Bài thi học phần Trần Thanh
Huyền
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa của mỗi dân tộc luôn là một dòng chảy không ngừng và ở
đó, quan hệ giữa truyền thống với hiện đại có vai trò rất quan trọng. Việc
giải quyết hài hòa quan hệ này sẽ vừa giúp xác định tính chất, diện mạo văn
hóa của mỗi dân tộc, vừa góp phần tạo ra động lực cho phát triển.
Trong kho tàng mỹ thuật cổ truyền Việt Nam, có một mảng tranh rất
quý giá còn lưu truyền đến ngày nay đó là tranh dân gian. Tranh được sản
xuất ở rất nhiều vùng khác nhau trên khắp đất nước ta từ Bắc đến Nam. Và
có rất nhiều làng tranh nổi tiếng Đông Hồ (Hà Bắc) Hàng Trống (Hà Nội),
Nam Hoành (Nghệ An), Sình (Huế), tranh Nam Bộ tranh của các dân tộc
thiểu số- lâu đời và nổi tiếng hơn cả là tranh Đông Hồ.
Tranh dân gian là một phần quan trọng trong toàn bộ nền văn hóa dân
tộc, ở đó thể hiện những nét độc đáo trong sinh hoạt, vui chơi, lễ hội và
truyền thống dân tộc Tranh có cội nguồn từ xa xưa và ra đời phục vụ cho
nhu cầu chơi tranh dịp tết đến xuân về và nhu cầu thờ cúng tổ tiên của đông
đảo quần chúng nhân dân trước kia cũng như hiện nay.
Với cuộc sống hiện đại hôm nay có thể nội dung tranh không còn phù
hợp. Song không vì thế tranh dân gian không còn tồn tại. Trái lại tranh vẫn
chinh phục được đông đảo quần chúng yêu nghệ thuật trong và ngoài nước
bởi yếu tố truyền thống và hiện đai thể hiện trong giá trị nội dung và giá trị
nghệ thuật của nó. Trên cơ sở sự hình thành, phát triển, giá trị nghệ thuật mà
tranh dân gian Đông Hồ có được tôi nghiên cứu đề tài “Yếu tố truyền thống
và hiện đại trong tranh”.
2. Mục đích
Chọn và nghiên cứu “Yếu tố truyền thống và hiện đại trong tranh dân
gian Đông Hồ” tôi mong muốn có thêm những kiến thức về nền văn hóa
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
CHƯƠNG 1: TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ
1.1 Tranh dân gian Việt nam
Tranh dân gian Việt Nam có lịch sử rất lâu đời, đã từng có thời gian
phát triển rất mạnh mẽ, ngày nay nó có phần giảm sút nhưng vẫn còn được
giữ gìn bảo tồn trong một số làng nghề và một số gia đình làm tranh.Tranh
được sáng tạo nhờ trí tuệ của tạp thể, của nhân dân và gồm nhiều thể loại.
Về cơ bản có hai loại tranh chính là tranh Tết và tranh thờ. Sở dĩ tranh dân
gian Việt Nam xuất hiện rất sớm là bởi vì nó với hai loại chính là tranh tết
và tranh thờ xuất hiện gần như cựng lỳc với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Việt và việc thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên.
Vào thời nhà Lý (thế kỷ 12) đã bắt đầu xuất hiện những gia đình hay
thậm chí là cả một làng chuyên làm khắc ván, làm tranh. Đến cuối đời nhà
Trần nhiều nơi đã in được tiền giấy (là một cách thể hiện của tranh dân
gian) và sang đời nhà Hồ tiền giấy đã được phát triển mạnh.
Thời thời kỳ Lê sơ việc in khắc tranh đã được tiếp thu thêm kỹ thuật
khắc ván in của Trung Quốc và sau khi vào Việt Nam đã được cải tiến thêm
cho phù hợp. Cùng với đó là sự phõn hoỏ của tranh dân gian xuất hiện ngày
càng rõ nét.
Đến đời nhà Mạc (thế kỷ 16) một thay đổi đặc biệt đã xảy ra, tranh
dân gian không còn là sản phẩm riêng của những người nông dân nghèo khó
nữa, mà đã được cả tầng lớp quý tộc ở kinh thành Thăng Long ưa thích,
thường sử dụng vào dịp Tết Nguyên Đán.
Sang thế kỷ 18 - 19, tranh dân gian đã dần đi vào giai đoạn ổn định và
phát triển mạnh mẽ. Nghề làm tranh đã lan truyền rộng rãi hầu khắp cả
nước. Cùng với đó là sự phân hóa, những dòng tranh mới xuất hiện, được
gọi tên theo địa danh nơi sản xuất, đó cú những phong cách riêng của mỡnh.
Nột riờng của mỗi dòng tranh được thể hiện ngay từ quy trình làm tranh
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
3
truyền thống văn hóa có lịch có lề, không gian làng quê với ao tắm mát, rồi
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
4
Bài thi học phần Trần Thanh
Huyền
làng nghề làm tranh. Đây là một ngôi làng truyền thống của người Việt ở vùng
đồng bằng sông Hồng.Ở Đông Hồ ngày nay vẫn còn một số nghệ nhân duy trì
nghề làm tranh dân gian của cha ông để lại. Tiêu biểu là nghệ nhân Nguyễn
Đăng Chế. Theo gia phả của dòng họ Nguyễn đăng, đến ông Chế là đời thứ 20
và là dòng họ làm tranh lớn nhất ở Đông Hồ. Điều này có lẽ cũng là một trong
những cơ sở xác định thời điểm ra đời của tranh dân gian Đông Hồ.
1.2.2. Tranh Đông Hồ
Vào dịp tết Nguyên đán, theo phong tục cổ, những tờ tranh in màu
sắc tươi rói lại được bày bán khắp nơi từ nông thôn đến thành thị làm không
khớ đún xuõn chờ tết càng thêm nao nức.
Tranh dân gian, tranh tết truyền từ đời này sang đời khác bằng kỹ thuật
in bản gỗ. Tranh khắc gỗ dân gian nổi tiếng cú: Đụng Hồ (Hà Bắc) Hàng
Trống (Hà Nội), Nam Hoành (Nghệ An), Sình (Huế), tranh Nam Bộ tranh của
các dân tộc thiểu số - lâu đời và nổi tiếng hơn cả là tranh Đông Hồ.
Tranh Đông Hồ là thể loại tranh khắc gỗ và được in hoàn toàn. Tranh
Đông Hồ còn có tên gọi khác là tranh Điệp. Sở dĩ có tên gọi đó là vì nền
tranh được quét bột điệp và cũng bởi sự đặc biệt của tranh Đông hồ chính là
nền tranh. Bột điệp được chế ra từ vỏ con sò, con diệp nung nóng rồi nghiền
nhỏ ta sẽ có một loại bột màu trắng , óng ánh. Sau đó trộn bột điệp với hồ
nếp và quét lên giấy vẽ bằng một chiếc chổi lá thông sẽ để lại trên nền giấy
những vệt màu không đều. thậm chí có nhiều chỗ giấy không có màu. Điều
này đã tạo một nền tranh rất đặc biệt. Để nền tranh có màu sắc phong phú,
các nghệ nhân đã quét lên nền điệp một lớp màu mỏng. Nền tranh Đông Hồ
thường có ba màu: vàng chanh, trắng điệp và đỏ cam.
đó được phát triển trở lại. Một trong những nguyên nhân làm cho tranh dân
gian có được sức sống mạnh mẽ như vậy chính là bởi giá trị nghệ thuật của
dòng tranh này. Một số tác phẩm là một sự sắp xếp bố cục, đường nét, hình
khối. Các nghệ nhân đã tìm được cách bộc lộ ý tưởng qua các đề tài mang
tính dân gian sâu sắc.
Đối với tranh Đông Hồ, các nghệ nhân không diễn tả chiều sâu không
gian. Mọi hình tượng được in, vẽ trên nền tranh một màu. Mặc dù vậy khi
xem tranh chúng ta đều cảm nhận được không gian trong tranh. Không gian
đó được tạo nên bởi các lớp, các tuyến nhân vật trước sau, bởi cảnh vật
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
6
Bài thi học phần Trần Thanh
Huyền
dựng lên một cách ước lệ như trong tranh “Đánh ghen”: các nhân vật được
đặt ở giữa, trước là chậu hoa, sau là tường, là cây Tùng, cho ta cảm nhận
được không gian mà các nhân vật hoạt động là trong sân một gia đình khá
giả thời đó. Không gian trong tranh là không gian ước lệ. Trong tranh “Đấu
vật” ngoài hình tượng của 4 đôi đô vật được các tác giả sắp xếp cân đối, trên
tranh còn 2 mảng đậm treo ở phía trên. Các nghệ nhân đã thổi hồn cho các
nhân vật trong tranh có sự sống. Các hình tượng trong tranh được sắp xếp
theo nhiều bố cục rất đặc biệt. Có tranh tuân theo bố cục trong các hình tam
giác như tranh “Hứng dừa”, “Đấu vật”…, hình chữ nhật như tranh “Gà đàn,
lợn đàn”…, hình tròn như trong tranh “Đánh ghen” hình trứng như tranh
“Vinh hoa, phú quý, bộ ụm khúc”… Ngoài ra một cách bố cục khác là theo
tầng lớp. Các nhân vật được dàn trên mặt tranh khụng hỡnh nào bị che
khuất. Dù bố cục hình theo kiểu gỡ, cỏc nghệ nhân dân gian đều có cách sắp
xếp các mảng màu theo những đường lượn khác nhau rất phong phú. Vì vậy
tranh dân gian dù chỉ vẽ với ba bốn màu nhất định không pha trộn nhưng
những đường lượn tạo vẻ chuyển động của từng màu trong tranh đã làm cho
mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, thâu gồm cái đồng dạng và cái dị
biệt, kết nạp cái cũ và cái mới, để có thể thật là "hiện đại" đầy sáng tạo cho
tương lai.
2.1 Yếu tố truyền thống trong tranh dân gian Đông Hồ
Tranh dân gian được sản xuất ở rất nhiều vùng khác nhau trên khắp
đất nước ta suốt từ Bắc đến Nam chính vì thế nên tranh rất đa dạng về nội
dung cũng như cách thể hiện nhưng dù ở đâu, tranh dân gian cũng thể hiện
trí tuệ tạo hình của một tập thể một dòng họ, một làng xã, một vùng miền.
Vì vậy dù ở đâu nội dung tranh cũng nói lên những điều người dân khao
khát, mong chờ, mơ ước, thỏa mãn nhu cầu của họ trong đời sống thực tế
cũng như đời sống tinh thần. Tranh dân gian nói chung và tranh Đông Hồ
nói riêng đều có một điểm chung đó là cách biểu hiện dễ hiểu, dễ đi vào
lòng người thưởng thức.Với cuộc sống hiện đại có thể nội dung tranh không
còn phù hợp. Xong không vì thế tranh dân gian không thể tồn tại mà ngược
lại tranh còn càng ngày càng giá trị cao trong cuộc sống tinh thần của người
dân Việt và tranh vẫn thể hiện chất truyền thống vốn có của nó. Tranh dân
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
8
Bài thi học phần Trần Thanh
Huyền
gian Đông Hồ đã chinh phục được đông đảo công chúng yêu nghệ thuật
không những trong nước mà cả khách nước ngoài bởi tính truyền thống của
nó. Sức sống của tranh dân gian thật mãnh liệt vượt qua cả thời gian hoàn
cảnh xã hội đến với chúng ta. Giá trị truyền thống ấy trong tranh thể hiện
qua những yếu tố nào?
Về nội dung tranh Đông Hồ mộc mạc mang ý nghĩa tốt lành, giáo dục
lòng yêu nước, đề cao các anh hùng kiệt xuất đã có công dựng nước và giữ
nước như mảng tranh lịch sử; đề cao lòng nhân ái hướng thiện yêu cái tốt
ghét cái xấu.
nuôi con (đang ngậm mồi) vừa sẵn sàng dang rộng cánh để bảo vệ đàn con,
đôi mắt long lanh như cảnh giác để phát hiện kẻ thù ở bất cứ đâu xông tới,
dáng điệu vừa uy nghi vừa hiền từ. Mười chú gà nhóc, mỗi con một dáng vẻ
không trùng lặp, tạo nên sự nhịp nhàng uyển chuyển trông rất ngộ nghĩnh,
sống động và vui mắt. Một bố cục chặt, các khoảng trống hợp lý, không
thừa một nét, không thiếu một đường, nó được chau chuốt kỹ lưỡng có chắt
lọc, phối hợp với lối cách điệu cao như thực như hư, nét to đi với nét mảnh
và đan xen những họa tiết trang trí, đều có dụng ý.
2.1.3. Đường nét
Đường nét tranh dân gian Đông Hồ được khắc họa một cách chắt lọc
về đường nét và mang yếu tố trang trí cao; tỉ lệ hình ước lệ theo một sự hợp
lý của bản năng nghệ thuật và cảm thức trong sáng, hồn hậu, dí dỏm… Ví
dụ như trong tác phẩm “Em bé ôm gà và ôm vịt” ta thấy hai em đều mũm
mĩm, xinh tươi giống nhau như đúc, nhưng đó lại là một em bé trai và một
em bé gỏi. Hóy thử so sánh mà xem, cũng áo cộc đeo vòng cổ và vòng tay,
chỉ khác nhau chỏm tóc, tác giả đã quan sát rất kỹ. hoặc tranh “Hứng dừa”
chủ đề của tranh ở trước mắt, nhưng ít ai để ý đó là tàu dừa cong xuống, kết
hợp với tàu dừa đưa ngang tạo thành hình tam giác sâu hun hút.
2.1.4. Màu sắc
Cái độc bản của màu sắc tranh dân gian đông hồ là nghệ nhân đã biết
sử dụng và khai thác kho nguyên liệu vô tận từ thiên nhiên, vừa dễ kiếm vừa
rẻ tiền. Có một sự lao động thong minh sang tạo của rất nhiều thế hệ thì mới
có một bảng hòa sắc nhuần nhuyễn như thế. Của kho thì vô tận nhưng đâu
dễ chiều lòng người, hơn nữa lại là người làm nghệ thuật. Công việc tưởng
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
10
Bài thi học phần Trần Thanh
Huyền
như đơn giản nhưng quả công phu. Loại màu cổ xưa nhất, màu cổ truyền
11
Bài thi học phần Trần Thanh
Huyền
2.2. Yếu tố hiện đại được thể hiện trong tranh Đông Hồ
Ngoài giá trị truyền thống thể hiện qua chất liệu, màu sắc, bố cục…
thỡ tranh dân gian Đông Hồ còn mang trong nó yếu tố hiện đại.
Tranh Đông Hồ truyền thống là những tranh tết, phục vụ nhu cầu
thẩm mỹ của nhân dân lao động, trước hết là nông dân, để trang trí nhà cửa
đón mừng năm mới. Tranh Đông Hồ đã mang đến cho mọi người ánh sang
và niềm vui. Những sắc màu tươi ấm làm rạng rỡ không gian, gợi lên những
hình ảnh quen thân, làm dấy lên những hy vọng hạnh phúc. Tất cả những
sắc màu và hình ảnh của Đông Hồ đều phù hợp với những đồ dùng của gia
đình bình thường. Về đề tài, tranh tết của Đông Hồ có nhiều loại. Trước hết
là những tranh mang niềm hy vọng về cuộc sống hạnh phúc. Đó là ước mơ
bao đời nay của người dân Việt Nam. Những tờ tranh “Ông tướng canh
cửa” là để tà ma đừng bén mảng đến (cũng như truyện cây nêu và các hình
vẽ cung, tên ở sõn…) mà người xưa đã tin một một cách ngây thơ. Tờ tranh
“Đại cỏt” lấy hình ảnh con gà trống là vầng dương xua đuổi đêm tối cựng
cỏc tà thần, gợi niềm tin vào cái đẹp tổng hợp của “ngũ đức”: văn – vũ –
nhân – tín – dũng. Các tờ tiến tài và tiến lộc là hy vọng về một cuộc sống đỡ
vất vả. Những tranh gà đàn, lợn đàn là ước muốn về chăn nuôi vừa là tổ ấm
gia đình tràn đầy hạnh phúc. Những cảnh đánh vật rước trống, múa sư tử…
trờn cỏc hội xuân đến cảnh hứng dừa đều phản ánh một cách hồn nhiên về
cuộc sống tươi vui và về hạnh phúc lứa đôi.
Tranh tết Đông Hồ đã vạch ra và phơi bày cho mọi người thấy một bộ
mặt xấu xa của tầng lớp trên. Các tranh “trạng chuột vinh quy” là sự cấu xé
quyết liệt của bọn thống trị như chuột với mèo. Đại diện cho các tầng lớp
trong xa hội.
Tranh “Trường học cúc” đã chế giễu trí thức của xã hội xưa như ếch
ngồi đáy giếng, chẳng biết gì cả, thế mà lại vênh váo lên mặt tài giỏi. Tranh
sang tác tranh mới theo đề tài thuộc về cuộc sống hôm nay. Lại có những
họa sĩ học cách nhìn, cách nghĩ và quan niệm tạo hình của nghệ nhân làng
Hồ, để sáng tác những tranh dân tộc – hiện đại. Cái “phân lưu” của Đông
Hồ ở Hà Nội đã làm giàu thêm vốn văn hóa của thủ đô.
2.3. Thực trạng tranh Đông Hồ ngày nay
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
13
Bài thi học phần Trần Thanh
Huyền
Tranh dân gian Việt đã trở thành một ngôn ngữ nghệ thuật có giá trị
trường tồn, góp phần phát triển văn hoá nghệ thuật dân tộc và là niềm tự hào
của đất nước. Thế nhưng, cỏc dũng tranh ấy hiện nay đang dần mai một và mất
hẳn. Có lẽ, vỡ khú đáp ứng được thị hiếu của công chúng hiện đại cũng như
không theo kịp được với sự phát triển thần tốc của văn hoá, kinh tế, xã hội…
Thực trạng của làng tranh bây giờ ra sao? Cũng khó tìm ra được lời
giải đáp cụ thể. Nhu cầu vài năm gần đây thay đổi, cứ mạnh ai nấy làm.
Người làng tranh bây giờ nảy sinh tâm lý: ai đặt thì làm, nhiều khi với số
lượng tranh quỏ ớt cũng không muốn làm. Thi thoảng lắm cũng có nơi về
làng tranh đặt vài nghìn tờ, không sản xuất được thường xuyên nên cũng
khó tổ chức sản xuất tranh được đều đặn trong năm, ảnh hưởng đến thu
nhập của người làm tranh.
Dẫu người làng tranh có làm tranh đi nữa cũng phải chạy theo thị
trường, nghĩa là khi pha màu chủ yếu là bột goỏt để giá thành được rẻ Còn
đâu như thủa nào tranh làng Hồ giữ nguyên được sắc màu tươi tắn, nhuần
nhụy của các màu lấy từ cây vườn, nội cỏ. Ngoài in tranh bằng màu tự tạo
cú thờm loại tô màu phẩm, một hướng đi mới bắt đầu xuất hiện, kích thước
tranh cũng rộng rãi hơn, tạo đà cho tranh treo dọc phát triển, cốt để hạ giá
thành bán tranh được rẻ. Một số người chạy theo lợi nhuận mua sách báo cũ
về in tranh, tô màu lòe loẹt ảnh hưởng không nhỏ đến thẩm mỹ của người
C. KấT LUẬN
Tranh dân gian nói chung và tranh Đông Hồ nói riêng có vẻ đẹp của
hình thức nghệ thuật , màu sắc tươi tắn, bố cục cô đọng dễ hiểu. Hình thức
đó mang đậm yếu tố truyờn thống và hiện đai, chuyển tải nhiều nội dung
chắt lọc từ cuộc sống hiện thực, từ mơ ước của con người về hạnh phúc đầm
ấm trong gia đình, sự bình yên thịnh trị của xã hội. Cách tạo hình hồn nhiên,
trong sáng diễn tả cái hồn của dân tộc, tranh dân gian có sức hấp dẫn đặc
biệt và mang tính giáo dục cao. Điều này tạo nên sức sống mãnh liệt cho
dòng tranh này, để lại trong kho tàng Mỹ thuật Việt Nam những tác phẩm
vô cùng quý giá. Không những thế nó còn là những bài học cho các thế hệ
sau về mối quan hệ giữa nét và mảng, hình và màu, mảng trống và mảng
đặc trong tranh. Cách tạo hình ước lệ trong tranh đã gợi nguồn cảm hứng
sang tạo cho các nghệ sĩ tạo hình để sáng tạo ra những tác phẩm mỹ thuật
vừa hiện đại vừa mang tính truyền thống, đưa mỹ thuật việt Nam hòa nhập
với Mỹ thuật thế giới mà vẫn giữ được bản sắc riêng.
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
16
Bài thi học phần Trần Thanh
Huyền
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA
Vinh hoa Phú quý
Đám cưới chuột
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
17
Bài thi học phần Trần Thanh
Huyền
Hứng dừa
MỤC LỤC
Trang
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
22