tinh thần đoàn kết nội bộ, phải giữ gìn sự đoàn kết trong
Đảng như giữ gìn con người của mắt mình, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân,
mọi hiện tượng bè phái, cơ hội, làm mất đoàn kết trong đảng để Đảng bộ Cần Thơ thật sự
trong sạch, vững mạnh, là “đạo đức”, là “văn minh”. (4) Bảo tồn, phát huy giá trị các di
sản văn hóa, trong quá trình mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hóa, cùng
với việc tập trung xây dựng những giá trị mới của văn hóa đương đại ở Cần Thơ, cần tiếp
tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy các giá trị tốt đẹp của truyền thống văn
hóa dân tộc và tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, bắt kịp sự phát triển của
thời đại. Tiếp tục trùng tu, tôn tạo các di tích cách mạng, lịch sử, văn hóa, danh thắng
trọng điểm. Thường xuyên giáo dục, nâng cao ý nghĩa lịch sử và văn hóa truyền thống của
dân tộc và của quê hương đối với mọi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ ở Cần Thơ. (5) Phát
triển nền văn học, nghệ thuật Cần Thơ hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc, thể hiện chân thật
đời sống nhân dân, lịch sử vùng đất Cần Thơ và công cuộc đổi mới ở Cần Thơ với thái độ

tế, xã hội, Cần Thơ đặc biệt quan tâm đến phát triển văn hóa; trong đó, việc kết hợp biện
chứng giữa truyền thống và hiện đại luôn được chú trọng và được xem như một quy luật
phát triển của văn hóa, được biểu hiện trên hai luận điểm: hiện đại bắt nguồn từ truyền
thống, lấy truyền thống làm nền tảng để kế thừa, phát triển văn hóa và truyền thống văn
hóa được bảo tồn, phát triển nâng cao sinh động, phong phú qua tính hiện đại. Nhờ sự kết
hợp biện chứng giữa truyền thống và hiện đại mà văn hóa Cần Thơ đã đạt được những
thành tích rất đáng tự hào. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được, văn hóa
Cần Thơ còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém: sự tụt hậu về nhận thức của một bộ phận cán
bộ, đảng viên và nhân dân đối với vai trò của văn hóa, làm cản trở sự phát triển của cái
mới, cái hiện đại; các biểu hiện của phong tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời làm cản trở sự
phát triển xã hội mới; các biểu hiện về mặt sinh hoạt văn hóa tinh thần (lễ hội, tôn giáo…)
không chuyển đổi kịp yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để khắc phục
những yếu tố truyền thống văn hóa lạc hậu, cản trở sự phát triển văn hóa, Cần Thơ cần có
những định hướng tích cực: xây dựng nền văn hóa thể hiện đậm đà bản sắc của vùng đồng
bằng sông nước, văn minh miệt vườn, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng các
giá trị và sắc thái văn hóa riêng của dân tộc Kinh, Khmer, Hoa…, thấm nhuần sâu sắc tinh
thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ
đời sống xã hội, trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển. Và thực hiện đồng
bộ các giải pháp: tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ nâng cao dân trí, xây dựng tư tưởng,
đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội. Xây dựng đời sống văn hóa
mới, đi đôi với nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng các tài năng văn hóa, nhất là đội ngũ đạo
diễn, diễn viên giỏi; khuyến khích văn nghệ sĩ sáng tạo được nhiều công trình văn hoá
nghệ thuật tiêu biểu có giá trị cao.
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
24
1. Nguyễn Văn Dựa (2008), Văn hóa Cần Thơ và vai trò của nó đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội, Luận văn thạc sĩ Triết học.
2. PGS.TS. Trịnh Doãn Chính, Nguyễn Văn Dựa (2006), Một số vấn đề
chính sách dân tộc đối với đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long, Kỷ yếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status