ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ HUYỀN THƢƠNG
KẾT HỢP YẾU TỐ TRUYỀN THỐNG
VÀ HIỆN ĐẠI TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA
VÙNG VEN ĐÔ NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 85 LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐỖ THỊ THẠCH
HÀ NỘI - 2012 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. QUAN NIỆM CHUNG VỀ GIA ĐÌNH, MỐI QUAN HỆ GIỮA YẾU
TỐ TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG XÂY DỰNG GIA 2.2.2. Những vấn đề đặt ra trong việc kết hợp truyền thống và hiện đại
trong xây dựng gia đình văn hóa vùng ven đô ngoại thành Hà Nội
hiện nay 93
Chƣơng 3. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU KẾT
HỢP TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG XÂY DỰNG GIA
ĐÌNH VĂN HÓA VÙNG VEN ĐÔ NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN
NAY 106
3.1. Một số quan điểm cơ bản 106
3.1.1. Kết hợp truyền thống với hiện đại trong xây dự ng gia đình văn
hóa ven đô ngoại thành Hà Nội phải gắn liền với chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của thành phố 106
3.1.2. Kết hợp truyền thống với hiện đại trong xây dựng gia đình văn
hóa ven đô ngoại thành Hà Nội phải phù hợp với điều kiện văn
hóa - xã hội vùng ven đô 109
3.1.3. Kết hợp truyền thống với hiện đại trong xây dự ng gia đình văn
hóa vùng ven đô ngoại thành Hà Nội là trá ch nhiệ m củ a hệ thố ng
chnh tr, của cc gia đình và cc c nhân ở vùng ven đô 111
3.2. Các giải php cơ bản 113
3.2.1. Nhóm giải php nâng cao nhn thc v ề kết hợp truyền thống và
hiện đại trong xây dựng gia đình văn hóa vùng ven đô ngoại thành
Hà Nội 113
3.2.2. Nhóm giải php pht triển kinh tế hộ gia đình 117
3.2.3. Nhóm giải pháp về phát triển văn hóa - xã hội vùng ven đô ngoại
thành Hà Nội 123
3.2.4. Nhóm giải pháp về tăng cường vai trò lã nh đạ o và quả n lý củ a cá c
cấ p ủ y Đả ng , chnh quyền đa phương và đoàn thể trong vi ệc kết
các quốc gia Châu Á, trong đó có Việt Nam, đang trải nghiệm một cuộc chuyển
mình vĩ đại: Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa với quy mô và tốc độ
ngày càng mạnh mẽ. Qu trình đó đang tc động sâu sắc đến thiết chế gia đình
- một thiết chế lâu đời và bền vững, song cũng hết sc nhạy cảm với mọi biến
cố xã hội.
Gia đình là ci nôi nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng
đặc biệt trong giáo dục nếp sống và hình thành nhân cch con người. Trải qua
nhiều thời kỳ phát triển, cấu trúc và quan hệ trong gia đình có nhiều thay đổi,
nhưng chc năng cơ bản của gia đình vẫn tồn tại, gia đình vẫn là một trong
những nhân tố quan trọng không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế - xã hội
của quốc gia. Thực tế cho thấy, nhp sống công nghiệp đòi hỏi từng cá nhân
phải nỗ lực tối đa trong lao động và học tp. Điều này có tc động mạnh mẽ tới
xã hội nói chung và lối sống của từng gia đình nói riêng. Sự tc động đó vừa có
mặt tích cực lại vừa có mặt tiêu cực. Nhp sống hiện đại cũng kéo theo những
hiện tượng, xu hướng gia đình hạt nhân - gia đình hiện đại ngày càng tăng lên;
gia đình trực hệ - gia đình truyền thống “tam, t đại đồng đường” ngày càng
giảm. Xét về tính chất, gia đình truyền thống và gia đình hiện đại đều có những
giá tr và hạn chế nhất đnh. Vì vy, trong xu hướng phát triển của mô hình gia
đình thời kỳ mới, cần có sự kết hợp hài hòa để pht huy được những giá tr tích
cực, đồng thời khắc phục được những nhược điểm của cả hai loại hình gia đình
này, nhằm xây dựng thành công gia đình văn hóa ở nước ta hiện nay.
2 Trong guồng máy của xã hội đang pht triển theo hướng đô th hóa, các
làng quê ngoại thành Hà Nội nói chung, Ba Vì, Đông Anh, Gia Lâm đã và đang
trong quá trình chuyển mình mạnh mẽ. Trong sự chuyển mình đó, người dân ven
3 gia đình vừa hội tụ được những gia lễ tốt đẹp trong truyền thống, vừa có những
yếu tố hợp lý, tiến bộ của nền văn minh đương đại.
Xã hội muốn phát triển bền vững phải trên nền tảng gia đình bền vững,
trong đó gia đình ở ven đô ngoại thành Hà Nội nói chung, gia đình ở Ba Vì,
Đông Anh, Gia Lâm nói riêng là một trong những vùng cần được xây dựng bền
vững. Qua thực tiễn nghiên cu, tác giả lun văn nhn thấy chưa có một công
trình nghiên cu cụ thể nào về sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong
xây dựng gia đình văn hóa ở vùng ven đô ngoại thành Hà Nội. Vì vy, tác giả
đã lựa chọn đề tài “Kết hợp yếu tố truyền thống và hiện đại trong xây dựng
gia đình văn hóa vùng ven đô Hà Nội hiện nay” làm hướng nghiên cu của
mình, với mong muốn được góp phần vào việc nâng cao nhn thc của mọi
người trong việc giữ gìn và phát huy các giá tr tốt đẹp của gia đình truyền
thống, kết hợp với những yếu tố tiến bộ của thời đại mới để làm cho gia đình
thực sự trở thành tế bào khỏe mạnh của xã hội, là chỗ dựa vững chắc cả về vt
chất và tinh thần của con người trong cuộc sống.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Trong những năm gần đây ở nước ta có nhiều công trình nghiên cu về
hôn nhân và gia đình, về vấn đề gìn giữ và phát huy các yếu tố truyền thống kết
hợp với hiện đại. Tiêu biểu là một số công trình đã được sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho đề tài như sau:
Các nghiên cứu về hôn nhân và gia đình:
Mai Huy Bích (2003), “Xã hội học gia đình”, Nxb KHXH, Hà Nội. Tiếp
cn gia đình dưới góc nhìn xã hội học, tác giả đã trình bày chủ đề riêng và tương
đối độc lp trong bảy chương, từ đó cuốn sch đã lun giải một số vấn đề lý lun
và thực tiễn quan trọng về gia đình. Tuy vy, những nhn đnh về những vấn đề cơ
bản của gia đình Việt Nam mới chỉ dựa trên cách tiếp cn xã hội học về gia đình.
Lê Trọng Ân (2004), “Tìm hiểu tác phẩm: Nguồn gốc gia đình, của chế
những vấn đề cơ bản của gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam hiện nay.
Trên cơ sở đó, tc giả đưa ra năm nhóm giải pháp kiến ngh chủ yếu xây dựng
gia đình Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH.
Đỗ Th Thạch (2011), “Về xây dự ng gia đì nh văn hó a Việ t Nam dướ i á nh
sáng Đại hội XI của Đản g”, Tạp ch Cộng sản số 56 (8 - 2011). Trên cơ sở tiếp
cn cc văn kiện Đại hội Đảng trong thời kỳ đổi mới, tác giả đã phân tch những
điểm mới trong văn kiện Đại hội XI về vấn đề gia đình và xây dựng gia đình văn
hóa. 5 Nguyễn Linh Khiếu (2001), “Gia đình và phụ nữ trong biến đổi văn hóa
xã hội ở nông thôn”, Nxb KHXH, Hà Nội. Trên cơ sở khẳng đnh v trí, vai trò
to lớn của gia đình đối với sự phát triển cá nhân và xã hội cũng như vai trò của
phụ nữ nông thôn trong thời kỳ CNH, HĐH, tác giả công trình đã tp trung phân
tch đặc điểm cơ bản của gia đình Việt Nam, những yếu tố tc động đến gia đình
và vai trò người phụ nữ trong gia đình trong qu trình đô th hóa; dự báo xu
hướng biến đổi gia đình trong mối quan hệ với biến đổi văn hóa xã hội ở nông
thôn Việt Nam. Đề tài nghiên cu sẽ sâu sắc hơn nếu tác giả chỉ ra những thách
thc đang đặt ra đối với phụ nữ nông thôn, trên cơ sở đó làm rõ yêu cầu cấp thiết
đối với xây dựng gia đình mới và pht huy vai trò người phụ nữ nông thôn Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàng Bá Thnh (2002), “Vai trò phụ nữ nông thôn trong công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông thôn”, Nxb CTQG, Hà Nội. Tác giả khẳng đnh phụ nữ
nông thôn có vai trò hết sc quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp, nông
thôn trong qu trình đô th hóa, công nghiệp hóa đất nước. Là một lực lượng chủ
yếu trong nông nghiệp và chiếm đông đảo trong nguồn nhân lực của đất nước,
nhưng phụ nữ nông thôn đang gặp rất nhiều khó khăn, thch thc so với nam
cứ u gia đì nh trong giai đoạ n hiệ n nay.
Đỗ Th Thạch (2010), “Tác động của toàn cầu hóa đối với việc thực hiện
bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay”. Đề tài khoa họ c cấ p cơ sở đã đi sâu phân
tích những tc động của toàn cầu hóa đối với bình đẳng giới trong gia đình trên
một số lĩnh vực cơ bả n c ủa đời sống xã hội. Từ đó, đưa ra những giải pháp chủ
yếu để phát huy sự tc động tích cực, hạn chế sự tc động tiêu cực nhằm thực
hiện bình đẳng giới ở Việ t Nam hiện nay.
Các nghiên cứu về giá trị truyền thống và hiện đại:
VI Kairan (1977), “Tính kế thừa trong sự phát triển văn hóa trong điều
kiện của chủ nghĩa xã hội”, Matxcơva. Công trình đã đề cp tới tầm quan trọng
của việc kế thừa các giá tr truyền thống trong trong việc phát triển các giá tr
văn hóa nói chung, trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội nói riêng. Đồng thời
đưa ra một số giải php để giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống.
Trần Văn Giàu (1980), “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt
Nam”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội. Trong công trình này, tác giả chủ yếu đề
cp tới các giá tr tinh thần truyền thống của người Việt Nam chúng ta, trong đó
có văn hóa gia đình.
Dương Th Minh 7 Khuất Thu Hồng (chủ biên), (1996), “Gia đình truyền thống”, Nhà xuất
bản Khoa học xã hội. Cuốn sách cung cấp cho chúng ta một cách nhìn nhn khoa
học về hôn nhân, gia đình truyền thống của người Việt thông qua phỏng vấn sâu
các cụ ông, các cụ bà ở thành th và nông thôn (Hà Nội, Hà Tây cũ), với mong
muốn gìn giữ và phát huy những nét đẹp của gia đình truyền thống, cũng như
thấy được những gì là không thích hợp của nó với một đời sống công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
truyền thống và các vấn đề tâm - bệnh lý xã hội”. Cuốn sách tp hợp nhiều bài
viết đnh gi xc thực về các truyền thống quý giá của gia đình Việt Nam, được
các nhà nghiên cu có uy tín tiếp cn dưới nhiều góc độ lch sử, văn hóa, gio
dục, tâm lý, mỹ học
Đoàn Văn Khi - Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ
(2010), “Kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống Việt Nam trong bối cảnh
toàn cầu hóa hiện nay”. Đề tài cung cấp một cái nhìn tổng quan về toàn cầu hóa,
về sự biến đổi các giá tr truyền thống của dân tộc Việt Nam (trong đó có truyền
thống gia đình) trước tc động của toàn cầu hóa. Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra
những giải php cơ bản để kế thừa và phát huy truyền thống tiêu biểu của dân
tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Ngoài ra trên các tạp chí, các báo trong những năm vừa qua cũng đã có
nhiều bài viết liên quan đến vấn đề gia đình văn hóa, về truyền thống và hiện đại
trong xây dựng gia đình văn hóa ngày nay như: “Gia đình Việt Nam hiện nay:
truyền thống hay hiện đại?” của TS. Nguyễn Th Thường, Tạp chí Lý lun chính
tr số 253/1999; “Tư tưởng Nho giáo về gia đình và việc xây dựng gia đình mới
ở Việt Nam hiện nay” của Minh Anh, Tạp chí Triết học; “Văn hóa gia đình và
xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ hội nhập” của ThS. Trần Th Tuyết
Mai, Tạp chí Cộng sản 09/2008; “Gia đình là tế bào của xã hội” của Quỳnh
Nga, Tạp chí Tuyên giáo 05/2009; “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công
tác xây dựng gia đình văn hóa” của Phan Văn Phờ - Trưởng ban Tuyên giáo
Tỉnh Quảng Nam, Tạp chí Tuyên giáo 05/2009; "Bình đẳng giới và sự tiến bộ của
phụ nữ Việt Nam hiện nay" của PGS,TS. Đỗ Th Thạch, Tạp chí Lý lun chính tr
2003
Các công trình nghiên cu trên đây đã lun giải và làm sáng tỏ ở mc độ
nhất đnh về những vấn đề cơ bản của gia đình Việt Nam trong quá trình chuyển
đổi dưới sự tc động của qu trình đổi mới đất nước và hội nhp quốc tế. Những 9
Lun văn nghiên cu những vấn đề lý lun và thực tiễn có liên quan đến
việc kết hợp yếu tố truyền thống và hiện đại trong xây dựng gia đình văn hóa
vùng ven đô ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. 10 * Phạm vi nghiên cứu:
- Lun văn tp trung nghiên cu việc kết hợp truyền thống và hiện đại
trong xây dựng gia đình văn hóa ở ven đô Hà Nội, bao gồm một số huyện: Ba
Vì, Đông Anh, Gia Lâm. Ngoài Ba Vì là huyện mới bắt đầu CNH, HĐH, hai
huyện còn lại là những đa phương chu tc động mạnh mẽ của quá trình CNH,
HĐH và đô th hóa. Những biến đổi về điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng
trực tiếp đến tổ chc đời sống gia đình nơi đây. Mô hình gia đình đang có xu
hướng chuyển từ truyền thống sang hiện đại với quy mô và tốc độ ngày càng
mạnh mẽ. Bên cạnh những mặt tích cực, có nhiều vấn đề của gia đình hiện đại
đang đặt ra cần phải giải quyết. Vì vy tác giả lun văn lựa chọn ba huyện làm
hướng nghiên cu, với mong muốn làm rõ thực trạng và đưa ra giải php để xây
dựng gia đình văn hóa ở ba đa bàn trên ngày càng bền vững.
- Thời gian nghiên cu: Kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng
gia đình văn hóa vùng ven đô ngoại thành Hà Nội thời kỳ đổi mới và hội nhp
quốc tế. Qu trình đổi mới và hội nhp quốc tế làm biến đổi sâu sắc điều kiện
kinh tế, văn hóa, xã hội; tc động trực tiếp tới sự biến đổi gia đình từ truyền
thống sang hiện đại.
5. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Lun văn được nghiên cu trên nền tảng sự tht lch sử khách quan,
khoa học và trên cơ sở lý lun của chủ nghĩa Mc-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng và chính sách của nhà nước Việt Nam về gia đình, về kết
hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng gia đình văn hóa. Ngoài ra lun văn
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết lun và danh mục tài liệu tham khảo, lun văn
gồm có 3 chương, 6 tiết:
Chƣơng 1: Quan niệm chung về gia đình, mối quan hệ giữa yếu tố truyền
thống và hiện đại trong xây dựng gia đình văn hóa ở Việt Nam.
Chƣơng 2: Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong quá trình kết hợp
truyền thống và hiện đại trong xây dựng gia đình văn hóa vùng ven đô Hà Nội
hiện nay.
Chƣơng 3: Một số quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu kết hợp yếu tố
truyền thống và hiện đại trong xây dựng gia đình văn hóa vùng ven đô Hà Nội
hiện nay. 12 Chƣơng 1
QUAN NIỆM CHUNG VỀ GIA ĐÌNH, MỐI QUAN HỆ
GIỮA YẾU TỐ TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG XÂY DỰNG
GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Quan niệm chung về gia đình
1.1.1. Khái niệm gia đình
Gia đình là ci gốc của con người, nơi con người được sinh ra, được bắt
đầu một cuộc đời, được bắt đầu sự nhn biết. Trong suốt cuộc đời cho đến khi
kết thúc, gia đình luôn luôn là điểm tựa, là cội nguồn của tình cảm, là cái nôi của
sự yên tĩnh trong yên bình, trong ấm êm của mỗi cá nhân. Sự bình yên là yếu tố
vô cùng cần thiết cho cuộc sống của con người và cho xã hội. Gia đình là nơi
đảm bảo những điều kiện an toàn cho trẻ thơ phát triển, người già có nơi nương
tựa, không b hiu quạnh cô đơn, người lao động được phục hồi sc khỏe, lấy lại
quan trọng khác của gia đình.
Theo từ điển tiếng Việt, Văn Tân chủ biên đã đnh nghĩa: “Gia đình là một
đơn v xã hội, thành lp trên cơ sở dòng máu, bắt nguồn từ thời đại th tộc mẫu
hệ, trong thời đại phong kiến thường có cha mẹ, con cháu, có khi chắt nữa, trong
thời đại TBCN thường chỉ có vợ chồng và con ci” [45, tr.113].
Đnh nghĩa này khi qut được một số nét bản chất của gia đình về cơ sở
hình thành, duy trì, biến đổi của gia đình trong lch sử và khẳng đnh gia đình là
đơn v xã hội nhưng chưa nêu ra được vai trò của gia đình với xã hội qua các
chc năng của nó. Có thể nói, dưới góc độ ngôn ngữ, đnh nghĩa gia đình chưa
tht đầy đủ, cần phải có đnh nghĩa mới về gia đình nhằm đp ng yêu cầu thực
tiễn đòi hỏi.
Dưới góc độ xã hội học, George Murdock đnh nghĩa gia đình là "một
nhóm xã hội được xc đnh bởi một nơi trú ngụ chung, sự cộng tác và tái sản
xuất về kinh tế, bao gồm những người trưởng thành của cả hai giới, trong đó có
ít nhất là hai người duy trì mối quan hệ tính dục được xã hội công nhn, và một
hoặc nhiều đa trẻ, là con đẻ hay con nuôi, của những người trưởng thành có
quan hệ như vợ chồng với nhau" [17, tr.35-36].
Đnh nghĩa của Murdock làm nảy ra một số vấn đề. Trước hết, Murdock
đã bỏ qua mặt quyền lực. Trong thực tế, cc gia đình là cc nhóm nhỏ mà các
thành viên của chúng có sự khác biệt quan trọng về quy mô, sc khỏe và các
tiềm năng (kinh tế và các th khác). Chính sự không cân bằng này đã tạo ra chế 14 độ gia trưởng - sự kiểm sot gia đình bởi một người đàn ông thống tr (điển hình
là người cha) - một sự tht mang tính lch sử của đời sống gia đình trong phần
lớn các xã hội đã được biết đến.
Nhìn từ góc độ tâm lý học, Bacbara Schoen Johnson - chuyên gia tư vấn
lý, được Nhà nước thừa nhn và bảo vệ (được ghi rõ trong lut Hôn nhân và Gia
đình của Nhà nước ta). Đồng thời, gia đình có những quy đnh rõ ràng về quyền
được phép và cấm đon quan hệ tình dục giữa các thành viên [41, tr.42].
Có thể nói đây là một đnh nghĩa kh hoàn chỉnh, đã phản nh được
những thuộc tính vốn có của gia đình. Bởi quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ hình
thành giữa chủ thể với đối tượng được nuôi dưỡng, họ gắn bó với nhau về trách
nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi, được họ hàng ủng hộ và được pháp lut bảo vệ.
Hướng tới việc xây dựng gia đình bền vững, tổ chc UNESCO của Liên
hiệp quốc đã quyết đnh lấy năm 1994 là năm quốc tế về gia đình và khẳng đnh:
Gia đình là một yếu tố tự nhiên và cơ bản, một đơn v kinh tế của xã hội. Gia
đình được coi như một giá tr vô cùng quý báu của nhân loại, cần được gìn giữ
và phát huy. Trên tinh thần đó, UNESCO đã đưa ra đnh nghĩa về gia đình “Gia
đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống chung và có ngân sách
chung. Cc thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền
lợi về mọi mặt, được pháp lut thừa nhn” [3, tr.10].
Qua một số quan niệm về gia đình của các tác giả có thể thấy rằng gia
đình được nhn diện trên một số khía cạnh sau đây:
Một là, gia đình là một thiết chế xã hội được hình thành trước hết trên cơ
sở của quan hệ hôn nhân. Quan hệ hôn nhân là sự liên kết các cá nhân (nam - nữ)
theo quy đnh của pháp lut hay nhà thờ, nhằm để cùng sống với nhau và xây
dựng gia đình hạnh phúc. Quan hệ hôn nhân được biểu hiện là một loại quan hệ
xã hội gắn liền với thân nhân đó là quan hệ vợ chồng kết hợp với nhau để sinh
sản và cùng nuôi dạy con cái. Mỗi hình thái kinh tế xã hội có các kiểu hôn nhân
đặc trưng và trong xã hội có giai cấp, các giai cấp thống tr dùng lut để điều
chỉnh các quan hệ hôn nhân cho phù hợp với ý chí và lợi ích của giai cấp mình.
Hai là, quan hệ huyết thống là quan hệ giữa cha mẹ và con cái, là sự tiếp
tục và là hệ quả tất yếu của quan hệ hôn nhân, nó chỉ phát triển tốt đẹp dựa trên
quan hệ tình yêu và hôn nhân chnh đng, hợp pháp.
1.1.2. Gia đình Việt Nam truyền thống
Trong lch sử xã hội Việt Nam, gia đình truyền thống đã giữ một vai trò
quan trọng trong giáo dục và rèn luyện nhân cch con người, trao truyền và giữ
gìn bản sắc văn hóa dân tộc qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Cho đến nay, gia đình 17 truyền thống vẫn còn là một khái niệm rất dễ gây ra tranh lun giữa những người
sử dụng nó. Nó bao hàm nhiều nghĩa mà không phải lúc nào và ở đâu người ta
cũng có thể dễ dàng chia sẻ được hết những nội dung ngữ nghĩa của nó. Chính vì
thế mà vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau về "gia đình truyền thống". Đôi khi,
người ta đồng nhất gia đình truyền thống chỉ với một trong số những nét nghĩa của
nó (mà thực ra không phải như vy). Chẳng hạn, người ta đồng nhất gia đình
truyền thống với gia đình nho gio hay gia đình phong kiến và coi chúng chỉ là
những biến thể của cùng một hình thi gia đình [57, tr.25-26].
Những người khác lại loại trừ khỏi gia đình truyền thống yếu tố "nho
giáo" và "phong kiến". Dường như họ muốn đem đến cho khái niệm này cái vẻ
thuần phác của hình thi gia đình Việt Nam cổ truyền từ rất xa xưa trong lch sử.
Lúc đó, gia đình truyền thống xuất hiện trong tr tưởng tượng của người ta như
một biểu hiện thơ mộng với tất cả sự tốt đẹp của cuộc sống gia đình: Một mái ấm
của tình yêu thương, sự thủy chung, hạnh phúc và trách nhiệm [57, tr.26].
Có người lại coi gia đình truyền thống chỉ là một kiểu loại gia đình bên
cạnh những loại gia đình khc. Đó là kiểu gia đình bình dân trong xã hội phong
kiến [57, tr.26]. Nghiên cu về vấn đề này, tác giả lun văn đã khi qut đặc
điểm của gia đình Việt Nam truyền thống trên một số khía cạnh sau:
Một là: Gia đình Việt Nam truyền thống là hình thái gia đình gắn liền với
xã hội nông thôn - nông nghiệp, là con đẻ của xã hội nông nghiệp, ít biến đổi
qua rất nhiều biến thiên của lịch sử
trọng đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Mỗi gia đình tự cung tự cấp hầu như toàn bộ
những sản phẩm tiêu dùng cho mình: vừa trồng trọt, vừa chăn nuôi, vừa làm thủ
công nghiệp và buôn bn. Đó là hộ nông - công - thương kết hợp.
Cách sống thiên về tình cảm được coi là một nét đẹp của con người Việt
Nam, của gia đình Việt Nam được sản sinh trong xã hội nông thôn - nông
nghiệp. Cuộc sống cần lao trong điều kiện thiên nhiên và sản xuất khắc nghiệt rất
cần đến sự trợ giúp lẫn nhau trong công việc đã hình thành ở con người Việt
Nam nét tính cách tiêu biểu là giàu lòng nhân ái, khoan dung, sống tình nghĩa,
thuỷ chung, đời sống nội tâm vô cùng phong phú. Kho tàng ca dao dân ca, văn
hoá nghệ thut từ xưa đến nay đã có rất nhiều câu ca phản ánh truyền thống
trọng tình của người Việt: “Thương người như thể thương thân”, “Một con ngựa
đau cả tàu bỏ cỏ”, “Lng giềng tối lửa tắt đèn có nhau”, “L lành đùm l rch”
Tinh thần nhân ái khoan dung, lối sống giàu tình cảm được thể hiện rõ nét trong 19 nếp sống và cách ng xử của phần lớn cc gia đình Việt Nam. Giữa các thế hệ,
cc thành viên gia đình thường có sự chia sẻ, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau khi
thành công cũng như khi thất bại.
Tuy nhiên, với đặc thù là con đẻ của xã hội nông nghiệp ít biến đổi qua
những biến thiên lch sử, gia đình Việt Nam truyền thống cũng là nơi dung
dưỡng của rất nhiều yếu tố tiêu cực lạc hu. Tồn tại trong nền kinh tế tiểu nông
lạc hu, gia đình truyền thống Việt Nam đã “đẻ” ra những nét tính cách có thể
coi là tiêu cực và phản giá tr. Cho đến nay, trong tính cách của không t người
Việt Nam vẫn mang nặng tính cục bộ, đa phương, tnh ghen ghét, đố kỵ với
những người vượt trội hơn mình hoặc tiến bộ hơn mình; phương thc sản xuất
thủ công, giản đơn, thô sơ, lạc hu đã hình thành tc phong tùy tiện, thiếu ý thc
tổ chc kỷ lut, thiếu tư duy phân tch, thực nghiệm, lý lun, duy trì lối làm ăn
Đạo, giữa Tam giáo với cch suy nghĩ dân gian, giữa những th đó với Âm
dương, Ngũ hành trong quan niệm về thế giới, quan niệm về con người, về
cuộc sống, về sự vn động và đổi thay lch sử (trong đó có quan niệm về gia
đình) đã tạo nên những nét độc đo trong tư duy của người Việt.
Nói đến hệ thống tư tưởng và tôn giáo ảnh hưởng đến Việt Nam, chúng ta
không thể phủ nhn sự tc động và tầm ảnh hưởng rất lớn của Nho gio đến sự
hình thành và phát triển của gia đình Việt Nam truyền thống. Với tư cch là một
hệ tư tưởng, một học thuyết chính tr - xã hội, Nho gio được du nhp vào nước
ta với tư cch là một công cụ quản lý cho các triều đình phong kiến phương Bắc.
Tuy nhiên, hệ tư tưởng này lại tỏ ra có hiệu quả và thích ng nhanh với xã hội
phong kiến Việt Nam lúc bấy giờ. Với quan niệm “xã hội chỉ là một gia đình mở
rộng”, Nho gio đặc biệt coi trọng đạo đc gia đình và việc mở rộng đạo đc gia
đình. Chính từ việc coi trọng đạo đc gia đình, Nho gio đã xc lp một hệ
chuẩn mực, đồng thời đó cũng là hệ giá tr nhằm điều chỉnh các quan hệ gia
đình, như: quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, quan hệ
giữa anh em trong gia đình. Những chuẩn mực đó góp phần bồi đắp và làm sâu
sắc thêm những giá tr tốt đẹp của gia đình Việt Nam truyền thống.
Các nghiên cu xã hội học gần đây về gia đình Việt Nam truyền thống đã
nhn đnh rằng những nguyên lý Nho giáo khi thâm nhp vào xã hội Việt Nam đã
được biến thi để thích ng với nền văn hóa bản đa. Tuy nhiên, Nho giáo có ảnh
hưởng không đều đối với các tầng lớp xã hội khác nhau, giữa cc tn điều của Nho
giáo và mc độ thấm nhuần của Nho giáo trong thực tế có một khoảng cách. Gia