A - MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Phạm trù cái “tôi” vốn luôn được xem xét trong không gian của thế giới riêng
tư, một thế giới ẩn sâu chất chứa những nỗi niềm và cá tính khu biệt. Trong văn chương,
cái “tôi”chính là cốt lõi của sự sáng tạo, là đáp số mà kẻ viết và người đọc đều muốn đi
tìm. Tuy nhiên, nhà văn trên con đường tìm kiếm và xác lập chính mình cũng cần chấp
nhận sự tạm lãng quên bản thân để đại diện cho những giá trị phổ quát và vững bền. Bởi
thế, mặc dù thuộc sở hữu của riêng mỗi cá nhân, cái “tôi” vẫn luôn cất tiếng nói đại diện
cho thời đại, cho nhân loại. Và đằng sau sự thể hiện, sự phô diễn cái “tôi” luôn là cả một
thế giới bị bỏ ngỏ. Thế giới ấy bao gồm những yếu tố đã trở thành động lực, thành cơ sở
để con người tự ý thức về mình trong mối dây liên hệ vô tận. Nghiên cứu cơ chế hình
thành cái “tôi” chính là đi truy nguyên nguồn gốc, đi tìm nguyên cớ bản chất nhất để cái
“tôi” trong tác phẩm được nảy sinh, được phát triển và hoàn thiện.
1.2. Cái “tôi” chấn thương là một trong những vấn đề nổi bật của văn chương hậu
hiện đại, là đề tài đang được giới nghiên cứu, phê bình quan tâm. Cũng như phạm trù cái
“tôi”, cái “tôi” chấn thương tự mang trong mình nhiều nhân tố thúc đẩy, hình thành phức
tạp. Cốt lõi của nó là sự tổng hòa nhiều phương diện liên quan như tâm lý, văn hóa, xã
hội, văn chương. Đặc biệt, cái “tôi” chấn thương tìm thấy mình trong các hình thức văn
chương của ký ức và tự thuật. Việc nghiên cứu cái “tôi” chấn thương trong các tác phẩm
tự truyện vì thế cũng chính là con đường nhìn ra các giá trị lịch sử, văn hóa, văn chương
cũng như các vấn đề của nhân loại, của thời đại.
1.3. Paul Auster ( 1947) là một đại diện nổi bật của văn chương hậu hiện đại Mỹ.
Đồng thời, ông cũng thuộc thế hệ tiếp nối của dòng văn chương Do Thái – Mỹ (Jewish
American literature). Sau nhiều năm làm công việc phê bình và dịch thuật, ông bắt đầu sự
nghiệp viết văn bằng tiểu thuyết tự truyện đầu tay “Sự phát minh của cô độc” (The
invention of solitude). Tác phẩm đã giúp Auster để lại một ấn tượng về một nhà văn pha
trộn nhiều đặc điểm văn hóa thú vị. Đặc biệt, các yếu tố đời thường của ông được đưa
vào làm chất liệu sáng tạo tác phẩm đã tạo nên một hướng tiếp cận tiểu thuyết đầy thú vị
xuất phát từ những ảnh hưởng tâm lý, văn hóa, xã hội, xung quanh nhà văn. Nghiên cứu
1
tìm hiểu các yếu tố trong tác phẩm, trong đó có cái “tôi” - phạm trù tổng hợp những
Huyên làm đối tượng nghiên cứu cũng như để đảm bảo tính thống nhất và tôn trọng dịch
giả nên kể từ đây về sau, chúng tôi xin phép được giữ nguyên nhan đề “Khởi sinh của cô
độc” trong mọi trích dẫn có tên tác phẩm.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi tập trung khảo sát, phân tích, làm rõ cơ chế hình
thành cái “tôi” chấn thương trong tiểu thuyết “Khởi sinh của cô độc” (Paul Auster).
4. Lịch sử vấn đề
4.1. Nghiên cứu về cái “tôi” chấn thương trong tự truyện
Tự truyện là thể loại thu hút được khá nhiều mối quan tâm nghiên cứu. Nhất là trong
bối cảnh hậu hiện đại với sự bùng nổ của các tác phẩm có yếu tố tự thuật, ngày càng có
nhiều công trình nghiên cứu, khai thác thể loại này. Trong các mảng nghiên cứu xoay
quanh tự truyện, cái “tôi” là một phạm trù rất được quan tâm. Cùng với những chuyển biến
trong quan niệm về thể loại tự truyện, cái “tôi” tự truyện cũng mang theo một lịch sử
nghiên cứu của mình.
Trước hết, đại diện cho quan niệm xem tự truyện là một thể loại nằm ngoài lĩnh vực
văn chương là Philippe Lejune. Trong “Quy ước tự truyện” (The autobiographical pact)
[25], ông cho rằng, với thể loại tự truyện, giữa tác giả và người đọc luôn có một cam kết
ngầm rằng mọi thứ kể ra đều là sự thật. Quan niệm này đồng nghĩa với việc xem cái “tôi”
đời thực và cái “tôi” trong tác phẩm là đồng nhất. Tác giả này cũng chỉ ra nếu cam kết này
được thực hiện thì vẫn chấp nhận được một tự truyện ở ngôi số ba, thay thế cho ngôi thứ
nhất thường thấy.
Quan niệm đối lập với Philippe Lejune là quan niệm coi tự truyện là một thể loại văn
học. Hiện nay, các nghiên cứu đều thiên về hướng quan niệm này. Với việc xếp tự truyện
như một thể loại văn học giáp ranh đứng giữa những đường biên phức tạp, nghiên cứu cái
“tôi” trong tự truyện cũng mở ra nhiều hướng đi đầy triển vọng. Các nhánh, các hướng
nghiên cứu cái “tôi” tự truyện trên thế giới vô cùng đa dạng: từ lý thuyết phân tâm học, phê
bình chấn thương đến diễn ngôn tự truyện hay lý thuyết tự sự học,
3
Trong các nhánh rẽ đó, lý thuyết phê bình chấn thương có liên quan trực tiếp đến việc
nghiên cứu cái “tôi” chấn thương trong tự truyện. Lý thuyết phê bình này gắn liền với tên
Trên thế giới, các tác phẩm của Paul Auster đã trở thành đối tượng quen thuộc đối với
những nghiên cứu của văn chương hậu hiện đại. Cũng tương tự như nhiều tên tuổi hậu hiện
đại khác, Paul Auster được xem xét từ nhiều các góc độ nghiên cứu, tiếp cận khác nhau.
“Khởi sinh của cô độc” là tác phẩm đầu tay của Paul Auster, đồng thời là nguồn bao
chứa những đề tài, những vấn đề nổi cộm mà ông triển khai và theo đuổi trong sự nghiệp
văn chương của mình cho tới tận bây giờ. Do vậy, hầu như khi nghiên cứu về Paul Auster,
tiểu thuyết tự truyện này luôn được lấy làm đối tượng để so sánh, trích dẫn, khái quát,…
Dưới đây, chúng tôi xin tạm điểm qua các vấn đề và thành tựu nổi bật nhất trong hai
góc nhìn khi nghiên cứu về Paul Auster và tác phẩm “Khởi sinh của cô độc”. Do rào cản
về ngôn ngữ và những hạn chế về mặt tư liệu, những thống kê và nhận định của chúng tôi
chắc chắn sẽ có những giới hạn nhất định. Bởi vậy, chúng tôi cố gắng khái quát sơ lược
nhất những nét chính trong lịch sử nghiên cứu Paul Auster và tác phẩm của ông. Đồng thời,
chúng tôi cũng sẽ đưa ra những nhận định về các nghiên cứu ở Việt Nam trong từng xu
hướng và cách tiếp cận các vấn đề.
4.2.1. Paul Auster được xem xét nghiên cứu theo dòng chảy văn chương Do Thái –
Mỹ (Jewish American literature)
Xuất phát từ nguồn gốc trong tiểu sử của Paul Auster, các nhà nghiên cứu thường đặt
ông trong một mạch phát triển của lịch sử văn chương Do Thái – Mỹ. Tương tự khi nghiên
cứu các tác phẩm của nhiều tên tuổi của dòng văn học này như Saul Bellow, Jerome David
Salinger, Bernard Malamud hay Philip Roth, những vấn đề nghiên cứu trong văn chương
Paul Auster là: ám ảnh về thân phận, cuộc đời lưu vong; hành trình đi tìm căn cước; cách
ứng xử đối với nguồn gốc của mình cũng như các vấn đề liên quan đến nhân dạng, bản
ngã; sự khác biệt của Paul Auster với tư cách là một đại diện của thế hệ thứ ba trong một
gia đình gốc Do Thái, sự pha trộn tính Mỹ và tính Do Thái,…
Thành tựu nổi bật lên trong những nghiên cứu theo xu hướng này là tiểu luận mang
tên “Khát khao phải được bảo vệ bằng mọi giá: Một cách đọc hiểu “Khởi sinh của cô
độc”” (The hunger must be preserved at all cost: A reading of The invention of solitude)
5
của Derek Rubin [23] . Tiểu luận đã chỉ ra tính nước đôi trong căn cước của Paul Auster,
trở thành một trong những chỉ dấu quan trọng trong việc nghiên cứu cũng như đọc hiểu tác
Nhạc đời may rủi” của Lê Huy Bắc đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học; cuốn sách
“Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam”( Lê Huy Bắc làm chủ biên) do Nhà xuất bản Tri
thức ấn hành với hai bài viết về Paul Auster là: “Siêu hư cấu và Thành phố thủy tinh” của
Nguyễn Thị Thanh Hiếu, “Bộ ba New York của Paul Auster và tiểu thuyết phản trinh thám
trong văn học hậu hiện đại” của Đặng Thị Bích Hồng; luận văn thạc sĩ tại Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh “Tự sự mê lộ trong tiểu thuyết Paul Auster”(2011) của Võ
Thị Mỹ Lam,…
4.3. Vấn đề tiềm năng
Thông qua việc thống kê các vấn đề và thành tựu nghiên cứu trên, có thể thấy:
-Việc nghiên cứu cái “tôi” trong tự truyện mở ra nhiều hướng đi khác nhau, song
chưa có công trình nào mô tả và đi sâu nghiên cứu cơ chế thúc đẩy sự hình thành nó
trong cách nhìn tổng hợp nhiều yếu tố.
-Việc nghiên cứu Paul Auster từ nhiều góc độ mở ra nguồn khai thác đầy triển vọng
để dẫn đến sự tổng hợp thành một cơ chế kiến tạo cái “tôi” chấn thương trong tiểu
thuyết tự truyện của ông.
-Tại Việt Nam, việc tiếp nhận và nghiên cứu Paul Auster trên nhiều phương diện
còn hạn chế. Trong khi đó, các tác phẩm của ông đang được dịch thuật và ngày càng
phổ biến trong đời sống văn hóa đọc của một bộ phận không nhỏ độc giả yêu văn
chương.
Từ đó, chúng tôi mạnh dạn đề xuất nghiên cứu cái “tôi” chấn thương trong tiểu thuyết
tự truyện “Khởi sinh của cô độc” theo hướng tổng hợp các yếu tố tâm lý, lịch sử, văn hóa,
xã hội,…mặc dù hướng đi này khá phức tạp. Hướng đi này bước đầu sẽ đóng góp vào việc
hình thành nên những cơ sở tiếp nhận văn chương Paul Auster, mở rộng hơn nữa là dòng
văn chương Do Thái – Mỹ và văn học hậu hiện đại.
5. Mục đích nghiên cứu
Khi lựa chọn đề tài nghiên cứu này, mục đích của chúng tôi là:
7
-Thứ nhất: tổng hợp các yếu tố liên quan đến cái “tôi” chấn thương trong tác phẩm
của Paul Auster trên các phương diện tâm lý, lịch sử, văn hóa, văn chương,…
-Thứ hai, trên nền tổng hợp các yếu tố liên quan, tiến hành xâu chuỗi, chỉ ra cơ chế
chấn thương trong tác phẩm của Paul Auster. Các vấn đề bao gồm: mối quan hệ giữa
chấn thương và tự truyện, sự xuất hiện của chấn thương trong văn chương Do Thái – Mỹ
và các hình thức của văn học hậu hiện đại dung nạp cái “tôi” chấn thương.
1. Chấn thương và tự truyện
1.1. Chấn thương – những điểm neo của ký ức
Thế kỷ XX đầy biến động đã chứng kiến những bước đi sai lầm của lịch sử loài
người, để lại biết bao nỗi kinh hoàng cho nhân loại. Những ký ức bám đuổi, bủa vây lấy
con người trở thành những ám ảnh về thần kinh như một trạng thái của bệnh lý. Hiện
tượng con người bị đeo bám bởi những chấn động trong quá khứ không phải chỉ là vấn đề
riêng của nhân loại thế kỷ XX, nhưng chỉ sau những thảm họa diệt vong của chủ nghĩa
phát xít, sự bùng nổ thế chiến II, sự hủy diệt của thời kì kĩ trị,… người ta mới bắt đầu đi
lý giải cội nguồn của những nhu cầu thức tỉnh mạnh mẽ, nhìn nhận lại những nỗi khổ đau
không thể chấm dứt.
Bắt đầu từ thuật ngữ “vết thương” (trauma) trong y học, có gốc nghĩa từ tiếng Hy
Lạp chỉ những tổn thương trên cơ thể con người, Sigmund Freud dưới góc độ phân tâm
học đã sử dụng nó để gọi tên cho những lỗ hổng và nỗi đau trong tinh thần. Cũng theo đó,
khi một sự kiện có tính chất đường đột và vượt quá kinh nghiệm kiểm soát của chủ thể
xảy ra, nó sẽ tiếp tục được tái hiện trong suốt quãng thời gian còn lại của cuộc đời, chi
phối từng nhận thức, hành động của con người. Hành động lặp lại dưới sự áp chế của ký
ức được gọi là “hành động về sau” (belateness).
1
1 “Belateness”: xuất phát từ khái niệm “Nächtraglichkeit”của Sigmund Freud được in trong cuốn “Dự
án cho một tâm lý học khoa học” (Project for a Scentific Spychology ) – 1985 [14]
9
Từ nghiên cứu phân tâm học về chấn thương và những lý giải về khái niệm “hành
động về sau” của S. Freud, Cathy Caruth đã mở ra một hướng phê bình mới cho văn học
của thế kỷ XX: phê bình văn học chấn thương. Hàng loạt các bài viết của bà về chấn
thương và văn học như đã bước đầu tạo dựng nền tảng lý thuyết, xác lập những khái
niệm, định nghĩa về “chấn thương” trong văn học cũng như cơ chế và trạng thái hoạt
động của nó.
bước ra khỏi nó, rời bỏ nó như một hành động bắt buộc. Những di chứng liên tục tái diễn
như là một cơ chế duy trì chấn thương vĩnh viễn trong thế giới ký ức một con người. Tuy
vậy, chấn thương và những hệ lụy của nó liệu có phải chỉ đeo đuổi và ám ảnh trong cuộc
đời của một cá nhân, trong kinh nghiệm của một cá thể hay không? Vấn đề quy chiếu của
những chấn thương sẽ trả lời cho câu hỏi này.
Trong “Kinh nghiệm không được khẳng định: chấn thương và những khả năng
của lịch sử” (Unclaimed Experience: Trauma and The Possibility of Histor) [10], Caruth
thông qua việc đọc – hiểu tác phẩm “Moses và Nhất thần luận” (Moses and
Monotheism) của Sigmund Freud đã phủ nhận tính quy chiếu trực tiếp, đơn giản của một
chấn thương. Và từ câu chuyện Moses giải phóng người Do Thái thoát khỏi mảnh đất Ai
Cập được S.Freud hàm ý rằng đó vừa là sự trở về với quá khứ vừa là sự xuất phát đi tới
tương lai của tôn giáo nhất thần luận, Caruth đã đưa đến khẳng định tính quy chiếu gián
tiếp của chấn thương, mở ra những khả năng của lịch sử. Theo đó, chỉ trong và sau khi
“thời kỳ tiềm tàng” (latency)[10], thời kỳ mà hệ quả của những kinh nghiệm chưa phát
tác diễn ra, những chấn thương mới bắt đầu sự trải nghiệm của nó. Và bằng cách thức ấy,
tương lai chính là hành trình trải nghiệm của quá khứ chấn thương đã qua. Đồng thời,
Caruth cũng chỉ ra lịch sử Do Thái chính là sự chịu đựng những nỗi đau của kẻ khác
thông qua bản chất của cuộc hành trình mà người Hebrew thực hiện như là để sửa chữa
và hàn gắn chấn thương đến từ mặc cảm tội lỗi giết chết người cha nguyên thủy.
Từ sự phân tích của Caruth, ta nhận thấy một chấn thương bắt đầu hoạt động bao
giờ cũng đi kèm với sự khởi nguồn quay về quá khứ. Sự khởi nguồn này mặc dù được tái
hiện bởi những hình ảnh, sự kiện đã trôi qua song luôn diễn ra trong những phân khu
không gian - thời gian của hiện tại và tương lại. Từ đó, lịch sử bám đuổi hiện tại và tương
11
lai; con người tiếp tục sự sống bằng cách gánh chịu những tội lỗi của kẻ khác gây ra
trong quá khứ. Sự quy chiếu của chấn thương không chỉ đi kèm với sự thay đổi không
gian, thời gian mà còn kéo theo sự biến đổi trong mối dây liên hệ giữa những con người
trong chấn thương ấy. Điều này đồng nghĩa với việc ngoài chủ thể trải nghiệm trực tiếp
những chấn thương của bản thân, bao giờ cũng tồn tại một/một vài chủ thể khác liên đới
cùng những dư chấn tưởng như không thuộc về họ thông qua mối liên hệ với kẻ sở hữu
những chấn thương đó, ở đó, thế hệ sau luôn phải gánh chịu những chấn thương và tội lỗi
của thế hệ trước cũng như của tổ tiên xa xôi loài người đã phạm phải.
1.3. Tự truyện như là một hình thức của chấn thương
Trong phần này, chúng tôi sẽ không bàn luận nhiều về quá trình nghiên cứu và tìm
hiểu thể loại “tự truyện”. Chúng tôi sẽ đưa ra cách hiểu chung về khái niệm thể loại“tự
truyện” và chủ yếu chỉ ra khả năng chứa đựng những chấn thương của thể loại này.
Về khái niệm, “Từ điển Oxford dành cho người học” (Oxford advanced learner’s
dictionary) giải nghĩa “tự truyện” (autobiography) là “câuchuyện về cuộc đời của một
người, được viết bởi chính người đó” [19; tr. 85]. Còn “Từ điển thuật ngữ văn học” do
Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên đưa ra quan niệm: “Tác
phẩm văn học thuộc loại tự sự do tác giả tự viết về cuộc đời mình.”, đồng thời phân biệt
hai khái niệm “tự truyện” và “bản tự thuật về tiểu sử” [1; tr.389]. Từ hai cách giải nghĩa
trên, ta có thể đi đến thống nhất cách hiểu khái niệm này như sau: “tự truyện” là một thể
loại văn học kể về cuộc đời mình của chính tác giả, trong đó luôn tồn tại một sự hư cấu
trên cơ sở những yếu tố đời thực.
Khái niệm “tự truyện” (autobiography) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp. Thuật ngữ này
bao gồm ba yếu tố: auto (tự động), bio (tiểu sử), graphy (viết). Như vậy, ta có thể thấy
ngay đây là một thể loại giáp ranh, đứng giữa ranh giới tranh chấp của nhiều yếu tố.
Trước hết, yếu tố quan trọng để khu biệt “tự truyện” với thể loại khác là “tiểu
sử”. Nó đóng vai trò cung cấp những chi tiết, tình tiết để tác giả tạo ra tác phẩm của
mình. Yếu tố này liên quan mật thiết với những ký ức trong cuộc đời nhà văn.
13
Viết là một hoạt động sáng tạo ngôn từ dựa trên những xúc cảm đòi cất tiếng nói
trước hoàn cảnh cần kíp của hiện tại. Rõ ràng, khi viết, chủ thể cần làm chủ những hiểu
biết, những trải nghiệm của bản thân đã được đúc kết trong thứ gọi là kí ức. Do vậy, thể
loại văn chương nào cũng bước ra từ sâu thẳm kí ức trong trí não chủ thể viết. Suy cho
cùng, mọi hình thức văn chương cũng chỉ nhằm để chủ thể sáng tạo tự thuật bộc lộ những
xúc cảm và câu chuyện của riêng mình. Và cứ thế, văn chương xét ở một góc độ nào đó
luôn thuộc về vùng miền của ký ức.
Hình thức văn chương tự thuật có chăng khác với các hình thức khác là bởi nó sử
định: “những câu chuyện được các nạn nhân kể lại là nơi mà chấn thương bị “đóng
khung” để nó không rơi vào hai hình thức triệt để hơn rất nhiều của cái chết – cái chết
của chủ thể nạn nhân bởi cái biểu đạt của kẻ huỷ diệt (annihilator’s signifier) và “cái
chết tượng trưng” (symbolic death) của nạn nhân” [9]. Nhận định chỉ ra vai trò quan
trọng của “tự truyện” đối với “chấn thương”. Đó là một thể loại dành cho những giãi bày
của ký ức, là nơi để con người ít nhất có được nỗ lực vượt thoát khỏi những định hình
đóng khung khắc nghiệt của cái chết.
Qua việc phân tích mối liên hệ giữa ba yếu tố của “tự truyện” trên đây, chúng tôi
thấy rằng “tự truyện” không chỉ là mảnh đất dành cho ký ức, nó còn là thể loại phù hợp
để truyền tải những chấn thương cũng như những kiểm chứng sự đóng dấu của chấn
thương lên những vùng ký ức riêng của con người. Và cũng chỉ có những chấn thương
mới có đủ khả năng thúc giục, thúc đẩy sự viết tự truyện của nhà văn.
2. Chấn thương trong văn chương Mỹ - Do Thái
Cùng với các làn sóng di cư đến nước Mỹ kể từ lần đầu tiên vào năm 1654, dân
tộc Do Thái đã mang những truyền thống, văn hóa của họ hòa nhập vào cuộc sống nơi đất
khách. Cho đến nay, người Do Thái đã đóng góp một phần không nhỏ cho những thành
tựu lớn của nước Mỹ cũng như của nhân loại. Trong văn học cũng vậy, một bộ phận lớn
các thành tựu văn chương đều do những tên tuổi nổi tiếng, lừng danh mang trong mình
chất Mỹ - Do Thái tạo dựng.
15
Dòng văn chương Do Thái – Mỹ nằm trong bộ phận văn học Do Thái nói chung,
cũng như là một yếu tố cấu thành bề dày văn hóa người Do Thái. Thực chất, dòng văn
học Do Thái – Mỹ là dòng văn học pha trộn các yếu tố văn hóa, khởi nguyên từ sự tranh
chấp bên trong căn cước của các chủ thể cầm bút. Và sự tranh chấp này thường đi kèm
với tình trạng di cư. Bởi vậy, để thấy rõ được những chấn thương trong dòng văn học này,
ta cần bắt đầu bằng việc đi tìm hiểu lịch sử của dân tộc Do Thái và sự khởi đầu của
những tranh chấp khi chủ thể Do Thái va chạm với môi trường, căn cước Mỹ.
Lịch sử dân tộc Do Thái gắn liền với sự ra đời của Do Thái giáo và được ghi chép
trong Kinh Thánh. Vùng đất Israel được xem là quê nhà của người Do Thái. Dân tộc này
định cư tại đây vào khoảng 1800 năm TCN. Sau đó, họ di chuyển sang đất Ai Cập sinh
nước trở thành một chấn thương điển hình được nhắc mãi cho đến tận hôm nay, đồng thời
duy trì được niềm tin về sự tái hợp của dân tộc, của đất nước lan tỏa và kéo dài bằng
chính tội lỗi, chấn thương nguyên thủy của họ.
Những chấn thương này vẫn tồn tại trong cộng đồng di dân Do Thái nhờ quy ước,
tục lệ của họ từ sau sự kiện mất nước. Mỗi năm vào ngày kỷ niệm vong quốc, những
người Do Thái còn ở lại trong đất nước, bất luận già trẻ trai gái, đều về cả tại thành
Jerusalem, ôm lấy tường thành mà khóc. Đồng thời, họ luôn nhắc tới câu nói: “Năm sau
ở Jerusalem” (Next year in Jerusalem) như một lời hứa, lời nhắc, lời hi vọng vào sự tái
hợp đất nước. Điều này cho thấy sự bám đuổi vĩnh cửu của những chấn thương trong
từng mạch máu của người Do Thái. Đồng thời cho thấy mặc cảm tội lỗi của họ và khát
khao hàn gắn, sửa chữa sai lầm vẫn không ngừng tiếp tục. Tại đây, chấn thương của
người Do Thái trở thành chấn thương chung của nhân loại: những sai lầm nguyên thủy
không thể sửa chữa đang ngày càng ngấm sâu, ăn mòn cuộc sống của loài người chúng
ta.
Văn chương Do Thái – Mỹ bởi thế cũng mang trong mình những chấn thương ấy,
những chấn thương chung của nhân loại, của dân tộc mình. Song những chấn thương
chung về mặc cảm tội lội nguyên thủy, về quá khứ mất nước đi vào dòng văn chương này
có sự biến đổi trước cuộc di dân, đổ bộ vào nước Mỹ của người Do Thái.
17
Cụm từ “Do Thái – Mỹ” xuất hiện trong văn học Mỹ lần đầu tiên gắn liền với cuộc đổ bộ
của người dân Do Thái vào đảo Ellis vào cuối thế kỷ XIX. Sau đó, những tài liệu văn
chương nói về cuộc đổ bộ này được tập hợp trong hợp tuyển “Dòng thủy triều vĩ đại”
(The Great Tide) (tên do các nhà biên soạn của “Hợp tuyển văn chương Norton” (Norton
Anthology) đặt) [29]. Và chính điều này đã dẫn đến sự phát triển ổn định của những cây
bút Do Thái – Mỹ trong sự tiến sâu vào lĩnh vực sân khấu nhạc kịch Broadway, vào thế
giới của Hollywood, vào làn sóng phổ biến của phát thanh và công nghiệp truyền hình
cũng như sự gia nhập vào dòng chính của văn chương Mỹ.
Trong “Đảo Ellis – mô tả một dự án”, Georges Perec viết:
“Mở cửa năm 1892 trên một hòn đảo nhỏ xíu rộng vài mẫu tây nằm cách Đảo
Liberty vài trăm mét, trung tâm tiếp nhận Đảo Ellis đánh dấu sự cáo chung của
… đứng trước những thay đổi của thời đại, của lịch sử vẫn đang tiếp tục đi sâu vào trăn
trở về bản sắc nước đôi giống như các tiền bối đi trước. Nhưng họ cũng cho thấy một tâm
thế sẵn sàng dung hòa tính Mỹ và tính Do Thái như một cách bảo vệ truyền thống, căn
cước, nguồn gốc của mình.
Thông qua lịch sử của dòng văn chương Do Thái – Mỹ, có thể thấy những sự kiện
chung của nhân loại, của thế giới cũng như các dấu mốc riêng trên đất nước Mỹ từ sau
thế kỷ XIX chính là điều kiện tạo nên cái “tôi” chấn thương trong những sáng tác của các
nhà văn thuộc dòng này. Đó là cái “tôi” vừa mang trong mình những tổn thương chung về
một lịch sử lưu vong từ những tội lỗi nguyên thủy của loài người, vừa mang nặng những
mặc cảm về sự truy đuổi, di cư, lưu lạc trong các sự kiện tàn sát dã man và cả những
chấn thương từ cuộc nhập cư mang đậm tính Mỹ bắt đầu bằng sự kiện diễn ra trên đảo
Ellis.
3. Cái “tôi” chấn thương trong các hình thức văn chương hậu hiện đại
Văn học hậu hiện đại đã và đang chứng kiến sự gia tăng và bùng nổ của những
tác phẩm viết về đề tài chấn thương. Đặc biêt là kể từ sau những chuyển biến lớn và
khủng khiếp của lịch sử như nạn diệt chủng của phát xít, thế chiến II,… nhu cầu nhìn lại
và đánh giá những bước đi sai lầm của lịch sử dâng cao, con người bắt đầu cất lên những
19
tiếng nói từ trong quá khứ hủy diệt, từ trong sâu thẳm những cảm giác bi đát và đau
thương. Đi cùng với cấu trúc phức tạp của những cảm thức, nỗi niềm chấn thương đó là
sự chuyển mình của các hình thức văn chương.
Sự ảnh hưởng của hai khái niệm “giải cấu trúc” (deconstruction) và “hậu hiện
đại” (postmodernism) lần lượt gắn liền với hai tên tuổi Jacques Derrida và Jean Lyotard
đã tạo nên những thay đổi lớn về tư tưởng triết học cũng như văn học. Trong văn học, bản
chất bất ổn định của “hậu hiện đại” và sự đả phá các trật tự của “giải cấu trúc” đã làm
nảy sinh những hình thức văn chương mới.
Trong khuôn khổ của một khóa luận, ở phần này chúng tôi sẽ chỉ điểm qua tính
khả dĩ của ba hình thức văn chương hậu hiện đại điển hình trong việc dung chứa những
chấn thương. Đó là ba hình thức văn chương: siêu văn bản, cấu trúc phân mảnh và kết
cấu ma trận ngôn từ.
thương riêng của mình.
Tuy nhiên, cái “tôi” chấn thương hay “siêu văn bản” đều là những khái niệm
không mang tính thực thể, vượt khỏi vòng kiểm soát của bất kỳ cấu trúc cố định nào.
Điều đó nằm ở khả năng quy chiếu đến tương lai của những chấn thương và độ rộng mở
về ý nghĩa cũng như khả năng chêm xen của mỗi “siêu văn bản”. Chính đặc điểm này đã
tạo ra sự thiếu hụt của trong chủ thể chấn thương và trong chính các sản phẩm của “siêu
văn bản”. Sự thiếu hụt ấy được giải thích bằng phân tâm học của Jacques Lacan.
3
Lacan cho rằng con người tiếp cận thế giới thông qua hệ thống từ ngữ. Trong quá trình
quan sát thế giới bằng các giác quan, thế giới bị con người cấu trúc hóa khi cảm nhận nó
bằng ngôn ngữ. Do đó thế giới“tiềm thức” (subconscious) cũng được cấu trúc, định hình
bởi lớp ngôn ngữ. Chúng ta sử dụng ngôn ngữ để hình dung và tri nhận thế giới song
luôn luôn lại có cảm giác thiếu hụt. Cảm giác nằm ngoài ngôn ngữ chính là những thiếu
hụt do việc tư duy về thế giới thông qua ngôn từ.
Quan niệm của Lacan đã chỉ ra tính chất vượt ngưỡng của những cảm xúc mà
bằng ngôn ngữ không bao giờ có thể truyền tải hết được. Tính chất vượt ngưỡng này
cũng được xem như là bản chất của những chấn thương: chủ thể luôn có những cảm giác
nằm ngoài hiện thực bởi nỗi đau vô thức phát tác và ăn sâu vào từng bước đi của thời
3 Jacques Lacan (1901 – 1989), là nhà phân tâm học và trị liệu người Pháp nổi tiếng với lý thuyết hậu
cấu trúc, phủ nhận khả năng bao chứa hiện thực của ngôn ngữ.
21
gian. Bởi vậy, bằng cách tìm đến với cấu trúc phân mảnh và kết cấu ma trận, “siêu văn
bản” và cái “tôi” chấn thương mới được đảm bảo được bao chứa một cách phù hợp.
Cấu trúc văn bản phân mảnh giúp xóa bỏ đi trật tự tuyến tính không – thời gian
giống như sự tồn tại của một chấn thương là sự đan xen của mọi chiều kích từ quá khứ,
hiện tại và tương lai đi kèm các khoảng không gian khác nhau. Đồng thời, trong các
mảnh ghép đứt gãy, chấp nối để tạo nên cấu trúc ấy, chuỗi ngôn từ sẽ được tập hợp lại
dưới hình thức kết cấu của ma trận. Những hỗn loạn, những chuyển động phá tan vòng
kiềm tỏa của hệ thống lớp nghĩa ngôn ngữ, tạo nên cái “tôi” chấn thương đầy tan tác.
Có thể nói, chấn thương đã tìm được chính mình trong những hình thức kết cấu
Do Thái phải di cư sang những vùng lãnh thổ khác bao gồm Mỹ và các nước ở Châu Âu.
Trong thời điểm này, nước Mỹ cũng mở cửa cho các làn sóng di cư thông qua “dự án đảo
Ellis”[12]. Ông và bà Paul Auster cũng đã nhập cư vào nước Mỹ thông qua dự án này. Như
vậy, Paul Auster là thế hệ thứ ba trong gia đình Mỹ gốc Do Thái, được nuôi dưỡng và lớn
lên trong môi trường đa văn hóa Mỹ.
Chịu ảnh hưởng từ nguồn gốc Do Thái và môi trường văn hóa Mỹ, Paul Auster
được xếp vào vị trí đại diện cho một thế hệ đang tiếp nối những truyền thống của văn
chương Do Thái – Mỹ. Trong dòng mạch văn chương này, Auster đã thể hiện được những
đặc điểm cốt lõi trong truyền thống Do Thái như các cây bút đàn anh đi trước đồng thời
cũng tự tìm cho mình những nét riêng khu biệt. Sự khu biệt này do tính Mỹ trong môi
trường sống của ông cùng những ảnh hưởng của văn hóa Pháp mà ông có thời gian gắn bó.
Sau khi tốt nghiệp Đại học Columbia vào năm 1970, Paul Auster tới Pháp sinh
sống bằng nghề dịch thuật, phê bình và viết tiểu luận để kiếm sống. Sau đó, ông trở về
Mỹ vào năm 1974, tiếp tục công việc gắn bó với dịch thuật, phê bình và viết kịch bản.
Trong đời sống tri thức Pháp thời điểm mà Auster sang sinh sống, những chuyển
mình của “hoàn cảnh hậu hiện đại” đã khiến các tư tưởng triết học và văn học có sự thay
đổi lớn. Sự giao lưu tiếp xúc với văn chương Pháp đã giúp Paul Auster thấm nhuần các tư
23
tưởng hậu hiện đại. Ông tiếp nhận những thành tựu lớn của văn hóa Pháp để hình thành
nên trường kiến thức của mình để rồi vận dụng nó vào trong những sáng tác về sau này.
Sự ảnh hưởng của nền văn hóa – văn học Pháp cũng giúp Paul Auster trở thành
một đại diện lớn của văn chương hậu hiện đại. Những dấu vết về mặt tư tưởng và các
hình thức của văn học hậu hiện đại có thể dễ dàng tìm thấy trong các sáng tác của ông.
Bên cạnh những nhà văn Mỹ đi trước, trong những tác phẩm hậu hiện đại của Paul
Auster, người ta cũng tìm thấy những sự ảnh hưởng từ cây bút viết kịch và tiểu thuyết
Châu Âu, Samuel Beckett, người ông từng gặp ở Paris. Paul Auster cũng được biết đến
như là người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất bởi phân tâm học Jacques Lacan và thuyết
tiên nghiệm của Henry David Thoreau.
1.2. Tác phẩm “Khởi sinh của cô độc”
“Khởi sinh của cô độc” được viết vào năm 1982, là tác phẩm khởi đầu sự nghiệp
4
(Nguyễn Trần Kiên)
Paul Auster mở đầu tác phẩm bằng sự kiện: cái chết của cha “tôi”. Sự ra đi đầy đột
ngột ấy đã tạo nên một động lực ngầm thúc đẩy khiến “tôi biết mình phải viết về cha” [4;
tr.9] Auster diễn tả trạng thái bản thân khi nhận được tin ấy như sau: “Sự đột ngột của cái
chết chẳng để chỗ trống cho suy nghĩ, chẳng cho tâm trí cơ hội tìm kiếm từ ngữ nào để
an ủi mình. Ta chẳng còn gì ngoài cái chết, một thực tế không thể thay đổi được trong sự
vĩnh cửu của chính ta.” [4; tr.8] Cảm giác đó về cái chết đã mở ra cho Paul con đường đi
tìm sự vĩnh cửu trong cái chết của cha mình hay cũng là của chính bản thân mình. Mối
dây liên hệ vô hình giữa cha con đã đưa Paul Auster bước vào căn phòng mà cha mình đã
sống đơn độc trong suốt mười lăm năm. Trong không gian của sự tĩnh lặng đó, mọi bí
mật đã được linh cảm, dẫn dắt rồi mở ra đầy đau đớn.
Để kết nối với những kỉ vật trong căn phòng trống của người đã khuất, nhân vật
“tôi” đã dẫn ra một sự tình cờ khi anh ta khám phá được vụ án của gia đình mình. Thông
qua một cụ già quen biết với gia đình Auster, “tôi” đã biết được sự thật rằng: “Bà nội tôi
đã giết ông nội tôi”. [4; tr.60] Vụ án được xem như là sự khởi đầu mọi chấn thương của
4 Trích lời của dịch giả Nguyễn Trần Kiên trong phần giới thiệu tiểu thuyết “Một tiểu thuyết Pháp” của
nhà văn Frédéric Beigbeder.
25