chuyên đề kinh nghiệm giảng dạy phần thơ haiku trong chương trình ngữ văn 10! - Pdf 20

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Nhiệm vụ nghiên cứu 1
3. Giới hạn của đề tài 1
4. Phương pháp nghiên cứu 1
NỘI DUNG
I. Một số vấn đề chung về thơ Hai-cư 2
1. Nguồn gốc và quá trình phát triển 2
2. Một số đặc trưng cơ bản 2
2.1. Về hình thức 2
2.2. Về đề tài 2
2.3. Về ngôn ngữ 2
2.4. Về cái nhìn nghệ thuật 3
2.5. Về cảm thức thẩm mĩ 5
2.6. Về không gian và thời gian nghệ thuật 6
2.7. Về bút pháp 7
2.8. Về kết cấu 9
2.9. Về vần điệu và nhịp điệu 10
II. Một vài lưu ý khi giảng dạy thơ Hai-cư 10
1. Vấn đề tích hợp văn hóa 10
2. Nắm vững đặc trưng thể loại 11
3. Việc tiếp cận văn bản 11
4. Tránh lối mòn suy nghĩ 11
III. Một số kinh nghiệm giảng dạy thơ Hai-cư 12
1. Tạo tâm thế 12
2. Chú trọng đặc trưng thể loại 13
3. Nghệ thuật nhấn, lướt 14
4. Khơi gợi để học sinh cảm nhận, trải nghiệm 15
5. Bình giảng trong tâm thế so sánh 16
6. Khơi nguồn sang tạo 18

2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Qua đề tài này, tôi muốn cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản về
thơ Hai-cư của Nhật Bản, đồng thời giúp học sinh biết cách phân tích, khám
phá thơ Hai-cư. Không những thế, từ đề tài này tôi muốn giúp học sinh chủ
động, sáng tạo, tích cực trong việc chiếm lĩnh tác phẩm, hiểu giá trị tác phẩm,
có một cái nhìn khách quan trong việc thẩm định, bình giá các giá trị nghệ
thuật này.
3. Giới hạn của đề tài:
Nghiên cứu phần thơ Hai-cư trong chương trình Ngữ văn 10 để thấy
được cái hay, cái tinh tế, lãng mạn tác phẩm phục vụ giảng dạy phần thơ Hai-
cư Ngữ văn 10.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu lý luận chung, sau đó chỉ ra các kiến thức cụ thể trong tác phẩm.
Phương pháp phân tích, so sánh.
Phương pháp tổng hợp, khái quát.
2
NỘI DUNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƠ HAI- CƯ
1. Nguồn gốc và quá trình phát triển:
Thơ hai-cư được hình thành trên cơ sở thể thơ Tanka (còn gọi là Đoản
ca, hay Wa-ka) một thể thơ dân tộc của Nhật, xuất hiện từ rất sớm, vào
khoảng thế kỉ III.
Mỗi bài Tanka gồm 31 âm tiết, chia làm 2 vế, vế đầu gồm 17 âm tiết,
sắp xếp thành 3 dòng (5 – 7 – 5) và vế sau gồm 14 âm tiết, sắp xếp thành 2
dòng (7 – 7).
Khoảng thế kỉ XVI, một số người đã tách vế đầu 17 âm tiết của thể
Tanka ra thành một bài thơ độc lập. Đó chính là thể thơ Hai-cư.
Đến thế kỉ XVII, Matsuo Bashô đã cách tân thể thơ này, đưa nó đạt
đến đỉnh cao nghệ thuật. Và sau đó, hàng loạt các nhà thơ tài năng như Y.
Buson (1716 – 1783), K. Issa (1763 – 1827), M. Shiki (1867 – 1902),… đã

Ôi con thủy điểu
mổ tan vầng trăng
trên mặt nước đầm.
(Zuiryu)
Từ bóng tối đầy
của đời chợt mọc
vầng trăng hôm nay.
(Nangai)
Hay khi tả hoa (nói đến hoa là nói đến màu sắc) thì Hai-cư cũng chỉ có
“hoa” (hana) hoặc gọi tên các loài hoa như “anh đào” (sakura), “triêu
nhan” (asagao), “hoa Bụt” (mukuge), … chứ ít khi tả màu sắc hoặc dáng vẻ
của hoa.
Từ cây hoa nào
mà ta không biết
một làn hương trao.
(Bashô)
Hoa đào hoa đào
trong tâm tưởng gieo rắt
biết bao nhiêu điều.
(Bashô)
Có thể nói, các nhà thơ Hi-cư không phải “tả” thiên nhiên (tả trăng, tả
hoa, tả chim, tả bướm …) mà chính xác hơn là “chỉ” thiên nhiên. Đến với Hi-
cư, người đọc như chỉ được “chỉ”: đây trăng, đây hoa, đây chim, đây bướm…
v.v. Còn chúng cụ thể như thế nào thì đó là phần của anh. Thử thách của Hai-
cư đối với người đọc là ở đó. Và sự kì thú, tuyệt diệu, mời gọi của Hai-cư
cũng chính là ở đó.
Việc sử dụng kigo (quý ngữ – tức là từ chỉ một mùa nào đó trong năm)
cũng là một đặc trưng về mặt ngôn ngữ của Hai-cư. Trong bất cứ bài Hai-cư
nào cũng có kigo. Đó hầu như đã trở thành một quy tắc bắt buộc. Bởi thế,
trong các bộ sưu tập, tuyển tập Hai-cư, người ta thường sắp xếp các bài thơ

thấy dung nhan Phật Đà trong con ốc nhỏ:
Cố hương ta!
ôi con ốc nhỏ
dung nhan Phật Đà.
Còn Kubutsu thì thấy dung nhan Phật Đà trong những cánh hoa đào
đang rơi, trong hình ảnh em bé đang há miệng nhìn:
Anh đào rơi hoa
em bé nhìn miệng há
dung nhan Phật Đà.
Rõ ràng, dưới cái nhìn của thơ Hai-cư, mọi thứ đều có Phật tính, cả con
người (em bé), cả những sinh vật nhỏ bé, vô ngôn (con ốc), cả những vật vô
tri, vô giác (giọt sương, bóng nắng, bông hoa)… Nói như nhà nghiên cứu
Nhật Chiêu: “Chính ở nơi những chúng sinh nhỏ bé, im lặng, vô ngôn nét từ
bi mới rạng ngời mầu nhiệm” (Ba nghìn thế giới thơm, NXB Văn nghệ,
2007).
Xuất phát từ “cái nhìn nhất thể hóa” ấy, Hai-cư thường biểu hiện mối
quan hệ tương tác, chuyển hóa, hòa điệu sâu xa giữa các sự vật hiện tượng
trong thế giới hữu hình lẫn vô hình.
Tịch liêu
thấm xuyên vào đá
tiếng ve kêu.
(Bashô)
5
Tiếng ve đang thấm xuyên vào đá hay nỗi tịch liêu thấm xuyên vào đá?
Có lẽ là cả hai. Cả thế giới vô hình (nỗi tịch liêu, âm thanh tiếng ve) và hữu
hình (đá) đều có thể xuyên thấm vào nhau, tương tác lẫn nhau. Ta có cảm
giác âm thanh của tiếng ve cùng với nỗi tịch liêu như làm cho cả đá núi cũng
tan ra để rồi tất cả cùng hòa vào nhau tạo thành “cái Một”. Một trong những
triết lí của Thiền là tất cả trở về “cái Một”. Và một nghịch lí tuyệt diệu của
nghệ thuật Thiền là: “Một trong Tất cả và Tất cả trong Một”.

Ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng, triết lí Thiền tông, cảm thức thẩm mĩ
trong hai-cư cũng mang đậm màu sắc Thiền. Có thể tạm gọi đó là cảm thức
thẩm mĩ Thiền, là loại cảm thức thẩm mĩ thiên về coi trọng, đề cao cái đẹp
thanh nhã, tịch lặng, giản khiết, bình đạm. Do đó, bốn nguyên tắc mĩ học
thường được nhắc đến trong thơ hai-cư nói riêng, văn học nghệ thuật Nhật
6
bản nói chung là: Sabi (tịch lặng), Wabi (đơn sơ), Yugen (u huyền) và
Karumi (nhẹ nhàng).
Chính cảm thức thẩm mĩ ấy đã chi phối cách lựa chọn màu sắc, âm
thanh, đường nét, chuyển động,… trong miêu tả, phản ánh con người cũng
như ngoại vật.
Nhật Bản là đất nước của Mặt trời. Mặt trời được người Nhật tôn kính,
sùng bái, được lấy làm biểu tượng của quốc kì. Thế nhưng trong thơ Hai-cư
rất ít khi xuất hiện hình ảnh Mặt trời mà lại tràn ngập hình ảnh ánh trăng. Rõ
ràng cảm thức thẩm mĩ Thiền đã chi phối rất lớn trong việc chọn lựa màu sắc,
âm thanh, hình ảnh trong thơ Hai-cư
Đó là tiếng chuông nhưng cũng không là tiếng chuông vang vọng hay
tiếng chuông trầm lắng…chỉ có chuông, có tiếng chuông:
Hoa đào như áng mây xa
chuông từ Ueno đến?
hay từ Asakusa?
(Bashô)
Trên chuông chùa
một con bướm đậu
nghiêng mình ngủ mơ.
(Buson)
và đa số các bài hai-cư là “vô thanh”. Các âm thanh êm ái, trầm lắng
trên cũng chỉ làm tăng thêm vẻ tĩnh lặng của cảnh vật mà thôi.
Về đường nét, chuyển động, Hai-cư cũng thiên về chọn lựa những
đường nét đơn sơ, giản khiết. Đó là một cánh quạ trên cành khô:

được. Đấy là bầu trời bao la với những tầng mây trắng, nơi chim vân tước
đang hát ca:
Vượt qua
những tầng mây trắng
vân tước hát ca.
(Kyoroku)
đấy là biển khơi bao la đang hiện ra trước mắt Issa:
Biển khơi
khi tôi nhìn thấy biển
Mẹ tôi ơi!
Đặc biệt, không gian trong thơ Hai-cư Nhật Bản luôn luôn là không
gian hiện thực. Đó là một không gian cụ thể, sinh động, đang hiện ra trước
mắt nhà thơ; một không gian hoàn toàn tự nhiên như từ hiện thực đi thẳng
vào thơ mà không qua sự điều chỉnh (phóng to hay thu nhỏ) theo cảm nhận
chủ quan của nhà thơ.
2.6.2. Về thời gian
Thời gian trong thơ Hai-cư là thời gian hiện thực. Đấy là thời gian của
một mùa nào đó trong năm (hoặc xuân, hoặc hạ, hoặc thu, hoặc đông) mà
mỗi bài thơ Hai-cư đều phải đề cập.
Hai-cư vẫn được gọi là “thơ của khoảnh khắc”. Tuy nhiên, cái “khoảnh
khắc” trong Hai-cư cũng không phải là cái khoảnh khắc, cái ngắn ngủi theo
cảm nhận chủ quan của nhà thơ mà nó là cái khoảnh khắc của hiện thực như
nó vốn vậy. Đó là khoảnh khắc nhà thơ nhìn vào một sư vật, một hiện tượng
cụ thể trong thế giới hiện thực. Nói chính xác hơn, đó là cái khoảnh khắc tâm
và vật gặp nhau và kết quả là bài Hai-cư được tạo thành ngay tức khắc. Đấy
là cái khoảnh khắc con ếch nhảy vào ao, cánh bướm đang ngủ mơ trên
chuông chùa, con ốc nhỏ đang trèo đỉnh Fuji, cái khoảnh khắc mặt nước đang
liếm chân con cò, giọt sương đang tan trên lá … Tất cả là hiện thực, là cái
“đang là”, là “tự nhiên nhi nhiên”.
Tóm lại, không gian, thời gian trong thơ Hai-cư luôn luôn là không

mổ tan vầng trăng
trên mặt nước đầm.
(Zuiryu)
Rõ ràng, hình ảnh “thủy nguyệt” trong các bài thơ Thiền của Việt Nam
được sử dụng như một hình ảnh để so sánh, để khẳng định một triết lí rằng có
và không đều là hư ảo như vầng trăng trong đáy nước. Nó có đó nhưng không
phải là thật bởi nó chỉ là bóng chứ không phải là hình. Nói cách khác, đó là
hình ảnh được tâm trí huy động, liên tưởng chứ không phải là một hình ảnh
xuất phát từ sự quan sát trực tiếp. Nó chỉ là phương tiện chứ không phải là
cứu cánh. Trong khi đó, hình ảnh “vầng trăng trong nước” trong những bài
Hai-cư đều là hình ảnh thực, xuất phát từ sự quan sát cụ thể, trực tiếp. Nó
cũng không nhằm khẳng định, triết lí về sự hư ảo. Nếu không như thế sao
Ryuho có thể hồn nhiên mà “vốc mảnh trăng chơi”, Ryusui có thể say mê
ngắm nhìn vầng trăng đang “ngủ say” dưới nước, con thủy điểu có thể “mổ
tan vầng trăng”? Không cần biết thực sự là “có” hay “không”, thực hay ảo,
thật hay giả; chỉ cần biết ngay lúc này đây, trăng đang hiện hình trong nước:
9
sáng trong, lung linh, huyền ảo, tuyệt trần. Và ta hãy chiêm ngưỡng nó, chơi
đùa cùng nó. Ta như nghe được những lời nhắn nhủ “vô thanh” từ những bài
hai-cư đơn sơ mà huyền diệu ấy. Chả trách Thi tiên Lí Bạch của Trung Quốc,
trong lúc ngà say, đã nhảy cả xuống sông mà ôm lấy vầng trăng.
Hai-cư thường tạo ra sự bất ngờ, đột phá ở dòng thơ thứ ba. Đó có thể
là một hình ảnh, một sự việc hoàn toàn khác hẳn sự liên tưởng, tưởng tượng,
dự đoán của người đọc có được trên cơ sở hai dòng thơ đầu; hoặc là một sự
đột nhiên chuyển mạch, làm thay đổi cảm xúc nơi người đọc. Chẳng hạn,
trong một bài thơ của Issa, hai dòng đầu:
Tuyết tan mùa
thôn làng tràn ngập
gợi người ta liên tưởng đến một tai ách: lụt lội do nước lũ từ băng tuyết
tan gây ra, thì dòng thơ thứ ba lại là:

Cuối cùng, xét trên đơn vị câu (dòng) thơ, mỗi dòng thơ trong một bài
Hai-cư không phải là một cấu trúc ngữ pháp độc lập, nếu đứng một mình, nó
không thể có được ý nghĩa cụ thể, trọn vẹn. Chính vì thế, khi phân tích, cảm
nhận thơ Hai-cư không thể lần lượt phân tích, cảm nhận từng dòng thơ mà
phải luôn đặt các hình ảnh (được gợi lên ở mỗi dòng thơ) trong mối tương
quan lẫn nhau và trong sự thống nhất của toàn bài.
2.9. Về vần điệu và nhịp điệu
Khác xa với thơ Việt Nam và thơ của nhiều nước trên thế giới, Hai-cư
Nhật Bản không sử dụng vần điệu, nhịp điệu như một yếu tố nghệ thuật. Kết
cấu 5/7/5 âm tiết không hẳn là nhịp điệu của mỗi bài thơ. Do đó, mỗi bài thơ
đọc lên nghe như một câu văn xuôi.
 Lưu ý: Trong bản dịch của Nhật Chiêu và một số dịch giả khác,
mỗi bài Hai-cư đều như có vần điệu, đó là do các dịch giả đã cố tình Việt hóa
một thể thơ quá xa lạ với truyền thống thơ ca của dân tộc, tạo sự gần gũi,
quen thuộc trong tâm lí tiếp nhận của độc giả Việt Nam.
II. MỘT VÀI LƯU Ý KHI GIẢNG DẠY THƠ HAI-CƯ
1. Vấn đề tích hợp văn hóa.
Bất cứ một tác phẩm nghệ thuật nào cũng mang dấu ấn của một nền
văn hóa nhất định. Do đó, không thể hiểu, cảm được một cách sâu sắc cái
hay, cái đẹp, cái sâu xa, ý vị của một tác phẩm nghệ thuật nếu không am hiểu
gì về nền văn hóa đã sinh thành ra nó. Chính vì thế, để tiếp cận hai-cư (mà
người Nhật còn gọi là “Hài cú đạo”), một thể thơ được đánh giá “là tinh hoa
của văn hóa Nhật Bản” (Lưu Đức Trung, Haiku – hoa thời gian, NXB Giáo
dục, 2007) bên cạnh hoa đạo, trà đạo, vườn đá, sân khấu nô,… không thể
không có sự hiểu biết nhất định về văn hóa Nhật Bản.
Nói đến văn hóa phương Đông cũng không thể không kể đến ảnh
hưởng, chi phối mạnh mẽ của tư tưởng, tinh thần Thiền tông. Về nguồn gốc,
Thiền tông Nhật Bản cũng như Việt Nam đều chủ yếu được du nhập từ Trung
Quốc, nhưng nếu ở Trung Quốc, Thiền tông vẫn chủ yếu tồn tại ở dạng học
thuyết tôn giáo thì Thiền tông ở Nhật Bản đã thấm sâu vào văn hóa cũng như

nên thơ ca Nhật hầu như không sử dụng các yếu tố thanh điệu, vần điệu, các
phép tu từ, … như một yếu tố nghệ thuật. Vì vậy, nắm rõ những đặc trưng
của đối tượng sẽ giúp ta tìm ra cách tiếp cận hợp lí, tránh được cái nhìn định
kiến, lấy thước đo thẩm mĩ của ta mà “đo” cho người.
3. Việc tiếp cận văn bản
Do đây là một thể thơ nước ngoài, văn bản mà ta tiếp cận được là văn
bản dịch. Nguyên tắc tiếp cận các văn bản dịch thông thường ta phải có sự so
sánh, đối chiếu với văn bản gốc. Nhưng có lẽ hầu hết giáo viên Ngữ văn Việt
Nam (trừ những người vừa nghiên cứu vừa giảng dạy văn học Nhật Bản) đều
không am hiểu tiếng Nhật. Cho nên, trong quá trình tiếp cận văn bản Hai-cư,
nếu cần, giáo viên có thể tìm, so sánh một số bản dịch của các dịch giả khác
nhau để có thể tìm ra cách hiểu hợp lí nhất đối với văn bản cần tiếp cận.
Xuất phát từ đặc trưng ngôn ngữ Hai-cư: rất hạn chế việc sử dụng các
tính từ, trạng từ miêu tả, nên khi tiếp cận văn bản hai-cư không nên sa đà vào
các tính từ, trạng từ, các từ ngữ l1uyến láy (nếu có) trong bài thơ vì đó rất có
thể chỉ là ngôn ngữ của dịch giả.
4. Tránh lối mòn suy nghĩ
Khi giảng bình Hai-cư, cần tránh lối suy diễn theo thói quen đã trở
thành lối mòn trong cách nghĩ, cách cảm nhận đối với một số hình ảnh quen
thuộc thường xuất hiện trong thơ ca Việt Nam và Trung Quốc. Chẳng hạn,
đối với thơ ca Việt Nam và Trung Quốc, nói đến hình ảnh hoa rơi thường là
nói đến nỗi buồn, sự xót xa trước cái đẹp bị tàn phai, vùi dập:
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu.
(Nguyễn Du – Truyện Kiều)
12
Hay:
Nhất phiến hoa phi giảm khước xuân
Phong phi vạn điểm chính sầu nhân.
(Đỗ Phủ - Khúc giang)

lòng trắc ẩn. Đó cũng chính là đặc trưng, là nét riêng mà mỗi nền văn học dân
tộc đóng góp vào kho tàng văn học nhân loại.
III. MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY THƠ HAI-CƯ
1. Tạo tâm thế
Không như văn học các nước Trung Quốc, Anh, Pháp, Nga,…những
đối tượng đã có phần quen thuộc với học sinh vì đã có dịp tiếp cận ở những
cấp dưới, với Hai-cư, đây là lần đầu tiên học sinh được tiếp xúc với văn học
Nhật Bản. Do đó, các em không khỏi có tâm lí xa lạ, bỡ ngỡ. Chính vì thế,
13
trước khi đi vào nội dung cụ thể của bài học, giáo viên có thể khơi gợi, giúp
học sinh huy động những ấn tượng, kiến thức có được về nền văn hóa, văn
học Nhật Bản. Chẳng hạn, giáo viên có thể hỏi: Em biết gì về nền văn hóa
Nhật Bản (gợi ý: Về trang phục? Về lối sống? Về nghệ thuật?,… ), Hoặc với
sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, giáo viên cũng có thể cho học sinh xem
trên Power point một số hình ảnh về đất nước, con người, văn hoá Nhật Bản
(Chẳng hạn như hình ảnh Hoa anh đào, núi Phú Sĩ; cảnh lễ hội ngắm hoa,
cảnh uống trà, cảnh đấu kiếm, một đoạn trích Sân khấu Nô,…
Trên cơ sở những gì HS đã huy động được hoặc những ấn tượng qua
một số hình ảnh giáo viên cung cấp, giáo viên có thể chốt lại, giới thiệu sơ
lược vài nét đặc trưng nền văn hóa, văn học Nhật Bản: Đấy là xứ sở hoa anh
đào với nền văn hóa thấm đẫm tinh thần Thiền tông (Zen), một nền văn hóa
mà từ những sinh hoạt thông thường (uống trà, ngắm hoa) đến võ thuật, thơ
ca,… đều được nâng lên thành nghệ thuật, thành ĐẠO: hoa đạo, trà đạo,
kiếm đạo, và… Hài cú đạo (tức thơ Hai-cư). Với những cách dẫn dắt ấy
(không tốn nhiều thời gian) nhưng có tác dụng tạo được tâm thế hào hứng,
khơi gợi sự tò mò, hứng thú nơi học sinh trước một đối tượng xa lạ.
2. Chú trọng đặc trưng thể loại
Việc đổi mới PPDH Ngữ văn rất chú trọng đến cách tiếp cận tác phẩm
theo đặc trưng thể loại. Điều này được thể hiện ngay trong cấu trúc chương
trình SGK đổi mới gần đây nhất. Nếu trước đây, việc sắp xếp các đơn vị tác

sung, củng cố, nâng cao những kiến thức về hai-cư cho HS. Được như thế,
GV sẽ có điều kiện khắc sâu kiến thức, giúp các em cảm nhận, phát hiện vẻ
đẹp giản khiết, đơn sơ, bình đạm mà hết sức tinh tế của thể thơ “bé hạt tiêu”
này.
3. Nghệ thuật nhấn, lướt
Như đã trình bày ở mục III.2, số lượng tác phẩm hai-cư được trích học
là rất nhiều so với thời lượng được phân phối. Ngoài thời gian dành cho việc
cung cấp kiến thức về đặc trưng thể loại (buộc phải có), thời gian còn lại, GV
chỉ nên chọn giảng sâu từ 3 đến 4 bài, những bài còn lại, GV gợi ý để HS về
nhà tìm hiểu. Việc nhấn bài nào, lướt bài nào là tùy thuộc vào chủ quan của
từng GV. Tuy nhiên, việc chọn giảng phải chú ý bảo đảm một số nội dung
chính cũng như làm rõ những đặc trưng cơ bản của Hai-cư. Chẳng hạn, trong
8 bài hai-cư của Bashô được trích giảng trong SGK Ngữ văn 10 cơ bản, ta có
thể tạm xếp vào 4 cụm nội dung:
Cụm 1 (bài 1, 2): nỗi nhớ - tình yêu quê hương
Cụm 2 (Bài 3, 4, 5): nỗi đau, lòng trắc ẩn – tình yêu thương con người
và các sinh linh nhỏ bé.
Cụm 3 (bài 6, 7): mối tương giao, hòa điệu sâu xa giữa các sự vật, hiện
tượng – tình yêu thiên nhiên.
Cụm 4 (bài 8): khát vọng lãng du – tình yêu cuộc sống
Như vậy, nên chăng ở mỗi cụm nội dung ta chỉ nên chọn giảng 1 bài
(có thể kết hợp, so sánh với những bài còn lại trong cụm). Và trong 4 bài
được chọn ấy lại phải tính đến việc làm bật được những đặc trưng cơ bản của
thể loại hai-cư. Ví dụ, để thể hiện qui tắc sử dụng quí ngữ (từ chỉ mùa) của
hai-cư thì mỗi bài trong 4 bài được chọn nên thuộc vào một mùa trong năm.
Bên cạnh đó, để làm rõ cái nhìn nhất thể hóa, sự tương quan, chuyển hóa lẫn
nhau giữa các sự vật, hiện tượng tự nhiên cũng như giữa con người và vạn
vật, không nên bỏ qua một trong các bài 3, 5 và 6. Hay để thấy được cảm
thức thẩm mĩ của Hai-cư thiên về cái đẹp của sự vắng lặng, u trầm, đơn sơ,
mềm mại,… lại không nên bỏ qua một trong các bài 6, 7, 8.

về cuộc đời?). Với câu hỏi này, chắc chắn HS sẽ có nhiều ý kiến rất khác
nhau. Có em cho rằng hình ảnh “làn sương thu” là hình ảnh thực. Đó là làn
sương mùa thu. Cũng có nhiều em cho rằng đấy là hình ảnh biểu tượng để chỉ
mái tóc của mẹ, chỉ giọt lệ hay chỉ cuộc đời,… Trên cơ sở những gì HS đã
trình bày, GV nhận xét, tổng hợp và nâng cao.
Hay khi hướng dẫn, khơi gợi để HS cảm nhận bài thơ:
Chim đỗ quyên hót
ở kinh đô (1)
mà nhớ kinh đô (2)
(Basho)
GV có thể đặt câu hỏi khơi gợi: giữa “kinh đô” (1) và “kinh đô” (2) có
gì giống và khác nhau? Đề trả lời được câu hỏi này, GV gợi ý HS đọc phần
chú thích về bài thơ (SGK, tr 156). Với phần chú thích ấy, HS sẽ dễ dàng chỉ
ra: điểm giống nhau giữa “kinh đô” (1) và “kinh đô” (2) là cùng để chỉ kinh
đô Ki-ô-tô (Nhật Bản); điểm khác nhau là “kinh đô” (1) chỉ kinh đô Ki-ô-tô
của hiện tại, nơi nhà thơ vừa trở về sau hai mươi năm xa cách, còn “kinh đô”
(2) chỉ kinh đô Ki-ô-tô của quá khứ, nơi nhà thơ đã sống thời tuổi thơ, tuổi
trẻ.
Trên cơ sở phát hiện ấy của HS, GV tiếp tục khợi gợi: Nhắc đến nơi
mình từng sống thời tuổi thơ, thường gợi người ta nhớ đến những gì? Trong
16
tâm trạng như thế nào? Với câu hỏi này, HS có thể có rất nhiều ý kiến, thậm
chí là những ý kiến trái nhau. Có em sẽ cho nhớ về nơi mình từng sống thời
tuổi thơ là nhớ về những kỉ niệm tươi đẹp trong tâm trạng hân hoan, vui
sướng; cũng có em cho nhớ về nơi mình từng sống thời tuổi thơ là nhớ về gia
đình, nhớ về cha mẹ (mà có thể giờ đã không còn) trong tâm trạng bâng
khuâng, ngậm ngùi, xót xa; v…v… Đến đây, GV có thể dễ dàng giúp HS
phát hiện vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ bằng câu hỏi: Như vậy, qua việc đứng trên
mảnh đất quê hương hiện tại mà nhớ về một quê hương của quá khứ, của tuổi
thơ, của kỉ niệm,…, ta thấy được điều gì trong tâm hồn, tình cảm của nhân

Theo hướng tiếp cận này, ta có thể tiến hành so sánh tho Hai-cư với
các đối tượng khác trên một số bình diện, cấp độ như: đề tài, thể loại, cảm
thức thẩm mĩ, thế giới hình ảnh, chủ thể trữ tình,… Chẳng hạn khi tiếp cận
bài thơ:
17
Lệ trào nóng hổi
tan trên tay tóc mẹ
làn sương thu.
(Bashô)
ta có thể so sánh hình ảnh “làn sương thu” trong bài thơ với hình ảnh làn
sương được sử dụng trong nhiều câu thơ của Việt Nam. Ví dụ như:
Mẹ già phơ phất mái sương
Con thơ măng sữa, vả đương bù trì
(Đặng Trần Côn – Chinh phụ ngâm)
Tuổi già hạt lệ như sương
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan.
(Nguyễn Khuyến – Khóc Dương Khuê)
Ta thấy hình ảnh làn sương trong các câu thơ Việt Nam vừa dẫn có vẻ
đơn nghĩa, nó gắn với một đối tượng cụ thể. Đó là mái tóc (trắng) như sương
(trong câu thơ của Đặng Trần Côn), là giọt lệ (ít ỏi, hiếm hoi) như hạt sương
(trong câu thơ của Nguyễn Khuyến) và là cuộc đời (mong manh, vô thường)
như giọt sương trên đầu ngọn cỏ (trong câu thơ của Vạn Hạnh thiền sư).
Trong khi đó, hình ảnh làn sương thu trong bài hai-cư trên rất mơ hồ, đa
nghĩa: nó có thể là một hình ảnh thật, là làn sương của mùa thu; nhưng nó
cũng có thể là giọt lệ (lệ khóc mẹ), là mái tóc (mớ tóc còn lại của mẹ) hay là
cuộc đời ngắn ngủi, vô thường.
Hay khi tiếp cận bài thơ:
Vắng lặng u trầm
thấm sâu vào đá
tiếng ve ngâm

kiện thuận lợi giúp HS, trên cơ sở nắm được một số đặc trưng cơ bản của hai-
cư, có thể tự mình sáng tạo những bài thơ “kiểu hai-cư”. Và trên thực tế
giảng dạy, mỗi lần dạy xong bài Thơ Hai-cư, lại nhận được rất nhiều những
bài thơ “kiểu Hai-cư” của các em gửi “nhờ cô xem hộ”. Có thể trích ra đây
một số bài của HS khối 10 năm học 2010 - 2011, trường THPT số 2 Bảo
Yên:
Trên ngọn cỏ xanh
một chú kiến nhỏ
đu mình theo gió.
(Ngô Hạnh Trúc Quỳnh – 10A1)
Rực đỏ màu phượng
đẫm thân cây
nắng hè.
(Nguyễn Bảo Ngọc– 10A1)
Ầu ơ tiếng hát ru
đầu tựa gối mẹ
ấm êm.
(Nguyễn Văn Quyền – 10A5)
Chưa bàn đến chất lượng nghệ thuật của những bài thơ ấy. Cái đáng
ghi nhận ở đây là sự say mê, yêu thích hai-cư của các em. Đặc biệt, nó cho
thấy hai-cư, một cách âm thầm, đã tập cho các em thói quen quan sát cuộc
sống và ghi lại những cảm nhận của mình. Học hai-cư chính là học cách nhìn,
cách yêu cuộc sống vậy!
19
IV. GIÁO ÁN ỨNG DỤNG
Tiết 53: Đọc thêm:
THƠ HAI-CƯ CỦA BA-SÔ
A/ Mục tiêu bài học:
1. Kiến thức: Thấy được nghệ thuật của thơ Hai cư: ngắn gọn, súc tích, thông qua
các mối quan hệ để thấy được nội dung cần phản ánh.

(5 âm - 7 âm - 5 âm).
- Mỗi bài có một từ nhất định, ghi lại phong cảnh, sinh vật trong một thời điểm nhất
định→ khơi gợi một cảm xúc, một suy tư (cảm xúc về thiên nhiên, phong cảnh bốn
mùa→ qúy ngữ).
- Thơ Hai-Cư thấm đẫm chất thiền, đưa cái tôi hoà nhập vào cái tĩnh lặng vô biên,
không bị ức chế để giải phóng tâm linh (Sa bi)→thể hiện con người và vạn vật nằm
trong mối quan hệ khăng khít.
- Cảm thức thẩm mỹ: tinh tế: đề cao cái Vắng Lặng, U Huyền, Đơn Sơ, Mềm Mại,
20
Nhẹ Nhàng
- Ngôn ngữ: không dùng nhiều tính từ, trạng từ, sử dụng bút pháp chấm phá, gợi
chứ không tả.
4. HĐ2: Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật.
- Mục tiêu: Hs nắm khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật văn bản.
- Thời gian: 25 phút.
- Tiến hành:
a. Bài 1, 2:
+ Bước 1: Yêu cầu Hs đọc các bài thơ, suy nghĩ trình bày lần lượt:
(?) Tình cảm thân thiết của nhà thơ với thành phố Ê-đô và nỗi niềm hoài
cảm về Kinh đô Ki-ô-tô đẹp đẽ đầy kỉ niệm được thể hiện qua các bài 1, 2 như thế
nào?
+ Bước 2: HS suy nghĩ, kết hợp với vở soạn trình bày -> H khác nhận xét, b/s kiến
thức.
+ Bước 3: G nhận xét =>Kết luận:
* Bài 1:
- Tình cảm đối với Mi-ê sau 10 năm xa quê.
- Trở về Miê→nhớ Êđô: Ê-đô thân thiết như quê hương mình.
→Bài thơ thể hiện tình cảm thân thiết gắn bó với mảnh đất mình ở. Tình yêu quê
hương đất nước hoà làm một.
* Bài 2:

+ Bước 1: Yêu cầu Hs đọc bài thơ, suy nghĩ trình bày:
(?) Qua bài 5, em cảm nhận được vẻ đẹp gì trong tâm hồn nhà thơ?
+ Bước 2: HS suy nghĩ, kết hợp với vở soạn trình bày -> H khác nhận xét, b/s kiến thức.
+ Bước 3: G nhận xét =>Kết luận:
- Hình ảnh chú khỉ đơn độc:
+ Gợi hình ảnh người nông dân Nhật.
+ Những em bé nghèo đang co ro vì lạnh.
- Tấm lòng yêu thương những sinh vật bé nhỏ tội nghiệp, yêu thương người nghèo
khổ.
d. Bài 6,7:
+ Bước 1: Yêu cầu Hs đọc 2 bài thơ, suy nghĩ trình bày:
(?) Mối tương giao giữa các sự vật hiện tượng trong vũ trụ được thể hiện như thế
nào trong các bài 6,7? Hình tượng thơ đẹp, thú vị ở chỗ nào?
+ Bước 2: HS suy nghĩ, kết hợp với vở soạn trình bày -> H khác nhận xét, b/s kiến thức.
+ Bước 3: G nhận xét =>Kết luận:
- Cảnh mùa xuân: đẹp, giản dị→ thời kỳ chuyển mùa tâm hồn tinh tế, cảm thức
thẩm mĩ nhẹ nhàng trong thơ Ba-sô.
- Cảnh chiều tà: Tiếng ve, đá, cảnh u tịch, vắng lặng. Tiếng ve thấm vào đá, lan toả
trong không gian. Đây là liên tưởng độc đáo, kỳ lạ.
⇒ Sự giao thoa, tương giao của các sinh vật, hiện tượng trong xã hội→ triết lí sâu
sắc.
e. Bài 8:
+ Bước 1: Yêu cầu Hs đọc bài thơ số 8, suy nghĩ trình bày:
(?) Khát vọng được sống, được tiếp tục lãng du của Ba-sô được thể hiện như thế
nào trong bài 8?
+ Bước 2: HS suy nghĩ, kết hợp với vở soạn trình bày -> H khác nhận xét, b/s kiến thức.
+ Bước 3: G nhận xét =>Kết luận:
- Thú phiêu lãng, lãng du.
- Khát vọng sống để tiếp tục du hành→ tinh thần lạc quan, khát khao tự do.
5. Tổng kết và hướng dẫn học bài ở nhà:

ra chỉ là những kết quả, kinh nghiệm bước đầu trong quá trình tìm hiểu, giảng
dạy thơ Hai-cư. Hi vọng, bằng sự nổ lực tìm tòi kết hợp với thực tế giảng dạy
cũng như sự trao đổi kinh nghiệm giữa các đồng nghiệp, mỗi giáo viên sẽ tìm
được cho mình một cách tiếp cận, giảng dạy hiệu quả nhất phần nội dung
này.
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status