Kinh nghiệm dạy học Nguyễn Thị Diên
MỞ ĐẦU
Trong giảng dạy, kết quả học tập của học sinh và nhất là kết quả thi chọn
học sinh giỏi các cấp ở các bộ môn, trước hết là thước đo năng lực của
giáo viên và là tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng dạy và học ở mỗi
nhà trường.
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi – Công tác mũi nhọn của mỗi
một trường học. Do vậy ở các nhà trường nói chung và ở trường THCS
Phụng Công nói riêng, việc bồi dưỡng học sinh giỏi thường được đặt
trong tiêu điểm và được ban lãnh đạo nhà trường hết sức quan tâm ngay
từ đầu mỗi năm học mới.
Tuy nhiên việc bồi dưỡng học sinh để chọn được đội tuyển đi dự
thi chọn học sinh giỏi các cấp lại không phải là việc làm dễ dàng mà
thường là một công việc khá khó khăn và tốn nhiều công sức và thời
gian. Giáo viên được cử bồi dưỡng chọn học sinh giỏi, nhiều giáo viên
cũng cho đó là việc làm quá sức, không mấy thích thú.
Trong nhiều năm được nhà trường phân công làm giáo viên bồi
dưỡng học sinh giỏi để dự thi chọn học sinh giỏi cấp huyện và cấp tỉnh
môn Sinh học lớp 9. Trong mỗi năm tôi lại có thêm được một số kinh
nghiệm trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi – Công việc mà thật không
mấy dễ dàng.
Qua nhiều năm tích luỹ kinh nghiệm qua các kỳ thi chọn học sinh
giỏi các cấp, tôi đã tổng kết được một số kinh nghiệm, mà tôi đã áp dụng
có hiệu quả nhất định. Tôi xin được trình bầy để cùng các bạn đồng
nghiệp chia sẻ và cùng các bạn đồng nghiệp xây dựng thành kinh nghiệm
dạy học sinh giỏi ngày càng hoàn thiện hơn, có hiệu quả hơn, đáp ứng
được với nhiệm vụ mà mỗi nhà trường giao cho.
Hoàn thành bản báo cáo kinh nghiệm này chúng tôi được sự tham
gia góp ý của các đồng nghiệp trong tổ chuyên môn nhà trường và đặc
biệt là các đồng chí trong ban nghiệp vụ môn Sinh học của ngành GD -
ĐT huyện Văn Giang, của nhiều đồng chí giảng dạy môn Sinh học ở các
vì trong chương trình quá ít các giờ học giành cho học sinh làm bài tập.
Thứ hai: Di truyền học cho học sinh lớp 9, tuy yêu cầu của chương
trình mới chỉ đặt ra cho học sinh là tiếp cận với các khái niệm về di
truyền học và làm một số bài tập di truyền đơn giản. Nhưng lại yêu cầu
học sinh giải thích được một số vấn đề liên quan đến đời sống, xã hội và
có thể áp dụng được vào thực tiễn sản xuất chăn nuôi, trồng trọt. Bởi có
thể một bộ phận học sinh sau khi hoàn thành chương trình THCS sẽ đi
vào lao động sản xuất, sẽ đem kiến thức về di truyền học áp dụng vào
cuộc sống đem lại hiệu quả cao.
Mặt khác một bộ phận học sinh sẽ tiếp tục học lên cấp THPT, để
tạo cơ sở vững chắc cho các em học tiếp chương trình sinh học ở bậc
THPT, thì nhiệm vụ ở cấp học THCS là người giáo viên phải tạo được
tiền đề cơ sở kiến thức vững vàng, sự yêu thích, lòng say mê học tập môn
sinh học nói chung và phần di truyền học nói riêng cho học sinh.
Chính vì yêu cầu nhiều chiều này mà khi thực hiện dạy phần di
truyền học trong chương trình Sinh học lớp 9 lại càng khó hơn, làm sao
vừa phải thực hiện đúng theo chương trình, vừa phải cung cấp được cho
học sinh những kỹ năng cần thiết giải được các bài toán về di truyền học
và đó cũng là yêu cầu để sau này các em có thể giải được các bài toán
Trường THCS Phụng
Công
2
Kinh nghiệm dạy học Nguyễn Thị Diên
thực tế trong lao động sản xuất và cuộc sống xã hội hàng ngày. Đây cũng
chính là yêu cầu của việc nâng cao chất lượng dạy học của môn học.
Trong các chuyên đề và qua các cuộc hội thảo về dạy học môn
Sinh học, do phòng GD Văn Giang tổ chức, tôi đã có dịp trao đổi với
nhiều giáo viên cùng dạy Sinh học 9, vấn đề dạy phần di truyền như thế
nào cho hay, cho tốt, để học sinh dễ hiểu bài và vận dụng được kiến thức
di truyền trước hết là giải các bài tập? sau đó là ứng dụng vào thực tế sau
- Tập trung rèn kỹ năng cho bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học 9.
- Kiểm tra đánh giá vào giữa tháng 12 hàng năm, so sánh đối chiếu kết
quả của 2 nhóm lớp này.
Trường THCS Phụng
Công
3
Kinh nghiệm dạy học Nguyễn Thị Diên
II – NỘI DUNG
1 – Cơ sở thực tế.
Qua nhiều năm dạy học, chúng tôi đã nhận thấy học sinh thường
bộc lộ rất nhiều nhược điểm, thiếu sót mà tập trung vào một số vấn đề
sau.
* Hay lầm lẫn một số khái niệm.
Giữa tính trạng và kiểu hình: Khi nào dùng tính trạng, khi nào dùng kiểu
hình của cá thể; lẫn giữa cặp gen với kiểu gen, nhất là trong trường hợp
chỉ xét 1 cặp tính trạng đối lập…
* Thiếu sót về kỹ năng làm bài.
Phần lớn học sinh khi gặp một bài tập cụ thể không định hướng được
cách giải vì không phân tích được đề bài. Từ đó sẽ rất lúng túng hoặc
không thể làm được bài
* Thiếu sót trong trình bày bài làm.
Học sinh đều không biết trình bày một bài làm cho sáng sủa, khúc
triết, rõ ràng, mạch lạc.
Đọc một bài làm của học sinh cả một trang giấy mà vẫn không
hiểu học sinh định nói gì, làm gì, thành ra bài làm thì rất dài mà vẫn
không toát lên được nội dung cần trình bày, cần diễn đạt, do đó bài làm
vẫn bị điểm thấp.
Phần tự luận cần phải diễn đạt bằng lời văn một nội dung, một kiến thức
khoa học nào đó, phần lớn học sinh trình bày không theo một trật tự
Lôgíc khoa học mà trình bày tuỳ tiện, đảo lộn nội dung, tuy về hình thức
- Học sinh hay lẫn giữa tính trạng với kiểu hình, không phân biệt được
khi nào thì dùng tính trạng, khi nào thì dùng kiểu hình, nhất là khi phép
lai chỉ theo dõi sự di truyền 1 cặp tính trạng tương phản.
Mặt khác do chương trình bố trí thời gian cho rèn luyện cách làm
toán di truyền quá ít ỏi ( Chỉ có 1 tiết trong cả học kỳ), nên phần lớn trên
giờ học chỉ tranh thủ thời gian kiểm tra bài cũ đầu giờ để củng cố hoặc
chữa những bài tập đơn giản mà thôi. Như vậy: Trong phân phối chương
trình ở các giờ trên lớp không thể rèn kỹ năng làm bài cho học sinh được
mà phần lớn là trong các buổi phù đạo hoặc bồi dưỡng học sinh khá -
giỏi…
Chính vì những lý do trên mà chúng tôi viết bản báo cáo này nhằm
chia sẻ cùng các đồng chí, đồng nghiệp những kinh nghiệm mà chúng tôi
đã trải nghiệm và thu được kết quả cao trong các kỳ thi chọn học sinh
giỏi cấp huyện và cấp tỉnh môn Sinh học 9 trong các năm qua. Đồng thời
cũng qua đó góp phần thúc đẩy quá trình học tập và rèn luyện kỹ năng
cho học sinh đại trà.
2 – Thực trạng vấn đề nghiên cứu.
Trong quá trình làm bài của học sinh, đa phần học sinh không phân
tích được đề bài, từ đó không định hướng, phân lọai được kiểu bài, dạng
bài thì rất khó có khả năng làm bài.
Trước hết chúng tôi rèn khả năng phân tích đề bài từ đó phát triển thành
kỹ năng trong làm các bài tập di truyền.
Để phục vụ mục đích này trong giảng dậy chúng tôi đã phân chia
phần lý thuyết và phần bài tập minh hoạ để các em vận dụng theo đơn vị
kiến thức, tức là đi theo lộ trình dọc, xâu chuỗi và xuyên suốt các
chương, các phần kiến thức có liên quan gắn bó với nhau mà không đi
tách theo các chương, các phần như trong sách giáo khoa mà các em đã
được học.
Trường THCS Phụng
Công
li độc lập hoặc di truyền liên kết.
- Nếu là 2 cặp tính trạng tương ứng đối lập thì sẽ thuộc quy luật di
truyền hoặc là Phân ly độc lập của Men Đen hoặc thuộc quy luật di
truyền liên kết.
Để phân biệt hai quy luật này sẽ căn cứ vào các dấu hiệu sau:
- Đề bài đã cho sẵn quy luật khi biết: Mỗi gen nằm trên một NST thường
khác nhau và quy định một tính trạng.
- Khi đề bài chỉ cho biết: Mỗi Gen quy định một tính trạng mà không cho
biết, mỗi Gen có nằm trên một NST khác nhau hay không? thì chưa chắc
chắn đó là sự di truyền các cặp tính trạng sẽ tuân theo quy luật Di truyền
Trường THCS Phụng
Công
6
Kinh nghiệm dạy học Nguyễn Thị Diên
phân ly độc lập của Men Đen mà có thể tuân theo quy luật di truyền liên
kết.
Để khẳng định chúng tuân theo quy luật di truyền nào, buộc chúng
ta phải tiến hành phân tích bài toàn theo các bước sau:
Bước 1: Phân tích sự di truyền từng cặp tính trạng, dựa vào tỉ lệ phân ly
kiểu hình ở đời con lai ( F
1
hoặc F
2
)
Bước 2: Phân tích sự di truyền chung cả 2 cặp tính trạng, dựa vào tỉ lệ
phân ly kiểu hình chung cho cả 2 cặp tính trạng ở đời con lai (F
1
hoặc
F
2
Trường THCS Phụng
Công
7
Kinh nghiệm dạy học Nguyễn Thị Diên
( 3 Đỏ : 1 Xanh) x ( 3 Cao : 1 Thấp)
≠
9 Đỏ, Cao : 3 Đỏ, Thấp : 3 Xanh,
Cao : 1 Xanh, Thấp
Hoặc
Cặp tính trạng thứ nhất là: 3 Đỏ : 1 Xanh
Cặp tính trạng thứ hai là: 1Cao : 1 Thấp
Sự di truyền cả hai cặp tính trạng là:
( 3 Đỏ : 1 Xanh) x (1Cao : 1 Thấp)
≠
3 Đỏ, Cao : 3 Đỏ, Thấp : 1 Xanh,
Cao : 1 Xanh, Thấp
Hoặc
Cặp tính trạng thứ nhất là: 3 Đỏ : 1 Xanh
Cặp tính trạng thứ hai là: 100 % cây Cao
Sự di truyền cả hai cặp tính trạng là:
( 3 Đỏ : 1 Xanh) x 100% Cao
≠
3 Đỏ, Cao : 1 Xanh, Cao
Thì sự di truyền các cặp tính trạng này tuân theo quy luật di
truyền Liên Kết gen
Đây vừa là cách phân tích đề bài để định hướng cách giải và tìm ra
quy luật di truyền đảm bảo nhanh, chính xác và cũng vừa là cách giải
một bài toán thuộc quy luật di truyền.
* Kỹ năng xác định tương quan trội lặn giữa các tính trạng
tương ứng đối lập trong mỗi cặp tính trạng của bài toán đã cho.
trạng trội, còn tính trạng có tỉ lệ 1 (Hoặc
≈
1 ) là tính trạng lặn tương
ứng.
Trường THCS Phụng
Công
8
Kinh nghiệm dạy học Nguyễn Thị Diên
- Khi đã xác định được quy luật di truyền là Phân li độc lập thì:
Kiểu hình chiếm tỉ lệ 9/16 ( 56,25%) là kiểu hình của 2 tính trạng Trội,
Kiểu hình chiếm tỉ lệ 1/16 ( 6,25%) là 2 tính trạng Lặn tương ứng.
- Các dấu hiệu khác.
Từ đó quy ước Gen để tiến hành giải bài toán ( HS tự làm được)
* Kỹ năng xác định kiểu Gen của P.
- Khi con lai đồng tính mà P
T/C
thì dễ dàng xác định được ngay
kiểu Gen của P.
- Khi con lai có tỉ lệ phân ly là 3 : 1. Đối với 1 cặp tính trạng. Thì
P bao giờ cũng chỉ có 1 kiểu Gen duy nhất là cả Bố và Mẹ đều chỉ có 1
cặp Gen dị hợp (Aa).
- Khi con lai có tỉ lệ phân ly là 3 : 1. Đối với 2 cặp tính trạng
(thuộc quy luật di truyền liên kết ). Thì P bao giờ cũng chỉ có 1 kiểu Gen
duy nhất là cả Bố và Mẹ đều có 2 cặp Gen dị hợp, trong quy luật di
truyền liên kết kiểu đồng (
ab
AB
).
- Khi con lai có tỉ lệ phân ly là 1 : 2 : 1. Đối với 1 cặp tính trạng.
Thì P bao giờ cũng chỉ có 1 kiểu Gen duy nhất là cả Bố và Mẹ đều có 1
Kinh nghiệm dạy học Nguyễn Thị Diên
+ Với cây cà chua thứ nhất: Được thế hệ lai, trong đó có 25% cây
quả vàng, bầu dục.
+ Với cây cà chua thứ hai: Được thế hệ lai, trong đó có 12,5% cây
quả vàng, bầu dục.
+ Với cây cà chua thứ ba: Được thế hệ lai, trong đó có 6, 25% cây
quả vàng, bầu dục.
Cho biết mỗi Gen quy định một tính trạng, nằm trên một NST
thường. Các tính trạng trội tương phản là quả đỏ, tròn.
Hãy giải thích và viết sơ đồ lai cho mỗi trường hợp.
Bài toán 2 :
Cho lai 2 thứ lúa thuần chủng thân cao, hạt tròn và thân thấp, hạt
dài được F
1
đồng loạt cây thân cao, hạt tròn. Cho F
1
tự thụ phấn ở F
2
thu
được 75% cây thân cao, hạt tròn và 25% cây thân thấp, hạt dài.
1 - Xác định quy luật di truyền chi phối phép lai và lập sơ đồ lai từ P
→
F
2
2 - Muốn ở F
2
có ít kiểu Gen và ít kiểu hình nhất thì phải cho cây F
1
lai
cây quả Vàng, Bầu dục.
Đây chính xác là tỉ lệ kiểu hình của 2 tính trạng Lặn.
Như vậy: Các tính trạng Lặn sẽ là quả Vàng, Bầu dục. Hai tính trạng trội
tương ứng sẽ là: quả Đỏ,Tròn.
Cần lưu ý: Khi viết cần phải viết các tính trạng tương ứng trong
từng cặp tính trạng một. Không được viết: Tính trạng quả Vàng, Bầu dục
là 2 tính trạng Lặn còn 2 tính trạng Trội là quả Tròn, Đỏ.
Quy ước Gen và biện luận để lập sơ đồ lai thích hợp (HS tự làm được).
Bài toán 2:
Phân tích đề bài:
* Bước 1: Xác định các cặp tính trạng tương ứng - đối lập.
- Đề bài đã cho sẵn các cặp tính trạng tương ứng - đối lập là 2 cặp tính
trạng. Như vậy bài toán không thể sử dụng quy luật di truyền phân ly của
Men Đen mà phải thuộc quy luật di truyền hoặc là phân ly độc lập hoặc
là quy luật di truyền liên kết.
* Bước 2: Xác định quy luật di truyền là di truyền phân ly độc lập
hay là quy luật di truyền liên kết.
Đề bài đã cho biết mỗi Gen quy định một tính trạng mà không cho biết
các Gen này có nằm trên các NST khác nhau hay không, như vậy chúng
ta không thể xác định được sự di truyền của các cặp tính trạng này chắc
chắn sẽ tuân theo quy luật di truyền “ Phân ly độc lập của Men Đen”. Mà
có thể tuân theo quy luật di truyền liên kết?
Việc xác định quy luật di truyền phải tiến hành theo trình tự như sau:
+ Xác định sự di truyền từng cặp tính trạng riêng rẽ.
- Sự di truyền cặp tính trạng chiều cao của thân:
75% cây thân cao : 25% cây thân thấp = 3 : 1 tuân theo quy luật phân li
của MenĐen. Trong đó tính trạng thân cao là trội so với tính trạng thân
thấp.
- Sự di truyền cặp tính trạng về dạng hạt.
75% cây hạt tròn : 25% cây hạt dài = 3 : 1 tuân theo quy luật phân li của
do Gen tổng hợp ra và yêu cầu tính toán cho từng mạch đơn của gen.
Cách làm dễ nhất, nhanh nhất, chính xác nhất và không nhầm lẫn
nhất là vẽ sơ đồ cấu trúc Gen trên mô hình ở dạng tháo xoắn ( Trên mặt
phẳng).
Với đại diện của 4 loại Nuclêotít T, A, G, X trên từng mạch đơn
là : T
1
, A
1
, G
1
, X
1
và A
2
, T
2
, X
2
, G
2
.
Nếu bài toán cho có cấu trúc của phân tử mARN thì cũng được
đưa trên sơ đồ cấu trúc dạng mạch thẳng phía dưới cấu trúc của Gen và
các thông số thuộc cấu trúc phân tử mARN cũng được biểu diễn trên sơ
đồ này.
Sơ đồ biểu diễn:
Trường THCS Phụng
Công
Các loại bài tập dạng này khi đọc đầu bài thì cảm thấy rất rắc rối
và quả thật nếu chỉ tính toán bằng các phép tính toán học thì rất dễ nhầm
lẫn và sai sót, nhưng khi ta đã biểu diễn được trên sơ đồ mạch thẳng thì
học sinh nhận ra ngay mà không hề phải tính toán gì, vì đây là những con
số hết sức đơn giản và thường là số nhỏ và lại chẵn ( vì tính chất của các
Nuclêôtít trên Gen hoặc trên phân tử mARN là số nguyên dương, nên
không thể là những số vô tỉ). Học sinh chỉ cần theo nguyên tắc bổ sung
(NTBS) là tính ngay được các giá trị mà đề bài yêu cầu và như vậy khi
học sinh lập xong sơ đồ mạch thẳng, coi như bài toán đã được làm ra, chỉ
cần theo NTBS , một công việc hết sức đơn giản đối với mọi học sinh.
Việc làm này tưởng như đơn giản, nhưng không phải giáo viên dạy
bồi dưỡng HSG nào cũng biết vận dụng. Qua các năm dạy đội dự tuyển
chọn HSG thì hầu như chưa em nào biết vận dụng cách làm này.
Chỉ một kỹ năng hết sức đơn giản thôi, nhưng lại hiệu quả vô
cùng, giúp các em khi đi vào trong rừng kiến thức mênh mông nhưng
luôn luôn tìm được đúng lối đi mà không bao giờ sợ lạc.
2.3 – Rèn luyện kỹ năng trình bầy bài làm cho học sinh.
Không riêng gì môn Sinh học, mà ở tất cả các bài làm kiểm tra
( hoặc làm bài thi) của bất kỳ môn học nào đều cũng rất cần cách trình
bầy khoa học. Một bài làm cho dù có làm đúng 100% các yêu cầu của đề
bài, nhưng không trình bày một cách rõ ràng, khúc triết, sáng sủa thì
cũng không bao giờ được điểm tối đa.
Đặc điểm khi giải một bài toán di truyền, tương tự như làm một
bài toán về chứng minh trong hình học. Tất cả các ý kiến nêu ra đều phải
có căn cứ xác đáng, không thể đưa ra một cách vô căn cứ, cho dù nội
dung đưa ra là hoàn toàn đúng, nhưng nếu không có căn cứ thì vẫn không
được xác nhận và bài làm thiếu chặt chẽ. Hầu hết các em khi mới được
tập trung về trong đội dự tuyển đều mắc phải lỗi này.
Những căn cứ đảm bảo cho những vấn đề được đưa ra là:
- Căn cứ vào các dữ kiện mà đề bài đã cho
bước sang xét trường hợp 1 và 2 sẽ không phải xác định lại tương quan
trội lặn nữa.
Trong bài làm của học sinh qua nhiều năm và ngay cả học sinh
trong đội dự tuyển thi chọn HSG qua một số bài kiểm tra học sinh đều
bộc lộ cách trình bầy tối và rối, không sáng sủa mạch lạc. Yêu cầu học
sinh phải thể hiện được trong bài làm đang trình bầy phần nào, câu nào, ý
nào, trình bầy phải dứt mạch, mỗi một nội dung kiến thức ( Nếu là phần
tự luận) phải được thể hiện bằng một tiểu mục rõ ràng. (Lỗi trình bầy bài
làm này của học sinh không chỉ là riêng lỗi của giáo viên dạy môn Sinh
học mà là lỗi của nhiều môn cộng lại đều không chú ý rèn cách trình bày
bài làm cho học sinh từ nhiều năm)
Ví dụ:
Khi so sánh có sự giống nhau, có sự khác nhau thì phải được trình
bầy bằng 2 tiểu mục nhỏ.
a) Sự giống nhau:
Trường THCS Phụng
Công
15
Kinh nghiệm dạy học Nguyễn Thị Diên
b) Sự khác nhau: …
Trên đây chúng tôi trình bầy việc rèn kỹ năng làm bài cho học sinh
kiểu tự luận, thì liệu có ích gì cho học sinh khi làm bài thi trắc nghiệm?
Tôi tự đặt ra vấn đề cho chính tôi và cũng là vấn đề mà chắc hẳn đồng
nghiệp nào đọc bản báo cáo này cũng sẽ đặt ra vấn đề như vậy.
Nhưng không : Rèn kỹ năng làm bài – Rèn cách trình bầy khoa
học, không chỉ đơn thuần là rèn về kiến thức mà rộng hơn, cao hơn là rèn
nhân cách cho học sinh, rèn một cách tư duy nhanh nhạy, sáng tạo, rèn
phong cách làm việc cẩn thận, tỉ mỉ, chính xác và đó chính là rèn con
người.
Trong làm câu hỏi trắc nghiệm thì lại càng rất cần. Cần vì thời gian
≥
Bài có
điểm
7
≥
Sĩ
số
Bài có
điểm
5
≥
Bài có
điểm
7
≥
SL % SL % SL % SL %
2007 - 2008 40 25 62.5 9 22.5 38 28 73.6 14 36.8
2008 – 2009 42 24 57.1 10 23.8 37 25 67.5 14 37.8
Trường THCS Phụng
Công
16
Kinh nghiệm dạy học Nguyễn Thị Diên
2009 - 2010 38 21 55.2 7 18.4 42 29 69.0 15 35.7
Độ lệch bình quân 58.3% 21.6% 70.0% 36.7%
III – KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Những kết luận đánh giá cơ bản về kinh nghiệm.
Những kinh nghiệm dạy học được trình bầy ở trên, tôi đã áp dụng
trong thực tế dạy học trong 3 năm, thực sự đã nâng cao kết quả học tập
phần di truyền, không chỉ cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi mà còn có
ảnh hưởng tác dụng lớn tới chất lượng đại trà của toàn lớp học nói chung
Công
17
Kinh nghiệm dạy học Nguyễn Thị Diên
2.5 – Không thể đốt cháy giai đoạn, mà cần phải kiên trì rèn luyện
các kỹ năng cho học sinh. Tránh quan điểm hết sức sai lầm là: chỉ cần
làm đúng đáp số là được
2.6 - Những vấn đề chúng tôi nêu trên đây có thể áp dụng được với
mọi giáo viên dạy phần di truyền trong chương trình Sinh học 9 mà
không cần bất cứ điều kiện gì kèm theo: Không cần điều kiện về cơ sở
vật chất, về nhiều tài liệu tham khảo cũng như các điều kiện khác. Bởi vì
đây chỉ là rèn kỹ năng chứ không phải là nâng cao kiến thức cao xa nào
đó.
Kinh nghiệm dạy học này của tôi, còn được áp dụng để rèn kỹ
năng cho học sinh đại trà trong các buổi phù đạo, thêm ngoài chương
trình trên lớp cũng đem lại hiệu quả tốt.
Từ kinh nghiệm trên, tôi đã rút ra bài học bổ ích sau:
- Giáo viên phải thực sự tâm huyết với bộ môn mình giảng dạy,
biết say sưa tìm tòi những kiến thức khó dạy của phần di truyền
- Cần phải đào sâu những kiến thức để truyền tải tới học sinh sao
cho dễ hiểu, dễ nhớ đặc biệt là các bước giải bài tập di truyền
- Trong quá trình giảng dạy phát hiện ra những lỗi sai học sinh hay
mắc từ đó đưa ra cách sửa sai đạt hiệu quả
- Cần phải làm cho học sinh say sưa môn học, yêu thích môn học
từ đó các em có hứng thú trong giải các dạng bài tập
* *
*
Để ngày càng hoàn chỉnh hơn kinh nghiệm dạy học phần di truyền
trong chương trình Sinh học 9, ở các nhà trường THCS. Tôi chân thành
đề nghị các đồng chí, đồng nghiệp tích cực cộng tác và trao đổi, để kinh
nghiệm dạy học này ngày càng hoàn chỉnh và đi vào thực tế hoạt động
Trần Quý Thắng – Phạm Thanh Hiền
Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn sinh học
THCS – NXBGD – 2008
Huỳnh Văn Hoài – Võ Hữu Tình – Nguyễn Văn Sang
Trắc Nghiệm sinh học THCS 9 – NXB Đà Nẵng – 2005.
Vũ Đức Lưu.
Trường THCS Phụng
Công
19
Kinh nghiệm dạy học Nguyễn Thị Diên
7
8
9
10
11
12
13
Tuyển chọn phân loại bài tập di truyền hay và khó – NXBGD –
1998
Phan Thu Phương.
Câu hỏi và bài tập trắc nghiệm THCS 9NXB ĐHSP - 2005
Nguyễn Văn Sang – Nguyễn Thị Vân - Lê Sơn Hoà.
Sinh học nâng cao THCS 9 – NXB ĐGQG Thành phố Hồ Chí
Minh – 2005
Nguyễn Văn Sang – Nguyễn Thị Vân
Phân dạng và hướng dẫn giải bài tập sinh học 9 – NXB Đà Nẵng
- 2005
Nguyễn Văn Sang – Nguyễn Thị Vân
Hướng dẫn làm bài tập sinh học 9 – NXB ĐHQG - Thành phố
Hồ Chí Minh – 2005
III – Kết luận và khuyến nghị 15
1 – Những kết luận đánh giá cơ bản về kinh nghiệm 15
2 – Những đề xuất và kiến nghị ứng dụng 16
Ý KIẾN NHẬN XÉT CỦA HĐKH NGÀNH GIÁO DỤC VĂN GIANG
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Trường THCS Phụng
Công
21
Kinh nghiệm dạy học Nguyễn Thị Diên
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Đánh giá: . . . . điểm
Xếp loại: . . . . .
Văn Giang, ngày tháng 3 năm 2011
TM. HĐKH PHÒNG GD VĂN GIANG
Ý KIẾN NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM KHẢO
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .