luận văn đại học sư phạm Tính minh triết trong tranh dân gian Đông Hồ Việt Nam - Pdf 26

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Sắc màu mùa xuân thường gợi cho những người nghệ sĩ những cảm hứng bất
tận. Còng nh những người nghệ sĩ, những người hoạ sĩ cũng vậy. Từ xưa các nghệ
nhân dân gian đã biết làm đẹp cuộc sống bằng những bức tranh xuân mang đầy
những lời chúc tốt đẹp, phản ánh cuộc sống một cách chân thực, cụ thể.
Mét trong những dòng tranh dân gian Êy, tranh Đông Hồ có sức sống lâu
bền và có sù cuốn hót đặc biệt với nhiều thế hệ người Việt Nam cũng như du
khách nước ngoài cũng bởi những đề tài tranh phản ánh đậm chất cuộc sống méc
mạc, giản dị, gần gũi gắn liền với văn hoá phương Đông. Một vài tờ tranh bên
mâm ngò quả ngày tết, đó là thãi quen, là tâm linh, tín ngưỡng gắn kết trong tư
duy người Việt Nam.
Tuy nhiên điều đáng buồn giê đây đÕn với chợ tranh Đông Hồ bây giê,
người ta không còn được thấy cảnh tấp nập bán mua, cũng không còn cảnh
người người, nhà nhà ưa chuộng tranh Đông Hồ như xưa nữa. Các thế hệ sau
còng Ýt muốn học và theo nghề tranh truyền thống của cha ông vì quá vất mà Ýt
lợi nhuận. Nhưng Tranh dân gian Đông hồ đã trở thành nét đẹp văn hoá truyền
thống để người đời lưu giữ lại và giá trị nghệ thuật của nó vẫn còn sống mãi
trong lòng người dân Việt Nam bởi giá trị “ minh triết” qua từng tác phẩm.
Mỗi một tác phẩm tranh dân gian Đông Hồ là sự kết hợp thành công các yếu tố
tạo hình, không gian và đường nét chính vì thế tôi đã chọn “Tính minh triết
trong tranh dân gian Đông Hồ Việt Nam” làm đề tài tiểu luận của mình. Với
đề tài này, tôi muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình để giữ gìn, phát huy,
làm giàu thêm cho nền văn hoá đậm đà bản sắc dân téc Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
2.1.Mục đích
Nhằm làm nổi bật tính minh triết trong tranh Dân gian Đông Hồ Việt
Nam.
Lê Tiến Quang - K55A - Sư phạm Mỹ thuật
1
Nhằm trang bị những kiến thức phục vô cho công tác giảng dạy sau này

2
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I
VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ
1.1. Lịch sử phát triển của tranh Đông Hồ
Theo sử sách người Việt Nam đã biết làm một thứ giấy gọi là mật hương
chỉ vào thế kỉ thứ III. Nghề khắc ván ở đây cũng có từ thế kỉ thứ XI, XII. Sách
thuyền uyển tập anh nói là tổ tiên nhà sư Tín Học, cuối thể kỉ XII đã làm nghề
khắc ván. Năm 1299 nhà Trần đã cho in 2 bộ khắc ván để ban bè.
Vào thế kỉ VXI tranh Đông Hồ xuất hiện nhưng không ai thống kê hết có
bao nhiêu mẫu tranh.
Trước kia tranh được bán chủ yếu phục vụ cho dịp Tết nguyên đán, người
nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới.
Tranh Đông Hồ xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành,
Tỉnh Bắc Ninh). Theo mét số thư tịch cũ làng Đông Hồ xưa nằm trong vùng đất
cổ luy lâu, rất nghèo và rất Ýt người hồi đó. Cả làng có chõng 15 hộ với khoảng
50 xuất đinh, tất cả đều nhà tranh vách đất. Các bô lão trong làng gọi tên là làng
Mái, là ý mong có được sự sinh sôi, hưng vượng. Vậy nhưng, còng theo lịch sử
cũ, sang thế kỉ XIV, dân các xứ Thanh Ho¸, Ninh Bình, Nam Hà, Hải Hưng đến
làng Mái, thấy đất bãi rộng, đã chọn đây làm nơi ngụ cư. Làng đông dần lên, vì
thế các cụ ghép chữ đông vào tên làng, vậy mà thành làng Đông Mái bởi làng
nghề tranh dùng đến hồ, là thứ keo màu, đồng thời là chất định màu sắc, nên các
cụ một lần nữa đổi tên làng thành Đông Hồ.
Từ thể kỉ XIX đến 1944 là thời kì cực thịnh của dòng tranh Đông Hồ. Lóc
Êy trong có 17 dòng họ thì tất cả đều làm tranh. Đến hẹn lại lên cứ khoảng tháng
7, tháng 8 hàng năm là cả làng lại tất bật chuẩn bị cho mùa tranh tết. Khắp làng
rực rỡ sắc màu của giấy điệp, không một mảnh đất trống nào không được người
dân làng Hồ tận dụng để phơi giấy: Từ sân nhà, sân đình, ven các ngõ xóm,
Lê Tiến Quang - K55A - Sư phạm Mỹ thuật
3

được thành lập. Đây cũng là thời điểm tranh Đông Hồ được xuất khẩu sang các
nước xã hội chủ nghĩa đạt kết quả cao.
Năm 1985 đến 1990 do tác động của nền kinh tế thị trường, nhu cầu thẩm
mỹ của người dân thay đổi, việc xuất khẩu tranh gặp nhiều khó khăn. Người dân
làng tranh chuyển dần sang làm hàng mã. Nghề tranh tồn tại yếu ớt chỉ còn lẻ tẻ
một vài gia đình bám trụ lấy nghề tranh như: gia đình ông Nguyễn Đăng Chế,
gia đình ông Nguyễn Hữu Sam… Đến nay nhờ công gìn giữ của các nghệ nhân
Êy mà tranh dân gian này được khôi phục lại. Cùng với nhiều sáng tạo mới mẻ
tranh dân gian Đông Hồ lại chiếm đựơc tình cảm của nhiều du khách trong và
ngoài nước mỗi khi đặt chân lên mảnh đất vạn vật hữu tình này.
Tuy nhiên điều đáng buồn là giê đây tranh Đông Hồ không còn mang tính
“thuần Việt” nh thời xưa mà đang dần bị thương mại hoá. Theo đánh giá của
một số hoạ sĩ tranh Đông Hồ in ở thời điểm hiện tại thường không có màu sắc
thắm như tranh cổ, nguyên nhân là người ta trộn màu trắng và điệp, quét giấy để
bớt lượng điệp khiến giấy bớt độ óng ánh và trở nên “thường”, mầu sắc sử dụng
cũng chuyển sang dùng mầu công nghiệp. Các bản khác mới có bản không được
tinh tế nh bản cổ.
Một điểm đáng lưu ý nữa là các bản khắc đã đục bỏ phần chữ Hán (hoặc
chữ Nôm) bên cạnh phần hình của tranh, khiến tranh Ýt nhiều què cụt về ý
nghĩa. Dự đoán nguyên nhân dẫn tới tình trạng này là: Có một thời chữ Hán và
Lê Tiến Quang - K55A - Sư phạm Mỹ thuật
5
chữ Nôm bị coi là phong kiến lạc hậu liệt vào danh mục bài xích nên thợ in đục
bỏ đi. Cũng do không đọc và hiểu được nên các ván khắc truyền laị “Tam sao
thất bản”, đến mức còn lại các kí tự nhưng không đọc được ra chữ gì.
Đến với chợ Đông Hồ bây giê người ta không còn được thấy cảnh tấp nập
mua bán, cũng không còn cảnh người người nhà nhà ưa chuộng tranh Đông Hồ
nh ngày xưa nữa. Các thế hệ sau còng Ýt học và không muốn theo nghề truyền
thống của cha ông vì quá vất vả mà lại Ýt lợi nhuận. Du khách đến làng tranh
bây giê vẫn thấy cảnh phơi giấy nhưng đó lại là giấy để lầm hàng mã chứ không

đốt vừa độ, nghiền nhỏ, lúc in lấy ra đun sôi kĩ với hồ nếp sẽ tạo được màu đen
mượt mà.
Màu vàng: màu vàng được làm từ hoa Hoè hay hạt Dành Dành. Hoa Hoè
hay hạt Dành Dành rang lên sau đó cho vào cối giã nhá, cho vào nồi nấu kĩ cho
tới khi nước trong bã hoa Hoè lắng xuống đáy thì đổ ra và lọc bằng dây lượt hay
dây ra, lúc dùng pha với hồ nếp quấy kĩ.
Màu đỏ: màu đỏ có hai loại màu đỏ, đó là son và đỏ vang, đỏ son được làm
từ đất sỏi lấy ở vùng đất đồi Hà Bắc, đem về giã nhỏ tán mịn, ngâm rồi lọc lấy
màu mượt và mịn nhất, còn đỏ vang lấy từ cây gỗ vang, gỗ vang được chẻ cho
đun sôi cho tới khi màu của gỗ thôi ra và sau đó đem cô đặc thành một màu đỏ
sẫm.
Màu xanh: Màu xanh có màu xanh chàm và xanh lá cây, màu xanh chàm
lấy ở lá chàm tươi đem về ngâm nước vôi cho vữa nát sau đó đánh tơi cho nổi
bọt gạn cho hết nước rồi cô đọng lại thành màu.
Màu xanh lá cây ở thành phèn (phèn xanh) hay gỉ đồng.
Lê Tiến Quang - K55A - Sư phạm Mỹ thuật
7
Màu trắng: Màu trắng được làm từ vỏ con Điệp một loại sinh vật giống
loài Trai sống ở biển, Điệp đem về đổ ra sân phơi mưa nắng cho vỏ Điệp mềm
ra sau đó cho vào cối đá giã nhỏ, giã đến khi nào Điệp vụn thành những hạt nhỏ
như hạt vừng là được, khi đó điệp sẽ trở thành màu trắng óng ánh trông rất đẹp.
Ván khắc màu tranh Đông Hồ
Trên cơ sở những màu sắc cơ bản đó người dân đã tạo thêm nhiều màu
khác nhau, từ việc trộn lẫn các màu. Để hoàn thành một sản phẩm, không kể
khâu khắc tranh trên bản gỗ, có sẵn giấy và có màu, người làm tranh phải rất
công phu, cẩn thận trong từng giai đoạn: sơn hồ lên giấy, phơi giấy cho khô hồ,
quết điệp rồi lại phơi giấy cho khô líp điệp, khi in tranh phải in tông màu lần
lượt, nếu có năm màu thì năm lần in, mỗi lần in là một lần phơi… Cứ thế dưới
ánh nắng mặt trời lấp lánh từng hình ảnh, đường nét của cảnh sắc thiên nhiên,
nếp sinh hoạt của người dân, những hình ảnh của cuộc sống thường ngày… như

đàn (bẩy bức tranh Gà)…
Lê Tiến Quang - K55A - Sư phạm Mỹ thuật
10

Vinh hoa Phó quý
Gà Đại Cát
Lê Tiến Quang - K55A - Sư phạm Mỹ thuật
11
1.3.4. Tranh sinh hoạt
Nội dung phản ánh cuộc sống sinh hoạt của người dân Việt Nam. Ví Dô:
Đánh ghen, Chăn trâu thổi sáo, Nhà nông, Đám cưới chuột, Hứng dừa với các
tranh có phần chữ Hán đi kèm thì ý nghĩa sáng tỏ hơn bao giê hết.

Chọi cá
Chọi chim
Lê Tiến Quang - K55A - Sư phạm Mỹ thuật
12

Chăn trâu thổi sáo Múa rồng
1.3.5. Truyện tranh
Tranh Đông Hồ truyện tranh với những hình ảnh về các câu truyện( Cổ
tích, thần thoại…) của dân téc Việt Nam. Ví dô hình ảnh Thánh Gióng, Thạch
Sanh, Truyện Kiều…

Thuý Kiều thanh minh Thạch Sanh
Lê Tiến Quang - K55A - Sư phạm Mỹ thuật
13
Thánh Gióng
Lê Tiến Quang - K55A - Sư phạm Mỹ thuật
14

15
Những quan điểm đó có nhiều nét độc đáo, mang tính dân téc bới lối tư duy
hình tượng cũng như tư duy sáng tạo xuất phát từ hiện thực lao động của quần
chúng nhân dân qua bàn tay của các nghệ nhân làng Hồ thì tranh lại được thể
hiện hồn nhiên, giản dị và đượm tính dân téc chứ không trau chuốt như tranh
Tàu. ở tranh Đông Hồ nét vẽ thường thô sơ, giản dị, được in hàng loạt từ những
bản khắc gỗ theo lối thủ công, màu sắc tươi sáng, lòe loẹt, nguyên thủy gồm đủ
xanh, đỏ, vàng, đen, tím không pha trộn cầu kì.
Trong tranh Đông Hồ ta thấy rõ quan điểm sáng tác thông qua đời sống lao
động cho nên hình tượng của các nghệ nhân rất gần gũi với nhân dân, đó là các
con gà, con trâu, con lợn còng sinh hoạt cũng là đề tài quên thuộc: như đấu
vật, hứng dừa, đánh ghen làm cho tranh Đông Hồ mang tính hiện thực cao, cho
nên các hình tượng dược diễn tả rất sinh động và điển hình.
Trong tranh Đông Hồ ta thấy rõ những quan điểm sáng tác của nghệ nhân
đó là dùng "hình" cái vỏ bề ngoài hữu hạn để phản ánh cái hồn khả biến và vô
hạn. Muốn thể hiện "cái thần" thì cái hồn phải được mô tả đối chiếu. Và cuối
cùng là cả "thần" lẫn "hình" đều được thể hiện một cách đầy đủ, toàn diện và
toàn mỹ.
Quan điểm sáng tác của các nghệ nhân còn thể hiện một cách rõ ràng trong
tạo hình đó là những yếu tố mang tính "tượng trưng" trong tranh vì vậy hình
tượng cần đơn giản, điển hình, cách điệu hoá cao.
Sự tiếp thu kế thừa trong tranh Đông Hồ với tranh Trung quốc ta thấy trong
tranh Rước trống người nào trong tranh cũng bó tói củ hành? Điều này làm ta
nghĩ đến một quan điểm xưa, người Việt Nam giống người Trung Hoa là thân
thể do cha mẹ sinh ra rất quý, không nên cắt bỏ, dù chỉ sợi tóc. Tại đây cũng có
quan niệm cũ ta và Tàu khác nhau: Trung Hoa thì kết tóc đuôi sam còn người
Việt thì không làm nh vậy mà lại búi gọn lên nh mét củ hành ở sau gáy
2.3. Quan điểm dân téc trên tranh Đông Hồ
"Phương Đông" vẫn là một khái niệm chiến thật chuẩn xác về thời gian và
không gian. Phương Đông là gì? ở đâu? Theo nh TS NguyÔn Nhã (Báo tuổi trẻ)

Lê Tiến Quang - K55A - Sư phạm Mỹ thuật
17
Bà Triệu
Cứ bóc tách từng líp nang văn hóa hiện trên mỗi bức tranh Đông Hồ cũng
đủ cho chóng ta thấy vốn liếng văn hóa Việt thuần khiết và trong sáng, đa dạng
và vô cùng độc đáo.
Tranh Đông Hồ sinh ra từ Kinh Bắc một vùng văn hóa tiêu biểu của đồng
bằng Bạc bộ, lễ hội gần nh quanh năm. Một trong những sinh hoạt văn hóa
mang tính cộng đồng cao ở các làng quê xưa là lễ hội. Chúng ta rung cảm trước
cảnh "Đánh đu', "Đấu vật", múa rồng", "Rước trống" bởi ta nùn thấy ở đây
hình ảnh các chàng trai khỏe mạnh, lạc quan, không khí vui tươi với các trò chơi
truyền thống. Tất cả đều được thể hiện trên tranh dân gian Đông Hồ rực rỡ, tươi
tắn, mang đậm một cái nhìn lạc quan, trìu mến tha thiết với cuộc sống.

Múa rồng
Lê Tiến Quang - K55A - Sư phạm Mỹ thuật
18
Xem tranh rước trống ta thấy đoàn rước mỗi người chỉ bận cái khố đơn
giản, giống nh cái khố mawashi của các võ sỹ đô vật Nhật- Bản. Nhưng có điều
đáng nói là ngắm tranh ta tuyệt nhiên không thấy thô tục. Mà tại sao chẳng để họ
mặc quần nhỉ? Phải chăng mục đích muốn biểu dương sự cường tráng, khỏe
mạnh tự nhiên trong lành. Và cũng vì công quỹ làng hồi xưa lấy đâu tiền mà
may đồng phục cho mọi người, còn bắt mọi người tự túc thì nhiều thành viên
không lo nổi. Một bộ đồng phục để mặc vài lần trong năm là phí phạm chẳng thể
xảy ra cho vùng quê nước ta hồi bấy giê.
Bây giê nhìn bức tranh thấy cái lọng che trống, Có người nói giữa trống vẽ
dấu hiệu âm dương, mà âm dương là một triết lý, đạo nguyên thủy, " nhất âm
nhất dương chi vi đạo" nên phải có lọng che cho uy nghi, trịnh trọng. Người
khác lại nói trống cần có lọng che đản dị là để tránh mưa nắng, bảo vệ cho tang
trống khỏi hư hao lúc nắng lúc mưa, vi tiếng trống giữa đám đông là rất cần

Mơ ước của người phương Đông trước hết phải chăng là sự no đủ, con cái
và sức khoẻ cùng với tâm lý nhiều con nhiều léc nên mọi gia đình đều có mong
muốn có con tàn cháu đống. Trong xã hội truyền thống Việt Nam trước đây mét
gia đình điển hình sống chung với nhau gồm ba thế hệ: ông, bà, cha mẹ. Đôi khi
có những đại gia đình chung sống gồm năm thế hệ. Do đó tình nghĩa vô cùng
đằm thắm, chứa chan thương mến, bao dung. Cha mẹ sinh con cái không những
Lê Tiến Quang - K55A - Sư phạm Mỹ thuật
20
chăm sóc từ Êu thơ đến khi trưởng thành cho ăn học thành tài, còn lo dựng vợ
gả chồng, gây dựng sự nghiệp cho con cái nên người có vị thế trong xã hội. Đối
lại, con cái phải có bổn phận, không những phụng dưỡng cha mẹ lúc về già mà
còn phải để cha mẹ được vinh hiển về ào việc mình làm đối với xã hội. Chính vì
vậy mà ở mảng trị chúc tụng tiêu biểu là tranh "Vinh hoa" các nghệ nhân đã gửi
vào đó lời chúc cho các gia đình có con trai đẹp đẽ, bụ bẫm, là người lớn lên sẽ
mang vinh hoa cho bố mẹ, gia đình.

Vinh hoa Phó quý
Đề thể hiện sự "Vinh hoa" các nghệ nhân vẽ một bé trai ôm gà trống cùng
hoa cúc. Đi với Vinh hoa là Phú quý. Đề đối lại với bé trai ôm gà trống, Phú quý
lại là bé gái ôm vịt bên hoa sen tượng tặng cho sự hiền dịu, trong trắng, thanh
cao. Vinh hoa- Phó quý là điều thượng tầng cao xa, gần gũi hơn là trong nhà có
những bé trai, bé gái bụ bẫm kháu hình, những con gà, con vịt và hoa sen, hoa
cúc đẹp đẽ. Trong "Phóc, Léc, Thọ, Khang, Ninh" thì phóc- nhiều con được coi
trọng hơn cả. Điều đó chẳng phải là khát khao muôn đời của người dân Việt
Nam sao? Và người nông dân cũng mong cuộc sống thanh bình, yên ổn, theo tôn
ti trật tự. Có lẽ, người nông dân Việt Nam trước dây chưa bao giê phủ nhận và
muốn lật đổ bề trên (trời đất, thần linh và vua quan) mà chỉ mong muốn trên cho
ra trên, dưới cho ra dưới và mơ ước được vươn lên nhập vào tầng líp trên bằng
con đường chính đáng nhất: học hành thi đỗ để có ngày "võng anh đi trước,
võng nàng theo sau'. Vì vậy, mèo- "miêu thần"- ở đây choáng một phần không

Lê Tiến Quang - K55A - Sư phạm Mỹ thuật
23

Chăn trâu thổi sáo
Con trâu là con vật mà nhà nông không thể thiếu "Con trâu là đầu cơ
nghiệp" giúp họ cày, bừa, kéo vác. Trâu trong bức tranh này trông thật đáng yêu
và ngộ nghĩnh. Đôi tai vểnh lên nghe ngãng, chân tung tăng nh nhảy theo tiếng
sáo, mặt vui vui nhìn cuộc đời, đuôi vây vẩy ngộ nghĩnh. Dường nh trâu cũng
đang thưởng thức âm nhạc và cảm thấy vui sướng. Điều đó có thể nói trâu
không chỉ giúp cho nhà nông làm việc mà nó còn là một người bạn tinh thần của
họ. Trâu khỏe với gam màu nóng và đường viền chân tạo sự chắc, vững. Chú bé
trên lưng trâu trông thật khôi ngô, khỏe đẹp. Khôi ngô biểu hiện qua ngò quan
khuôn mặt thật hài hòa, cân đối. Khỏe đẹp qua nước da hồng hào và thế ngồi
vững chãi khoanh hai chân vào nhau. Chú thật là một cậu bé tài năng vừa biết
chăn trâu lại vừa thổi được sáo.
Ngồi trên lưng trâu và thổi sáo, một lúc hai việc quả là khả năng thích nghi
cao. Không những thế chú còn là đứa trẻ ngoan, biết chăn trâu giúp bố mẹ. Đây
là hình ảnh ta thường thấy trong cuộc sống nông thôn Việt Nam. Khí hậu
phương Đông nắng nóng lắm, mưa Èm nhiều. Vì vậy cậu bé của chúng ta phải
cởi trần, mặc quần cộc để cưỡi trâu, thổi sáo. Trên đầu, một lá sen được cậu ngắt
kẹp giữa hai chân. Lá sen vươn lên trời xanh che nắng cho cậu. Đôi lúc thấy nó
Lê Tiến Quang - K55A - Sư phạm Mỹ thuật
24
còng nh muốn ngả nghiêng, uốn Ðo theo điệu sáo. Sáo mà cậu bé thổi cũng
được làm rất duyên dáng, chắc chắn là sáo chứ không phải là một cành củi khô
được bởi đầu sáo gắn một túm dây rất điệu.
Nếu để ý còn thấy cậu bé không ngồi hẳn trên trâu mà ngồi trên một thảm
hoa đặt trên lưng trâu và được trang trí bằng những bông hoa gam trầm rất sắc
nét. Ngoài ra dưới chân cậu, trên tấm thảm còn có những búp sen, lá sen, hoa
sen, cọng sen với cách sắp xếp khác nhau trông thật vui mắt. Cách sắp xếp rất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status