luận văn đại học sư phạm dạy học phần hội thoại trong chương trình Ngữ văn 8 theo đường hướng giao tiếp - Pdf 24

CẤU TRÚC LUẬN VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài 5
1.1 Xuất phát từ chức năng của ngôn ngữ 6
1.2 Xuất phát từ mục tiêu của dạy học phần tiếng Việt dạy học môn Ngữ
văn ở nhà trường phổ thông 6
1.3 Xuất phát từ nội dung, phương pháp dạy học phần hội thoại trong nhà
trường THCS 7
2. Lịch sử vấn đề 8
2.1 Về việc nghiên cứu giao tiếp như một đường hướng dạy học 8
2.2 Về nghiên cứu hội thoại và ngôn bản hội thoại 11
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
4.1 Mục đích nghiên cứu 13
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 13
5. Phương pháp nghiên cứu 14
6. Đóng góp của luận văn 14
7. Bố cục luận văn 14
1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY
HỌC PHẦN HỘI THOẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8
THEO ĐƯỜNG HƯỚNG GIAO TIẾP
1. Cơ sở lí luận 16
1.1. Cơ sở ngôn ngữ học 16
1.1.1. Lí thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 16
1.1.2. Dạy học tiếng Việt theo đường hướng giao tiếp 18
1.1.3 Lí thuyết hội thoại 20
1.1.3.1 Khái niện hội thoại 20
1.1.3.2 Cấu trúc hội thoại 20
1.1.3.3 Quy tắc hội thoại 27
1.1.3.4 Các vận động hội thoại 28

2.3.3 Phương pháp học bằng cách dạy và dạy học tiếng Việt theo đường
hướng giao tiếp 55
2.3.3.1 Quy trình phương pháp học bằng cách dạy 55
2.3.3.2 Học bằng cách dạy và dạy học TV theo đường hướng GT 61
=> Kết luận chương 2 63
3
CHƯƠNG 3 : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1 Mục đích, yêu cầu, nội dung phương pháp thực nghiệm 64
3.2 Tổ chức thực nghiệm 64
3.2.1. Giao nhiệm vụ thực nghiệm 64
3.2.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm 65
3.3 Đánh giá thực nghiệm 73
3.3.1 Thái độ học tập của học sinh 73
3.3.2 Kiến thức kĩ năng của học sinh 77
3.3.2.1 Đề kiểm tra 77
3.3.2.2 Kết quả kiểm tra 78
3.4 Những kết luận rút ra từ thực nghiệm sư phạm 80
=> Kết luận 81
KẾT LUẬN
1 .Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới của luận văn 81
2. Những kiến nghị 82
Tài liệu tham khảo 84
Phụ lục 85
4
CÁC DANG MỤC VIẾT TẮT CỦA LUẬN VĂN
STT Từ, cụm từ Viết tắt
1 Học sinh HS
2 Giáo viên GV
3 Phương pháp PP
4 Trung học cơ sở THCS

thông. Trước tiên với tư cách là một phần của bộ môn Ngữ văn, Tiếng
Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức về ngôn ngữ học
6
và hệ thống tiếng Việt, cùng với những quy tắc hoạt động và sản phẩm
của nó trong mọi hoạt động giao tiếp. Báo cáo đề dẫn của Viện Khoa học
Giáo dục trình bày tại Hội thảo “Dạy học tiếng Việt trong nhà trường phổ
thông đầu thế kỷ21” (2000) đã xác định rõ mục tiêu hàng đầu của việc
dạy học tiếng Việt trong nhà trường là giúp cho học sinh có năng lực sử
dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, hình thành và rèn luyện năng lực giao tiếp,
thể hiện rõ trong việc sử dụng tốt 4 kĩ năng cơ bản: đọc, viết, nghe và nói.
Mục tiêu như vậy là đúng và phù hợp với xu thế dạy tiếng mẹ đẻ của các
nước trên thế giới trong thế kỷ XXI. Để có thể sử dụng tốt ngôn ngữ
trong giao tiếp, học sinh không chỉ được trang bị các tri thức về hệ thống
ngôn ngữ như những hiểu biết về các đơn vị và các quy tắc thuộc các
bình diện của ngôn ngữ mà còn phải được trang bị cả những tri thức về sự
sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp.
1.3. Xuất phát từ nội dung, phương pháp dạy học phần hội thoại
trong nhà trường THCS
Ngôn ngữ có chức năng giao tiếp thể hiện rõ nhất trong hội thoại, bởi
vì chỉ trong giao tiếp ngôn ngữ mới bộc lộ hết và bộc lộ một cách rõ ràng
nhất đặc điểm của mình. Học ngôn ngữ là để giao tiếp cho nên không thể
không đưa học sinh vào những tình huống cụ thể để học tập, để rèn luyện.
Gắn với hoạt động giao tiếp là hoạt động hội thoại, việc dạy tiếng trong
nhà trường mới trở nên sinh động, hấp dẫn, mới giúp học sinh vượt qua
được những lực cản tâm lí khi các em học tiếng mẹ đẻ.
Việc đưa hoạt động hội thoại vào trong chương trình Ngữ văn THCS
thể hiện rõ đường hướng dạy học ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp. Tuy
nhiên, trong thực tế với nhóm bài này HS lại rất kém hứng thú khi học
trên lớp và thấy tính ứng dụng của bài học chưa cao trong thực tế GT.
7

tiếp trong dạy - học TV. Bùi Minh Toán đã khẳng định: “Quan điểm giao
tiếp trong việc dạy - học ngôn ngữ (TV) xuất phát từ đặc trưng bản chất
của đối tượng và phù hợp với đối tượng. […] Ngôn ngữ […] cần phải
hoạt độngđể thực hiện chức năng giao tiếp. Trong hoạt động giao tiếp,
ngôn ngữ vừa là phương tiện, vừa tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sự
giao tiếp”. Bàn về “độ phổ biến” của quan điểm giao tiếp, Nguyễn Minh
Thuyết và Nguyễn Thị Ly Kha cho rằng: “Quan điểm giao tiếp được thể
hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp dạy học”. Về nội
dung dạy học, quan điểm giao tiếp được thể hiện ở “Cách bố trí thời
lượng, sắp xếp các đơn vị kiến thức và các kiểu bài đều không tập trung
vào việc nhận diện các hiện tượng ngôn ngữ mà chú trọng rèn luyện khả
năng sử dụng từ ngữ phục vụ cho hoạt động giao tiếp”. (Hỏi- đáp về dạy
học TV 5, NXb Giáo dục, 2006)
Lê Thị Bích Hồng một trong số những người nghiên cứu về dạy TV
theo tình huống giao tiếp – đã khẳng định sự cần thiết phải sử dụng tình
huống giao tiếp trong dạy TV: “Trong dạy học, để giúp HS tích cực chủ
động, huy động mọi vốn sống, tri thức, kinh nghiệm của mình vào hoạt
động tìm kiếm tri thức mới hay giải quyết các tình huống mới, tăng
cường khả năng suy nghĩ độc lập, sáng tạo, chủ động điều chỉnh nhận
thức, lời nói và hành vi, GV cần xây dựng các tình huống giao tiếp” (Dạy
học Nghĩa của câu ở trung học phổ thông theo tình huống giao tiếp, Giáo
dục, số 175, kì 2 – 10/2007). Trong bài này tác giả đã đưa ra những định
nghĩa về tình huống giao tiếp, đồng thời xác định các đặc điểm cơ bản và
những yêu cầu cần thiết của một tình huống giao tiếp trong giờ học tiếng;
từ cơ sở đó, mô tả khái quát quy trình thực hiện một tình huống giao tiếp
trong giờ dạy TV.
9
Vũ Thị Thanh Hương đã đề cập và phân tích khá sâu khái niệm “năng
lực giao tiếp” trong bài viết Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề
dạy và học TV trong nhà trường phổ thông hiện nay (Tạp chí Ngôn ngữ,

tiễn nhất của đời sống” (Mấy vấn đề lí luận và thực tiễn về dạy và học
TV ở trường trung học, Tp. HCM, 1998). Đồng thời Trương Dĩnh cũng
chú ý việc xây dựng các bài tập tình huống để rèn luyện năng lực giao
tiếp cho học sinh. Có thể nói đây cũng là một trong những cơ sở góp phần
định hướng cho việc dạy và học TV đạt hiệu quả cao hơn.
Tác giả Lê Thị Minh Nguyệt cũng có nhiều bài báo viết về GT như:
Về dạy học tiếng Việt theo quan điểm GT (Tạp chí Giáo dục số 271, tháng
10-2011), Nguyên tắc dạy học cấu tạo từ theo quan điểm GT (Tạp chí
nghiên cứu Giáo dục số tháng 12, năm 2011), Nghĩ tiếp về dạy học tiếng
Việt theo đường hướng GT (Kỉ yếu hội thảo khoa học cán bộ trẻ trường
ĐHSP). Ngoài ra cũng phải kể đến luận án của tác giả Nguyễn Xuân Yến
với đề tài : “ Xây dưng hệ thống bài tập hội thoại cho HS đầu cấp tiểu học
theo quan điểm giao tiếp”.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu đi sâu vào việc
dạy học phần hội thoại theo quan điểm giao tiếp ở một khối lớp cụ thể nói
riêng và toàn bộ bậc trung học cơ sở nói chung. Vì thế, việc triển khai đề
tài này theo chúng tôi, là cấp thiết.
2.2 Về nghiên cứu hội thoại và ngôn bản hội thoại
Cùng khoảng thời gian trong những năm 1970 thì hội thoại cũng là
một phân môn của một ngành ngôn ngữ học của Mĩ với các nhà nhiên
cứu như Harvey Sack (1963,1964) Heritage (1984). Sau đó là phân tích
hội thoại cũng được tiếp nhận ở Anh nhưng với tên gọi khác đó là phân
tích diễn ngôn của trường phái Birmingham. Các nhà nghiên cứu tiêu
11
biểu là Sinclair và Coulthard (1975) với bài nghiên cứu “ Hướng tới việc
phân tích diễn ngôn” trong đó mô tả các hoạt động hội thoại của giáo viên
và học sinh trong giờ học. Tiếp theo Mĩ và Anh là hoạt động nghiên cứu
hội thoại của Thụy Sĩ và Pháp vào những năm 80 của thế kỉ XX với các
nhà nghiên cứu Eddy Roulet và Catherine Kerbrat Orecchioni. Và cho
đến nay thì hầu như ngôn ngữ học đặc biệt bàn về hội thoại được phát

- Vận dụng các phương pháp dạy học đã đề xuất vào thực tế để đánh giá
tính khả thi của đề tài.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu và đạt được mục đích đề ra
của luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
5.1. Phương pháp phân tích tổng hợp giúp tôi tìm hiểu các tài liệu lí
luận về hoạt động giao tiếp và hoạt động bằng ngôn ngữ, ngôn ngữ học
văn bản, lí thuyết hội thoại theo quan điểm giao tiếp.
5.2. Phương pháp điều tra khảo sát việc tìm hiểu đánh giá chương trình
sách giáo khoa cũng như thực tế dạy học Tiếng Việt của giáo viên và học
sinh phần hội thoại theo quan điểm giao tiếp.
5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm được sử dụng nhằm làm rõ tính
khả thi và hiệu quả của quy trình dạy học phần hội thoại theo quan điểm
giao tiếp mà luận văn đã đề xuất.
Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp sau : phương
pháp quan sát, thống kê để bổ sung cho các phương pháp trên quá
trình nghiên cứu.
6.Đóng góp của luận văn
13
Với việc thực hiện đề tài: “ Dạy học hội thoại trong chương trình Ngữ
văn 8 theo đường hướng giao tiếp” chúng tôi có những đóng góp sau:
- Góp thêm tiếng nói về lí luận trong quan điểm giao tiếp trong dạy học
tiếng Việt.
- Đưa ra những PP dạy học cụ thể ứng dụng vào dạy học bài “Hội thoại”
trong chương trình Ngữ văn 8.
7. Bố cục của luận văn
- Phần mở đầu của luận văn :
+ Lịch sử vấn đề
+ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Mục đích

lập quan hệ, sự hiểu biết, cộng tác giữa các thành viên trong xã
hội Hoạt động giao tiếp gồm các hành vi giải mã (nhận thông tin), ký
mã (phát thông tin). Trong ngôn ngữ, mỗi hành vi đều có thể được thực
hiện bằng hai hình thức : khẩu ngữ (nghe, nói), bút ngữ ( đọc, viết)”
(Sách Giáo viên Tiếng Việt 5, tập1,tr 6) . Theo đó, có thể hiểu giao tiếp là
hoạt động giữa hai người hay hơn hai người nhằm bày tỏ với nhau về
thông tin trí tuệ hoặc cảm xúc, một ý muốn hành động hay một nhận xét
về sự vật, hiện tượng nào đó.
Hoạt động giao tiếp có thể diễn ra bằng nhiều cách thức và phương tiện
khác nhau như hội họa, âm nhạc, điêu khắc, điện ảnh Nhưng ngôn ngữ
là phương tiện giao tiếp cơ bản nhất của con người.
* Các nhân tố giao tiếp : Trong các hoạt động của giao tiếp có rất nhiều
nhân tố tham gia và ảnh hưởng đến các phương diện của hoạt động giao
tiếp. Những nhân tố này vừa góp phần thực hiện hoạt động vừa ảnh
hưởng chi phối các hoạt động của giao tiếp.
- Nhân vật giao tiếp: Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào các
hoạt động giao tiếp. Các nhân vật được chia thành hai phía: người phát và
16
người nhận. Tất cả các nhân vật giao tiếp kể cả người phát và người nhận
đều có ảnh hưởng tới nội dung giao tiếp.
Thông thường, các quan hệ vai xã hội giữa các nhân vật giao tiếp được
chia thành: Quan hệ ngang vai: quan hệ giữa những người cùng tuổi tác,
vị thế trong gia đình, xã hội bình đẳng với nhau (quan hệ giữa bạn bè,
đồng nghiệp); Quan hệ không ngang vai: quan hệ giữa những người mà
tuổi tác, vị thế trong gia đình, xã hội không bình đẳng với nhau. Muốn
cuộc giao tiếp đạt được hiệu quả như mong muốn người phát cần phải
xác định đúng quan hệ giữa mình với người nhận để lựa chọn hình thức
giao tiếp nhất định. Đặc điểm của các nhân vật giao tiếp về lứa tuổi, nghề
nghiệp, giới tính trình độ hiểu biết,vốn sống , địa vị xã hội, đều ảnh
hưởng và để lại dấu ấn trong các hoạt động giao tiếp.

hoạt đọng giao tiếp được thực hiện với nhiều cách thức khác nhau. Tất cả
đó đều ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp đến việc hình thành ngôn ngữ
và lĩnh hội ngôn ngữ.
Tóm lại, hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ luôn luôn có sự chi phối
của nhiều nhân tố khác nhau. Chúng tác động đến sự hình thành và lĩnh
hội ngôn ngữ. Những nhân vật giao tiếp cần ý thức rõ điều này để sử
dụng ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp một cách hiệu quả và đạt được
mục đích.
1.1.2 Dạy học tiếng Việt theo đường hướng giao tiếp
Quan điểm dạy học TV theo đường hướng giao tiếp xuất phát từ đặc
trưng bản chất của đối tượng và phù hợp với đối tượng. Đối tượng ở đây
chính là học sinh THCS chúng ta phải làm sao để quan điểm dạy học này
phù hợp với bản chất đặc trưng của từng đối tượng học sinh. Để đáp ứng
được yêu cầu là phù hợp với đối tượng thì cần phải gắn các quan điểm
dạy học vào các hoạt động giao tiếp. Trong cuộc sống hàng ngày thì ngôn
18
ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất có chức năng cơ bản là chức
năng giao tiếp.Trong giao tiếp thì ngôn ngữ vừa là phương tiện vừa tạo ra
các sản phẩm phục vụ cho sự giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày đó. Do
đó, dạy học TV theo đường hướng giao tiếp chính là dạy về cách sử dụng
phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người để làm sao phục vụ
cho nhu cầu giao tiếp trong đời sống.
Quan điểm dạy học TV theo đường hướng giao tiếp cũng phù hợp với
mục tiêu của môn học Ngữ văn đặc biệt là phần tiếng Việt . Nó không chỉ
có mục đích trang bị kiến thức khoa học về ngôn ngữ tiếng Việt cho học
sinh mà điều quan trọng là rèn luyện và nâng cao năng lực sử dụng tiếng
Việt trong các hoạt động tư duy giao tiếp của học sinh.Ngay trong lĩnh
vực kiến thức thì môn ngôn ngữ cũng không phải chỉ để cung cấp những
kiến thức có tính chất lí thuyết mà còn cung cấp nguyên tắc sử dụng về
các thao tác và kĩ năng sử dụng ngôn ngữ . Do đó dạy học TV theo đường

chêm xen ; Đơn vị hội thoại: Sự kiện lời nói ;Cuộc thoại, Đoạn thoại ;
Cặp thoại, Tham thoại ;Cặp thoại tối thiểu; Cặp thoại hẫng ;Cặp chủ
hướng ;Cặp phụ thuộc .
+Tổ chức các hành động ở lời trong hội thoại bao gồm:
• Cặp kế cận.
• Cặp kế cận chêm xen.
• Sự kiện lời nói
20
• Đơn vị hội thoại.
- Cặp kế cận: Hành động ở lời nói ra, còn gọi là hành động dẫn nhập hay
bộ phận thứ nhất, như đã biết thường gợi ra hành động ở lời đáp lại, tức
hành động hồi đáp hay bộ phận thứ hai. Hành động dẫn nhập và hành
động hồi đáp thích ứng với nó lập thành một cặp kế cận.
+ Cặp kế cận tích cực : là cặp có hành động hồi đáp thoả mãn đích của
hành động dẫn nhập.
VD:Sp1:-Đi chơi đi!
Sp2:-Sẵn sàng!
+ Cặp kế cận tiêu cực: là cặp có hành động ở lời không thoả mãn đích của
hành động dẫn nhập.
VD:Sp1: -Đi chơi đi!
Sp2: - Không được!Tớ phải làm bài tập đã.
- Các cặp kế cận tích cực và tiêu cực đều được gọi là cặp kế cận được ưa
thích. Ở các cặp được ưa thích,ta có cấu trúc (hành động ở lời) được ưa
thích. Như thế, hành động hồi đáp dù thoả mãn hay không thoả mãn đích
của hành động dẫn nhập, nhưng nếu nó vẫn liên kết với hành động ở lời
dẫn nhập, ta vẫn có một cấu trúc được ưa thích. Chúng ta có một cấu trúc
không được ưa thích khi hành động hồi đáp không liên kết gì với hành
động dẫn nhập hoặc “lửng lơ”.
VD: Sp1:-Đi chơi đi!
Sp2: -Cái cặp này mày mua bao nhiêu tiền đấy?

Sp2 :-Thôi được! Mai chúng ta sẽ học bù.
+ Sự kiện lời nói tối thiểu chỉ có một cặp kế cận. Sự kiện lời nói mở rộng
là sự kiện lời nói ngoài cặp trung tâm còn có những cặp làm thành phần
thứ nhất và thành phần thứ hai.Trong phần thứ nhất đáng chú ý là cặp tiền
dẫn nhập, trong phần thứ hai là cặp kết thúc.
- Đơn vị hội thoại.
+ Hội thoại cũng có cấu trúc, tôn ti tương tự như một đơn vị cú pháp. Các
đơn vị của cấu trúc hội thoại là:
• cuộc thoại
• đoạn thoại
• cặp thoại
• tham thoại
• hành động ngôn ngữ
23
Trong đó, cuộc thoại, đoạn thoại và cặp thoại là ba đơn vị lưỡng thoại
(do hai thoại nhân tạo nên do vận động trao đáp).Tham thoại (bước thoại)
và hành động ngôn ngữ là đơn vị đơn thoại (do một thoại nhân tạo ra).
+ Lượt lời không phải là đơn vị hội thoại. Một lượt lời có thể bằng hoặc
lớn hơn,hoặc nhỏ hơn một tham thoại.
- Chức năng của các đơn vị hội thoại
+ Chức năng là vai trò mà các đơn vị hội thoại đảm nhiệm trong diễn tiến
của hội thoại.
+ Đơn vị hội thoại có 3 chức năng cơ bản: Chức năng dẫn nhập và hồi
đáp; Chức năng triển khai cuộc thoại; Chức năng điều chỉnh.
• Chức năng dẫn nhập và hồi đáp. Giữa các tham thoại trong cặp
thoại có chức năng dẫn nhập và hồi đáp . Cần chú ý, trong cặp
thoại ba tham thoại, chỉ tham thoại thứ nhất mới duy nhất có chức
năng dẫn nhập và tham thoại thứ ba kết thúc mới duy nhất có chức
năng hồi đáp .
VD:sp1:-Thưa bác, bé Trang có nhà không ạ?

âm thanh như tiếng gõ,tiếng kéo bàn,xô ghế…Có thể kể cả vào đây trang
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status