rèn kĩ năng giải bài tập phần di truyền trong chương trình sinh học 9 - Pdf 17

UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂN UYÊN
  
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN KĨ NĂNG GIẢI BÀI TẬP PHẦN
DI TRUYỀN SINH HỌC 9
Người thực hiện: Hoàng Thị Tịnh
Chức vụ: TT Tổ Sinh- Hoá - Địa
Đơn vị công tác: Trường THCS Pắc Ta
Pắc Ta, tháng 3 năm 2013
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
THPT: Trung học phổ thông
THCS: Trung học cơ sở
SKKN: Sáng kiến kinh nghiệm
SGK: Sách giáo khoa
HS: Học sinh
NTBS: Nguyên tắc bổ sung
NST: Nhiễm sắc thể
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài.
1. Lí do khách quan
Sinh học là môn khoa học cơ bản, đã rất quen thuộc với các em học sinh ngay
từ tiểu học, song việc dạy tốt và học tốt môn Sinh học đang là yêu cầu và mong muốn
của toàn xã hội, nó góp phần hình thành nhân cách và là cơ sở khoa học để học tập,
nghiên cứu khoa học, lao động và tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Khi giảng dạy
môn Sinh học khối 9 các thầy cô đều nhận thấy, kiến thức môn Sinh đang ngày trở
nên sâu hơn, rộng hơn. Do vậy việc dạy tốt môn Sinh đang là một vấn đề hết sức
quan trọng, với mong muốn cung cấp và hình thành cho học sinh bước đầu có những
kĩ năng cơ bản để giải các bài tập Sinh học vì đây cũng là nền tảng ban đầu để các em
học sinh có thể học tốt môn Sinh ở bậc THPT.
2. Lí do chủ quan

bản, sau đó phân dạng bài một mặt tôi hướng dẫn học sinh ghi nhớ kiến thức về lý
thuyết, mặt khác tôi hướng dẫn các em học sinh cách nhận biết và phân loại các dạng
bài tập, cách biện luận, cách giải bài tập đơn giản sau đó nâng cao dần các dạng bài
tập. Với phương pháp này sẽ giúp các em học sinh có hứng thú với môn học, nhất là
học sinh yếu, và khuyến khích các em học sinh tham gia vào đội tuyển học sinh giỏi
các cấp.
PHẦN NỘI DUNG.
I. Cơ sở lý luận.
Di truyền là một bộ môn sinh học được nghiên cứu về tính biến dị và di truyền
ở các sinh vật. Kể từ thời tiền sử, thực tế về việc các sinh vật sống là thừa hưởng các
đặc tính của bố, mẹ truyền đạt lại cho.Tuy nhiên di truyền học hiện đại tìm hiểu về
quá trình di truyền, chỉ được ra đời vào giữa thế kỉ XIX với những công trình nghiên
cứu của Gregol- Men-đen. Các quy luật di truyền của Men-đen lúc đó chỉ mới được
đề cập, và thực tế di truyền đóng vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển của
sinh vật, ví dụ: khi nghiên cứu một gen người ta có thể xác định được chiều dài của
gen, khối lượng gen có thể có trong một cơ thể, hay nghiên cứu màu sắc của hoa ở các
thế hệ tiếp theo xuất hiện một số tính trạng khác với thế hệ ban đầu Như vậy với
kiến thức về di truyền luôn làm cho HS học cảm thấy rất khó, nhất là những bài tập về
di truyền.
Thực tế cho thấy kiến thức Sinh học về di truyền và biến dị rất trừu tượng, mỗi
dạng bài tập khác nhau đều có những đặc trưng và cách giải riêng. Bên cạnh đó nội
dung SGK không cung cấp cho học sinh những công thức để giải các dạng bài tập.
Một lí do khách quan là các em học sinh không có nhiều hứng thú với môn Sinh học,
việc nắm bắt kiến thức và tìm hiểu các cách giải các bài tập đối với các em học sinh
còn rất nhiều khó khăn. Như vậy việc rèn cho học sinh có những phương pháp, kĩ
năng cơ bản để vận dụng giải các bài tập phần di truyền đã thúc đẩy tôi nghiên cứu
sáng kiến “Rèn kĩ năng giải bài tập phần di truyền trong chương trình sinh học 9”.
II. Thực trạng của vấn đề. Qua kiểm tra cuối năm học 2010-2011, kiểm tra
hết học kì I và giữa học kì II năm học 2011- 2012, học kì I năm học 2012-2013. Kết
quả thi HSG cấp huyện năm 2012 tôi thu được kết quả như sau:

Vận dụng
còn yếu
Chưa vận
dụng được.
9
83
SL % SL % SL % SL %
6 7,2 10 11,9 35 41,7 33 39,3
Năm học 2012-2013
* Về kiến thức:
Khối TSHS Giỏi Khá TB Y
121
SL % SL % SL % SL %
3 2,5 4 3,3 72 59,5 42 34,7
* Về kĩ năng vận dụng:
Khối TSHS Vận dụng tôt
Vận dụng
khá
Vận dụng
còn yếu
Chưa vận
dụng được.
121
SL % SL % SL % SL %
3 2,5 4 3,3 72 59,5 42 34,7
Từ những kết quả như trên đã luôn làm tôi trăn trở với những kiến thức trên
lớp, hầu hết các em đều nắm được tuy nhiên khi vận dụng vào giải các bài tập lại gặp
khó khăn, phần lớn các em giải bài tập dựa vào một phần hướng dẫn của SGK và
hướng dẫn của giáo viên, nhưng khi gặp một số bài tập khó hơn vẫn là các kiến thức
cơ bản của chương trình Sinh học 9 thì các em đều lúng túng, không biết giải như thế

gen nhân với nhau.
* Kiểu gen chung = số kiểu gen riêng của mỗi cặp gen nhân với nhau.
* Tỉ lệ kiểu hình chung của nhiều cặp tính trạng = tỉ lệ kiểu hình riêng rẽ của
mỗi cặp tính trạng nhân với nhau.
* Số kiểu hình chung = số kiểu hình riêng của mỗi cặp tính trạng nhân với
nhau.
1.1: Phép lai một cặp tính trạng:
Dạng 1: Bài toán thuận: Xác định kiểu gen kiểu hình và tỉ lệ của chúng ở
F
1
hay F
2
:
- Đề bài cho ta biết tính trạng trội, lặn hoặc gen quy định tính trạng và kiểu hình
của P. Căn cứ vào yêu cầu của đề (xác định F
1
hay F
2
), ta suy nhanh kiểu gen của P, tỉ
lệ kiểu gen và kiểu hình (chủ yếu) của F
1
hay F
2
VD: Tỉ lệ 1:1 là lai phân tích.
Dạng 2: Bài toán nghịch: Xác định kiểu gen, kiểu hình của P:
- Đề bài cho ta biết số lượng hay tỉ lệ các kiểu hình. Căn cứ vào kiểu hình hay tỉ
lệ của nó ta suy ra kiểu gen và kiểu hình của thế hệ xuất phát.
VD: Nếu F
1
có tỉ lệ kiểu hình là 3:1 thì P đều dị hợp tử, hay 1:1 thì một bên dị

Cây mẹ: Hạt vàng thuần chủng (AA)
Cây bồ: Hạt xanh thuần chủng (aa)
- Viết sơ đồ lai:
P: Hạt vàng (AA) x Hạt xanh (aa)
G
P
: A a
F
1: Aa
Kết qủa:
Tỉ lệ kiểu gen: 100% Aa
Tỉ lệ kiểu hình: 100% hạt vàng.
Cho F
1
x F
1
: Aa (hạt vàng) x Aa ( hạt vàng)
GF
1
: A,a A,a
F
2
:
A a
A AA Aa
a Aa aa
Kết quả:
Tỉ lệ kiểu gen: 1 AA; 2Aa; 1aa
Tỉ lệ kiểu hình: 3 hạt vàng: 1 hạt xanh
Ví dụ 2: Ở cà chua, quả đỏ là tính trạng trội so với quả vàng. Hãy lập sơ đồ lai

1:
Kiểu gen: 1AA; 1Aa
Kiểu hình: 100% quả đỏ.
+ Trường hợp 3:
P: Aa (quả đỏ) x Aa (quả đỏ)
G
P
: A,a A,a
F1: Kiểu gen: 1AA; 2Aa; 1aa
Kiểu hình: 3 quả đỏ: 1 quả vàng.
b) Trường hợp 2: P: Quả đỏ lai với quả vàng
- Hướng dẫn HS xác định kiểu gen của cây quả đỏ
Cây quả đỏ có kiểu gen là AA hoặc Aa
- Cây quả vàng có kiểu gen là aa.
Có 2 phép lai có thể xảy ra:
P: AA x aa
P: Aa x Aa
+ Phép lai 1:
P: AA (quả đỏ) x aa (quả vàng)
G
P
: A a
F
1
: Kiểu gen Aa
Kiểu hình: 100% qủa đỏ
+ Phép lai 2:
P: Aa (quả đỏ) x aa (qủa vàng)
G
P

như thế nào?
Hướng dẫn giải.
a) Xác định kiểu gen bố, mẹ:
- Xác định trội- lặn: chín sớm trội hoàn toàn so với chín muộn (theo đề bài)
- Quy ước gen:
Chín sớm gen A
Chín muộn gen a
- Xác định kiểu gen:
Muốn ngay F
1
xuất hiện tỉ lệ 3:1, theo định luật phân tính Kiểu gen của bố
và mẹ đều dị hợp.
Cây bố: Chín sớm Aa
Cây mẹ: Chín sớm AA
- Viết sơ đồ lai:
P: Aa (chín sớm) x Aa (chín sớm)
G
P
: A,a A, a
F
1
:
A a
A AA Aa
a Aa aa
Kết quả:
Tỉ lệ kiểu gen: 1AA; 2Aa; 1aa
Tỉ lệ kiểu hình: 3 chín sớm: 1 chín muộn
b) Xác định kết qủa ở F
2

1
: aa (chín muộn) x aa (chín muộn)
G
F1
: a a
F
2
: aa (100% chín muộn)
Ví dụ 2: Ở một loài, người ta quan tâm đến cặp tính trạng về màu của hạt. Khi
thực hiện giao phấn giữa hai cây với nhau, thu được F
1
có 210 cây có hạt nâu và 72
cây có hạt trắng.
a) Có thể dựa vào một định luật di truyền nào đó để xác định tính trội và tính
lặn được không? Giải thích và lập sơ đồ lai.
b) Nếu tiếp tục cho các cây thu được ở F
1
nói trên lai với nhau, hãy lập các sơ
đồ lai của F
1
:
Hướng dẫn giải:
a) Xác định tính trội, tính lặn và sơ đồ lai:
Xét tỉ lệ kiểu hình của F
1
: 210 hạt nâu: 72 hạt trắng =
210 3
72 1

tương ứng: 3 hạt

F1
: A A
F
2
:

Kiểu gen: AA
F
2
: Kiểu hình 100% hạt nâu
* Phép lai 2:
F
1:
AA( hạt nâu) x Aa( hạt nâu)
GF
1
: A A, a
F
2
: Kiểu gen: 1AA, 1Aa
Kiểu hình: 100% hạt nâu
* Phép lai 3:
F
1
: AA (hạt nâu) x aa (hạt trắng)
GF
1
: A a
F
2

a a
F
2
: Kiểu gen: aa
Kiểu hình: 100% hạt trắng
- Như vậy với một số bài tập đơn giản như trên, thực hiện qua nhiều phép lai đã
rèn cho học sinh cách viết sơ đồ lai, cách xác định các kiểu gen, kiểu hình đem lai,
cách quy ước từ dạng bài tập về lai một cặp tính trạng giúp học sinh tự tin khi giải
bài tập về lai hai cặp tính trạng, kể cả những bài tập cho biết kiểu gen, kiểu hình yêu
cầu lập sơ đồ lai từ P đến F
2
hoặc dạng bài cho biết tỉ lệ kiểu gen và kiểu hình, yêu
cầu xác định các kiểu gen, kiểu hình của bố, mẹ đem lai.
1.2: Phép lai về hai cặp tính trạng:
Với dạng bài tập về phép lai hai cặp tính trạng tôi cũng hướng dẫn học sinh tiến
hành tương tự phép lai một cặp tính trạng và chú ý rèn cho học sinh một số kĩ năng
như: Xác định cặp tính trạng đem lai, viết sơ đồ lai, xác định kiểu gen, kiểu hình ở F
1
,
F
2
.
Ví dụ 1: Ở cà chua một số tính trạng được quy định bởi các gen như sau: A lá
chẻ, a: lá nguyên; B: quả đỏ, b quả vàng.
Xác định kiểu gen của P và viết sơ đồ lai trong các phép lai sau:
a) Bố mẹ đều lá chẻ, quả đỏ sinh ra con: 64 lá chẻ, quả đỏ; 21 lá chẻ, quả vàng;
23 lá nguyên, quả đỏ; 7 lá nguyên, quả vàng.
b) Bố mẹ đều lá chẻ, qủa đỏ có 89 lá chẻ, qủa đỏ; 32 lá chẻ, qủa vàng. Biết các
gen nằm trên các NST khác nhau.
Hướng dẫn giải:

3/1. Tuân theo định luật phân tính của Men-
đen. Suy ra P: Bb x Bb. Vậy kiểu gen của bố, mẹ có thể có là: AABb hoặc AaBb. Ta
có các trường hợp xảy ra như sau:
P: AABb x AABb
AABb x AaBb
* Trường hợp 1:
P: AABb (lá chẻ, qủa đỏ) x AABb (lá chẻ, quả đỏ)
G
P
: AB,Ab AB,Ab
F
1
: 1AABB: 2AABb: 1 AAbb.
Kiểu hình: 3 lá chẻ, quả đỏ: 1 lá chẻ, quả vàng.
* Trường hợp 2:
P: AABb (lá chẻ, quả đỏ) x AaBb (lá chẻ, quả đỏ)
G
P
: AB, Ab AB, Ab, aB, ab
F
1
: Kiểu gen: AABB : 2AABb : 1AaBB; 2AaBb: 1AAbb: 1Aabb
Kiểu hình: 6 lá chẻ, quả đỏ: 2lá chẻ, qủa vàng ( 3 lá chẻ- quả đỏ có 1 lá chẻ-
quả vàng).
Ví dụ 2: Ở bắp, hai cặp tính trạng chiều cao thân cây và màu sắc hạt di truyền
với nhau.
Khi cho cây bắp có thân cao, hạt trắng giao phấn với cây bắp có thân thấp hạt
vàng thu được các cây đời F
1
đều đồng loạt có thân cao, hạt vàng.

P: thân cao, hạt trắng thuần chủng có kiểu gen là: AAbb
Thân thấp, hạt vàng thuần chủng có kiểu gen là: aaBB,.
Sơ đồ lai:
P: AAbb( thân cao, hạt trắng) x aaBB( thân thấp, hạt vàng).
G
P
: Ab aB
F
1
: AaBb
100% thân cao, hạt vàng.
b) Để F
2
thu được 4 tổ hợp giao tử:
Số tổ hợp, con lai được xác định bằng số loại giao tử đực của bố nhân với số
loại giao tử cái của mẹ.
F
1
đã biết có kiểu gen là AaBb tạo ra 4 loại giao tử là AB,Ab,aB,ab. F
2
có 4 tổ
hợp = 4 loại giao tử x 1loại giao tử. Mà cây được chọn lai với F
1
chỉ tạo một loại giao
tử, tức là phải thuần chủng, mang một trong các kiểu gen, kiểu hình sau: AABB (thân
cao, hạt vàng); AAbb (thân cao, hạt trắng), aaBB (thân thấp, hạt vàng); aabb (thân
thấp, hạt trắng).
* Có 4 phép lai có thể xảy ra:
F
1:

AABb, AAbb, AaBb, Aabb
Kiểu hình: 2 cây thân cao, hạt vàng
2 thân cao, hạt trắng.
* Trường hợp 3:
F
1
: AaBb (thân cao, hạt vàng) x aaBB (thân thấp, hạt vàng)
G
F1
: AB,Ab,aB, ab aB
F
2
: AaBB, AaBb, aaBB, aaBb.
Kiểu hình: 2 cây thân cao, hạt vàng
2 cây thân thấp, hạt vàng.
* Trường hợp 4:
F
1
: AaBb (thân cao, hạt vàng) x aabb (thân thấp, hạt trắng)
G
F1
: AB,Ab,aB,ab ab
F
2
: AaBb. Aabb,aaBb, aabb
Kiểu hình: 1 thân cao, hạt vàng: 1 thân cao, hạt trắng: 1 thân thấp, hạt vàng: 1
thân thấp, hạt trắng.
Như vậy với mỗi dạng bài tập về lai một cặp tính trạng, lai hai cặp tính trạng
đối với thí nghiệm của Men-đen tôi đã đưa ra 1-2 ví dụ, và hướng dẫn học sinh cách
biện luận, phương pháp giải cụ thể, từ đó rèn kĩ năng vận dụng giải bài tập một cách

3. Bài tập về ADN và gen:
Để giúp học sinh có thể giải được một số dạng bài tập phần ADN và gen trước
hết giáo viên phải đưa ra cách giải và phân loại từng loại cụ thể, sau đó từ lí thuyết,
đưa ra một số dạng bài đơn giản để học sinh thực hiện cụ thể như sau:
Loại 1: Xác định trình tự các Nu trong mạch đơn của phân tử ADN
Phương pháp:
Bước 1: Viết lại trình tự các loại Nu trong mạch đơn (theo đề bài)
Bước 2: Áp dụng nguyên tắc bổ sung (A – T; G – X) trình tự các loại Nu
trong mạch bổ sung:
Ví dụ: Trong một mạch đơn của phân tử ADN có trình tự các Nu như sau:
AXA – XXT - XXA – GTT
Hướng dẫn giải
Xác định trình tự các loại Nu trong mạch bổ sung của phân tử ADN:
- Phân tử ADN là chuỗi xoắn kép, gồm 2 mạch đơn
- Áp dụng nguyên tắc bổ sung: A- T; G – X.
- Trình tự các loại Nu trong mạch bổ sung của phân tử ADN:
TGT – GGA – GGT – XAA
Loại 2: Tính chiều dài của ADN hay chiều dài của gen.
Giáo viên cần đưa ra phương pháp giải:
Bước 1: Tìm Nu
Nu = A + T + G + X
Bước 2: Tìm chiều dài của phân tử ADN theo công thức:
Gọi N là số nuclêôtit của ADN. Mỗi phân tử ADN có 2 mạch, Mỗi nuclêôtit có
chiều dài 3,4A
0
. Do đó chiều dài của ADN là:

+ Mỗi vòng xoắn của ADN có 10 cặp = 20 nuclêôtit và dài 34
0
A

.3,4
2 3,4
N L
A N→ =
C =
20
N
L = C. 34
M = N . 300 đvC
- Xét trên mỗi mạch của gen:
A
1
= T
2
; T
1
= A
2
; G
1
= X
2
; X
1
= G
2
.
+ Xét trên cả mạch:
A= T = A
1

+ T
1
+ G
1
+ X
1
= A
2
+ T
2
+ G
2
+ X
2
A + G = T + X =
50%
2
N
=
%A + %G = 50%
A% = T% =
1 2
% %
2
A A+
G% = T% =
1 2
% %
2
G G+

T = 20%
Tổng số % của phân tử ADN:
%A + % T + % G + % X = 100%

%X + % G = 100% - (%A + % T)
= 100% - ( 20% + 20%) = 60%.
- Số nuclêotit loại G và X bằng nhau.
%G = %X =
60%
30%
2
=
Vậy %A = % T = 20%
%G = % X = 30%.
Ví dụ 3:
Một gen có 90 vòng xoắn. Biết hiệu suất giữa nuclêôtit loại A với loại không
bổ sung với nó bằng10%. Tính số nuclêôtit từng loại của gen?
Hướng dẫn giải:
Gọi N là số nuclêôtit của gen:
N = 90 . 20 = 1800 (Nu)
Theo giả thiết: A% - G% = 10% Nu (1)
Theo NTBS: A% + G% = 50% Nu (2)
Cộng (1) và (2) ta được: 2A% = 60%

A% = 30%
G% = 20%
- Số nuclêôtit từng loại của gen là:
A = T = 1800 . 30% = 540 (Nu)
G = X = 1800 .20% = 360 (Nu).
Ví dụ 4:

3000( )
30
Nu=
- Chiều dài của đoạn ADN hay chính là chiều dài của một mạch đơn:
L =
0
.3,4
2
N
A
=
0 0
3000
.3,4 5100
2
A A=
- Số nuclêôtit mỗi loại của ADN:
A = T = 900(Nu)
G = X =
3000
900 600( )
2 2
N
T Nu− = − =
b) Số liên kết hiđrô có trong đoạn ADN.
H = 2A + 3G = 2.900 + 3 . 600 = 3600 liên kết
- Số liên kết cộng hoá trị có trong đoạn ADN:
2 (N -1) = 2 (3000- 1) = 5998 liên kết.
IV: Hiệu quả của sáng kiến kinh ngiệm:
Thực tế những kinh nghiệm và kĩ năng này rất phù hợp với chương trình sách

84
SL % SL % SL % SL %
6 7,2 18 21,4 41 48,8 19 22,6
Kết quả năm học 2011-2012 sau khi thực hiện giải pháp
Khối TSHS Giỏi Khá TB Y
82
SL % SL % SL % SL %
8 10 12 14,6 57 69,5 5 6,1
Kết quả kiểm tra khảo sát đầu năm học 2012-2013( khi chưa áp dụng giải
pháp)
Khối TSHS Giỏi Khá TB Y
121
SL % SL % SL % SL %
3 2,5 4 3,3 72 59,5 42 34,7
Kết quả kiểm tra hết học kì I năm học 2012-2013( khi áp dụng giải pháp).
Khối TSHS Giỏi Khá TB Y
64
SL % SL % SL % SL %
1 1,6 10 15,6 42 65,6 11 17,2
- Từ kết quả thực tế, qua kì thi hết năm học 2010-2011, 2011-2012 và kết quả
khảo sát sát đầu năm, cuối học kì I, năm học 2012-2013. Khi chưa áp dụng giải pháp
hầu hết kĩ năng của giải bài tập của các em học sinh còn rất hạn chế, khi tôi áp dụng
và triển khai qua 3 năm tôi nhận thấy kiến thức, kĩ năng trình bày của học sinh được
nâng lên. Đa số các em học sinh có hứng thú với môn học, khi giải bài tập về các thí
nghiệm của Men- đen, các em đã biết viết các sơ đồ lai có thể xảy ra, biết cách phân
loại bài tập, biết biện luận Bên cạnh đó các em có kiến thức, kĩ năng cơ bản đã giúp
các em tự tin và đăng ký ôn, thi HSG các cấp.
PHẦN KẾT LUẬN
I. Những bài học kinh nghiệm:
Từ thực tế giảng dạy năm học 2012-2013 và kết quả của 2 năm học trước tôi rút

dạy và thực hiện SKKN. Rất mong được sự đóng góp chân thành và thẳng thắn của
quý thầy cô và ý kiến của các em học sinh ở trong nhà trường và ở các trường bạn để
tôi có thể khắc phục, nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy hiện tại và về sau.
Pắc Ta, tháng 3 năm 2013
Người thực hiện
Hoàng Thị Tịnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status