Một số kinh nghiệm giúp dạy học tốt các bài thơ đường trong chương trình ngữ văn 7 ở trường THCS ái thượng - Pdf 24

Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Email:
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP DẠY - HỌC TỐT CÁC BÀI
THƠ ĐƯỜNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 7
Ở TRƯỜNG THCS ÁI THƯỢNG.
Họ và tên: Lê Bá Mơ
Chức vụ: Phó hiệu trưởng
Đơn vị: Trường THCS Ái Thượng
Huyện Bá Thước – Thanh Hóa
SKKN môn: Ngữ Văn
THANH HÓA NĂM 2013
PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN ĐỀ
I – LÝ LO CHỌN ĐỀ TÀI:
Văn học nước ngoài là một bộ phận quan trọng trong chương trình Ngữ
văn trung học cơ sở, gồm những sáng tác dân gian, văn thơ cổ điển, văn thơ hiện
đại được chọn và bố trí song song với chương trình văn học dân tộc. Cùng với
văn học dân tộc, văn chương nước ngoài đã góp phần tạo điều kiện cho học sinh
mở rộng tầm nhìn và khả năng cảm thụ tinh hoa văn hoá nhân loại, hiểu biết
thêm về cuộc sống và tài năng sáng tạo của các dân tộc từ đó hiểu rõ hơn đất
nước, dân tộc và văn hoá dân tộc đồng thời phát triển tinh thần quốc tế và ý thức
về cộng đồng văn hoá nhân loại.
Đó là những sáng tác được chọn lọc trong kho tàng văn học của các dân
tộc. Nói rộng ra đó là tinh hoa văn hoá nhân loại đủ sức vượt qua sự thử thách
khắc nghiệt của thời gian, của không gian đến với chúng ta hôm nay.
Ở chương trình Ngữ văn 7 thơ Đường cùng với một số tác phẩm thơ trữ
tình Trung đại đã được tuyển chọn với số liệu tương đối nhiều. Đây là những
văn bản phục vụ cho việc rèn kỹ năng làm văn biểu cảm cho học sinh. Có thể
nói, đây là những tác phẩm xuất sắc (Cả về nội dung, nghệ thuật), được xem là
mẫu mực cho văn học cổ, nó diễn tả được thế giới tâm hồn của con người trước

hơn các văn bản đó, có cái nhìn mang chiều sâu và đánh giá đúng thành tựu của
thi ca Trung Hoa.
II – MỤC ĐÍCH VÀ PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Thông qua đề tài này, mục đích của tôi là giúp các em hiểu sâu, rộng nội
dung của 4 bài thơ Đường mà chương trình đưa vào (trong đó có hai bài đọc
thêm)
Mặt khác, tôi đưa ra cách dạy, cách tiếp cận như thế nào đó cho phù hợp với
trình độ cảm thụ của học sinh lớp 7 đối với các bài thơ nói chung, đề tránh sa
3
vào phân tích tràn lan, khó hiểu với người nghe. Đồng thời tự bồi dưỡng năng
lực chuyên môn phục vụ cho công tác quản lý và giảng dạy ở đơn vị.
Khách thể nghiên cứu: học sinh lớp 7 trường THCS Ái Thượng
Về đối tượng nghiên cứu của đề tài: Tôi chọn 4 bài thơ đời Đường
(trong đó có 2 bài hướng dẫn đọc thêm) gồm:
- Xa ngắm thác Núi Lư ( Vọng Lư sơn bộc bố - Lý Bạch) – đọc thêm
- Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh ( Tĩnh dạ tứ - Lý Bạch)
- Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê ( Hồi hương ngẫu thư - Hạ Tri
Chương)
- Bài ca nhà tranh bị gió thu phá (Mao ốc vị thu phong sở phá ca - Đỗ Phủ) –
đọc thêm.
(Ngữ văn lớp 7 – Tập 1)
PHẦN HAI
4
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I- CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Thơ Đường là thành tựu rực rỡ nhất của văn học đời Đường ( từ thế kỷ
VII đến thế kỷ X) là một trong những thành tựu tiêu biểu nhất của văn học
Trung Quốc, là đỉnh cao của thơ cổ điển Trung Quốc, đồng thời là một thành tựu
đột xuất của thi ca nhân loại. Cho đến nay các nhà sưu tầm và nghiên cứu còn
lưu lại được gần 50.000 bài thơ của hơn 2000 nhà thơ Đường. Thơ Đường vừa

đó cũng là điều tôi luôn băn khoăn trăn trở.
II. THỰC TRẠNG DẠY - HỌC THƠ ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG THCS:
Trong quá trình làm công tác quản lí chuyên môn và trực tiếp giảng dạy ở
đơn vị thường xuyên tham gia vào các hoạt động chuyên môn: thiết kế bài dạy,
dự giờ đồng nghiệp, sinh hoạt chuyên môn – luận bàn phương pháp, kiểm tra
đánh giá học sinh tôi nhận thấy:
1. Về phía nội dung chương trình thơ trữ tình trung đại 7:
Phần nội dung chương trình Ngữ văn 7 kì I có nhiều bài thơ trung đại rất
tiêu biểu, đặc sắc. Trước đây, một số bài thơ này được học trong chương trình 9
nhưng theo quan điểm đổi mới, các tác phẩm này đã được đưa xuống chương
trình văn 7. Vì vậy để học sinh nắm được cái thần của bài thơ, hiểu được ý nghĩa
sâu xa của bài thơ quả là rất khó.
2. Về phía giáo viên:
Với những văn bản thơ chữ Hán, một số giáo viên khi phân tích chủ yếu
hướng dẫn các em phần nhiều bám vào bản dịch thơ mà sao nhãng hoặc quên
lãng bản phiên âm (bản gốc), HS không thể nhớ nổi một từ hay một câu thơ hay
trong bản gốc.
Tiếp cận với những bài thơ mĩ lệ, mang tính mẫu mực, một số giáo viên
tham phần bình, bình quá nhiều khiến thiếu thời gian để học sinh phát huy năng
lực sáng tạo của mình trong quá trình cảm nhận.
6
Một số giáo viên lại lại chỉ chú ý đến hệ thống câu hỏi mà chưa chú ý đến
phần bình, giờ dạy khô khan, điều đó khiến cho năng lực cảm thụ cái hay cái
đẹp của tác phẩm với học sinh chưa hoàn toàn đúng mức.
3. Về phía học sinh:
Nhiều HS tỏ ra ngại học phần thơ trữ tình trung đại, không hứng thú, nhất
là các bài thơ có bản phiên âm chữ Hán Nhiều học sinh chưa có thói quen chủ
động tìm hiểu khám phá bài học, còn thờ ơ, lãnh đạm với tác phẩm văn chương,
nhất là thơ, thường ít hiểu, ít yêu thơ. Các em học các bài thơ trong sách giáo
khoa cũng bình thường như các bài học khác, ít em có một quyển sổ đẹp để

- Tôi đã sử dụng câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra vốn từ Hán, từ Hán việt
và hiểu biết về bố cục (các văn bản đã được học).
- Tiến hành kiểm tra viết để đánh giá khả năng nhận thức của học sinh.
Qua một số bài kiểm tra trắc nghiệm và kiểm tra viết tôi thấy kết quả bài
làm của học sinh rất thấp.
* Kết quả khảo sát như sau.
Lớp Sĩ số
Hiểu Hiểu ít Không hiểu
SL % SL % SL %
7 46 6 13% 25 54% 15 33%
Từ thực tế và kết quả khảo sát tôi nhận thấy rằng: kết quả chủ yếu vẫn là
hiểu ít và không hiểu, tỉ lệ học sinh hiểu về thể thơ Đường là rất ít.Trước kết quả
đó tôi rất băn khoăn và đã tìm ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả các
giờ dạy học thơ Đường.
4. Các nhân tố khác:
Bên cạnh đó, thế kỉ 21 Hội nhập toàn cầu, đời sống kinh tế xã hội phát
triển, những môn học thời thượng (Toán, Lý, Hoá, Tin học, Ngoại ngữ…) quan
trọng hơn bao giờ hết thì văn chương không có tính năng ứng dụng, tương lai
người học không được đảm bảo, học sinh ngày càng xa rời văn chương. Đặc
biệt, một thực tại mà giáo viên nào cũng nhận thấy : Sách tham khảo, sách
hướng dẫn để học tốt, sách chuẩn kiến thức, những bài văn mẫu… quá nhiều, vô
hình dung đã làm cho học sinh bỏ rơi sách giáo khoa, học sinh tỏ ra biết đầy đủ
8
nội dung tác phẩm văn chương được học dựa vào bài soạn ở nhà nhưng chưa
một lần đọc bài văn, bài thơ trong sách giáo khoa, thầy có kiểm tra phát vấn thì
các loại sách tham khảo nghĩ hộ, nói hộ tất cả và khi giáo viên ra đề kiểm tra coi
nghiêm túc thì tất thảy đã phơi bày ra, học sinh không thích, không có hứng thú
học văn.
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Như trên tôi đã trình bày, dạy - học thơ Đường là vấn đề tương đối khó cho

Sau khi đã định hướng được nội dung; soạn bài, giáo viên tiến hành khâu
lên lớp. Vậy với bản thân tôi suy nghĩ thực hiện những giải pháp sau:
1. Giải pháp 1: Với những văn bản thơ Đường, phải cho học sinh
đọc cả phần nguyên tác, dịch thơ, dịch nghĩa
Việc tiếp xúc với các văn bản chữ Hán giúp học sinh hiểu đúng, hiểu rõ
về bài thơ từng câu, từng chữ, đồng thời là cơ hội tốt để bổ sung vốn từ Hán –
Việt cho học sinh. Cố nhiên, không nên và không cần thiết biến việc học bài thơ
thành việc học chữ Hán; cũng không đòi hỏi phải giải nghĩa tất cả các nghĩa của
từng từ, từng yếu tố như trong một cuốn từ điển tường giải. Việc đối chiếu bài
thơ dịch với nguyên tác chỉ cần làm ở những chỗ mà lời thơ dịch không bám sát
với chữ nghĩa trong nguyên tác.
Ví dụ: Khi dạy bài : “ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” cho học sinh
đọc và đối chiếu, phát hiện ra những chỗ chưa dịch đạt như: “ Sàng tiền minh
nguyệt quang” ( ánh trăng sáng đầu giường) → Đầu giường ánh trăng rọi.
Câu thơ dịch thiếu “ minh” (sáng) thay bằng chữ “ rọi”. Do đó câu thơ đã giảm
đi cái thanh tĩnh, nhẹ nhàng của đêm.
Trong bài “Hồi hương ngẫu thư” câu đầu hai bản dịch thơ chưa hết ý mà tác
giả muốn biểu lộ về khoảng thời gian xa quê: “Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi” (khi
đi còn rất trẻ “thiếu tiểu”, khi về đã rất già “lão đại”) câu dịch: “Khi đi trẻ, lúc
về già” hay “Trẻ đi, già trở lại nhà”.
10
Hay khi hướng dẫn học sinh đọc thêm bài : “ Xa ngắm thác núi Lư”, học
sinh phải chỉ ra cái chưa đạt trong bài dịch thơ ở một số chỗ như :
“ Sinh tử yên” → Khói tía bay.
Quải ( treo) → Câu thứ 2 dịch đã mất
2. Giải pháp 2: Tùy theo từng bài mà giáo viên có thể cho học sinh tìm
bố cục ( nếu như xét thấy cần thiết). Nếu như bố cục phục vụ cho việc phân tích
thì nên tìm hiểu. Còn nếu không, giáo viên cứ bám vào nôi dung để khai thác.
Điều nay sẽ giúp cho giờ dạy kiến thức sáng, rõ, học sinh dễ hiểu.
Trong thực tế giảng dạy, tôi thấy một số giờ dự, giáo viên cắt ra từng mảng

cách đi thích hợp : Trong quá trình dạy, tôi đã đạt tiêu đề theo hướng phân tích
như:
1.Cảnh trong đêm thanh tĩnh.
2.Cảm nghĩ của tác giả trong đêm thanh tĩnh.
Với cách đặt này, vừa rõ ràng ý trong bài, vừa làm rõ chủ đề mà giáo viên lại
dễ hướng dẫn cho học sinh cảm thụ.
3. Giải pháp 3: Phân tích (tìm hiểu chi tiết):
Trong qúa trình đi vào phân tích, giáo viên phải bám vào nguyên tác để tìm
ý. Không được phép phân tích từ ngữ, biện pháp nghệ thuật trong bài dịch. Bởi
vì đó không thể toát được hết nội dung của người viết, đôi khi nó đã chuyển thể
cả về thể loại. Song không phải từ nào cũng bình giá, cắt nghĩa mà chỉ dừng lại
những chữ thần, chữ có ý nghĩa đặc tả nội dung.
Ví dụ: Dạy bài “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh”, Giáo viên cho học sinh
hiểu.
- Cảnh đêm thanh tĩnh được gợi tả bằng hình ảnh nào ? Em có nhận xét gì
về hình ảnh ánh trăng ?
→ Học sinh phải trả lời được: Được gợi tả bằng hình ảnh “Minh nguyệt -
địa thượng sương” (Trăng sáng – ngỡ như sương mặt đất). Chứ không thể trả lời
“Trăng rọi” và giáo viên không được đi vào phân tích chữ “rọi”.
12
Hay dạy bài “ Hồi hương ngẫu thử ” (Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về
quê), giáo viên không nên đi vào phân tích tích thể loại của bài dịch thơ ( lục
bát); vừa mất thời gian mà lại không phục vụ cho bài dạy này. Khi dạy học bài
thơ này cần khai thác ngôn từ và nghệ thuật trong phần phiên âm, bởi sự thành
công của bài thơ là ở nghệ thuật “đối ngẫu” mà ở cả hai bản dịch không thể hiện
được. Ví như ở câu thơ thứ nhất: “Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi” trong một câu
thơ bảy chữ nhưng đã tạo dựng được hai sự đối lập. Đối lập giữa hành động xa
nhà – trở về nhà (li gia – hồi), giữa tuổi trẻ và tuổi già (thiếu tiểu – lão đại). Cấu
trúc đối ở đây đã khái quát cả một cuộc đời con người. Con người ấy lúc tuổi trẻ
đã nặng nợ công danh để lúc về già ngậm ngùi niềm cố thổ. Ở câu thứ hai:

Có sự khác nhau này là do đặc điểm của từ Hán và từ Việt. Bản dịch bao
giờ câu chữ cũng gần gũi, nhẹ nhàng, ít mang tính khái quát. Còn chữ Hán mang
tính khái quát, đậm chất suy tư. Vì vậy, có hiểu được điều đó thì mới hiểu được
nội dung một cáh đúng đắn.
Do đó, cách đọc chung của các bài thơ Đường là: trầm lắng, rõ ràng, nhịp
dứt khoát. Và khi phân tích giáo viên cần phải điềm tĩnh, trầm, suy tư, không
được phép vội vàng. Có như vậy học sinh mới cảm nhận được phong thái của
người xưa: ung dung, tự tại, đàng hoàng, suy tư mang tính triết lí.
Việc đọc này được áp dụng vào trước khi đi vào khai thác. Lúc này phải
cho học sinh đọc toàn bộ tác phẩm; hình dung được mạch cảm xúc. Khi đi vào
phân tích cụ thể thì phải kết hợp đọc và phân tích. Không được hiểu là chỉ có
giành thời gian cho phân tích.
4. Giải pháp 4: Chú trọng phần tổng kết và kỹ năng làm văn biểu cảm
Sau khi giáo viên đã giúp học sinh giải mã những nội dung trong tác
phẩm, hiểu đúng đắn thì phần cuối cùng phải cho học sinh nắm lại nội dung,
đặc sắc nghệ thuật, trình bày cảm nghĩ sau khi đọc bài thơ và dấu ấn của mình
về tác giả ( tài năng - nhân cách - tình yêu…). Đây là phần không thể thiếu, vì
nó giúp học sinh tái hiện đầy đủ lại nội dung và biết nâng cao, đánh giá giá trị
bài thơ, con người tác giả, đó cũng là sự khác nhau cơ bản của cách dạy đổi mới
14
với chương trình cũ. Có nghĩa là ở phần này học sinh biết được biểu cảm về cái
gì, biểu cảm như thế nào và từ đó nâng cao lên thành kỹ năng làm văn biểu cảm
ở lớp 7.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà bản thân đã ứng dụng vào việc soạn,
hướng dẫn học sinh tiếp cận các bài thơ Đường và bản thân thấy có hiệu quả
cao.
5 . Giải pháp 5 : Thiết kế bài dạy (giáo án minh họa):
Ngày soạn: 25/10/2012
Ngày dạy: 26/10/2012
Tiết 37: CẢM NGHĨ TRONG ĐÊM THANH TĨNH

? Nhận xét về hình thức, cấu tạo bài thơ
(Giống bài thơ nào đã học).
? So sánh nguyên âm và bản dịch ( Về nội
dung).
- Câu 1: Dịch thiếu ( minh).
- Câu 2: Dịch thừa ( phủ)
? Chia bài thơ làm hai phần: 2 câu đầu tả
cảnh, 2 câu sau tả tình có được không? Tại
sao?
? Bài thơ tác giả sử dụng những phương
thức biểu đạt nào? Phương thức nào là
chính.
? Bài thơ có mấy nội dung?
I. TÌM HIỂU CHUNG:
1. Tác giả, tác phẩm
2. Đọc, tìm hiểu từ khó:
3. Thể thơ, bố cục:
- Không được - Vì trong từng cặp
câu đều hoà quyện giữa cảnh và
tình
- Bài thơ sử dụng: Miều tả biểu cảm
( Biểu cảm là chính).
16
- Cho học sinh đọc lại bài thơ.
? Cảnh đêm thanh tĩnh được tác giả gợi tả
bằng hình ảnh nào? Em có nhận xét gì về
hình ảnh ánh trăng?
? Lần thứ nhất ánh trăng được miêu tả như
thế nào?
? Hiểu về câu thơ như thế nào?

→ Trăng là sự sống của đêm
2. Cảm nghĩ của tác giả trong
đêm thanh tĩnh
17
( Nhìn vào chú thích).
? Nỗi nhớ quê được tác giả thể hiện qua
câu thơ nào?
? Nhận xét nghệ thuật trong hai câu thơ
- Hành động “Cử đầu” có phải để kiểm
nghiệm ánh trăng không?
- Nhìn trăng sáng lập tức tác giả có hành
động gì?
( Hai hành động, hai tâm trạng trong một
con người).
? Có 2 ý kiến cho rằng: sự “Cúi đầu” ấy là
biểu đạt: Nỗi nhớ quê sâu nặng và sự tủi
hổ của 1 con người xa quê mãi mãi? ý
kiến em?
? Hình ảnh lặng lẽ cúi đầu gợi cho em suy
nghĩ gì về cuộc đời và tình cảm tác giả?
?Đối với tác giả ánh trăng ngoài nỗi nhớ
quê còn gợi điều gì?
? Đọc bài thơ em cảm nhận được tình cảm
nào của tác giả ký thác vào bài thơ?
? Qua hai bài thơ của Lý Bạch, em hiểu
được gì về hồn thơ của ông.
Giáo viên đưa bài tập.
- “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương”
→ Đối lập: Hành động ( Cử đầu-

lớp 7. Bài thiết kế này được chia làm hai phần; Phần bên trái là hệ thống câu
hỏi để tìm hiểu; phần bên phải là những định hướng trả lời của học sinh. Để có
tiết dạy này, tôi đã thực hiện, bám vào đúng các thao tác, xác định cho mình
một quan điểm rõ ràng như đã nêu ở phần trên.
IV. KIỂM NGHIỆM:
Năm học 2012-2013 tôi đã mạnh dạn áp dụng những biện pháp nêu trên vào
thực tiễn dạy học tôi thấy học sinh tiếp thu bài tốt hơn, các em hứng thú học
hơn, còn ít hiện tượng ngại tiếp xúc với những bài thơ Đường luật. Vẫn bằng
phương pháp tiến hành khảo sát (như năm học 2011-2012 đã nêu ) trên đối
tượng học sinh khối 7 năm 2012-2013 đã có hiệu quả rõ rệt, số học sinh có vốn
hiểu biết về thơ Đường tăng:
Lớp Sĩ số
Hiểu Hiểu ít Không hiểu
SL % SL % SL %
7 40 20 50 18 45 2 5
Từ những tiến bộ rõ rệt của học sinh sau khi học những tác phẩm thơ
Đường các em có tâm thế tốt hơn và thái độ tích cực trong học tập môn ngữ văn,
chính vì thế kết quả học tập môn học so với cùng kì năm trước đã chuyển biến:
19
Thời điểm
Số HS
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
Học kì I
năm học
2011-2012
46 2 4,3 8 17,4 26 56,6 10 21,7
Học kì I
năm học
2012-2013

đáng trong giờ học để học sinh thấy được vai trò làm chủ của mình và từ đó sẽ
có thói quen tích cực, sáng tạo trong học tập.
Trong phạm vi nghiên cứu hẹp và là kinh nghiệm của bản thân nên trong
quá trình thực hiện không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự đóng
góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp và Hội đồng khoa học các cấp.
xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Nguyễn Thị Lưu
Bá Thước, ngày 20 tháng 03 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
NGƯỜI THỰC HIỆN
Lê Bá Mơ
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN ĐỀ
I-LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
2
PHẦN HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
3
II. THỰC TRẠNG DẠY HỌC THƠ ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG THCS
3
1. Về phía nội dung chương trình thơ trữ tình trung đại 7 3
2. Về phía giáo viên 4
3. Về phía học sinh 4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status