Vấn đề xây dựng gia đình văn hoá mới ở huyện hương sơn (hà tĩnh) những vấn đề dặt ra và giải pháp - Pdf 32

Trờng Đại học Vinh
Khoa giáo dục chính trị
========

Vấn đề xây dựng gia đình văn hoá mới ở
huyện hơng sơn (hà tĩnh) những vấn đề đặt
ra và giải pháp
Khoá luận tốt nghiệp đại học
ngành cử nhân s phạm giáo dục chính trị

Cán bộ hớng dẫn khoa học: Ths. Phan Văn Bình
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Cẩm Huyền
Lớp
43A1 - GDCT

====Vinh, 2006===

1


Lời cảm ơn

Đề hoàn thành khoá luận này, tôi xin chân thành cảm
ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban chủ nhiệm khoa, Hội đồng
khoa học khoa, các thầy cô giáo bộ môn

CNXHKH,

đặc biệt


Mục
đích

nhiệm
vụ
nghiên
cứu
......................................................................................................................................
4
4.
Phạm
vi
nghiên
cứu
......................................................................................................................................
5
5.
Phơng
pháp
nghiên
cứu
......................................................................................................................................
5
6.
ý
nghĩa
của
đề
tài
......................................................................................................................................

1.1.3.
Vị
trí

chức
năng
của
gia
đình
......................................................................................................................................
12
1.2.
Gia
đình
văn
hoá
mới
3


......................................................................................................................................
14
1.2.1.
Khái
niệm
văn
hoá
......................................................................................................................................
14
1.2.2. Gia đình văn hoá và gia đình văn hoá mới

24
2.3.
Những
vấn
đề
đặt
ra
cần
giải
quyết
......................................................................................................................................
39
Chơng 3: Những phơng hớng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hơn nữa
công tác xây dựng gia đình văn hoá mới ở huyện Hơng Sơn (Hà
Tĩnh)
trong
thời
gian
tới
...................................................................................................................
45
3.1. Những phơng hớng nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng gia đình
mới

huyện
Hơng
Sơn
(Hà
Tĩnh)
........................................................................................................................

6. THPT
7. THCN
8. BHYT
9. TNXH
10. UBND
11. VHTT
12. TWMTTQVN

Liên hiệp quốc
Xã hội chủ nghĩa
Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Trung học chuyên nghiệp
Bảo hiểm y tế
Tệ nạn xã hội
Uỷ ban nhân dân
Văn hoá thông tin
Trung ơng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

6


A. Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình - nơi con ngời sinh ra và lớn lên, có tác động to lớn đến sự phát
triển của cá nhân và xã hội. Trong ý thức cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gia
đình luôn đợc coi là tổ ấm, là môi trờng đầu tiên phát sinh, nuôi dỡng những
phẩm chất tốt đẹp tạo nên nhân cách con ngời Việt Nam.

1987), "Văn hóa và lối sống" (Thanh lê, Nxb Thanh niên, 2000), "Văn hóa gia
đình với việc hình thành nhân cách trẻ em" (Lê nh Hoa, Viện văn hóa, Nxb Văn
hóa thông tin. Hà Nội, 2001), bài viết "Những thách thức đối với gia đình hiện
nay và chính sách hỗ trợ gia đình" (Lê Thị ánh Tuyết, Tạp chí cộng sản, số 19
tháng 10 năm 2001). Tác giả Lê Thị Thu có bài viết "Gia đình Việt Nam trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc" (Tạp chí báo chí và tuyên truyền
số tháng 4/2004). Và đặc biệt gần đây, một số đề tài khóa luận tốt nghiệp cũng
8


đã quan tâm, đề cập vấn đề này. Tác giả Lê Thị Hạnh với "vấn đề xây dựng gia
đình văn hóa ở Việt Nam trong sự nghiệp CNH HĐH" (Khóa luận tốt nghiệp
Đại Học Vinh, 2004) và gần đây nhất tác giả Lê Thị Hiền với "Vấn đề xây dựng
gia đình văn hóa ở xã Bắc Lơng (Thọ Xuân Thanh Hóa)- thực trạng và giải pháp"
(Khóa luận tốt nghiệp Đại Học Vinh 2005).
Nhìn chung, các công trình, các bài viết và các đề tài khóa luận đã nêu
mới chỉ dừng lại ở chỗ khái quát, nghiên cứu các vấn đề gia đình trên phơng diện
văn hóa và đời sống. Tác giả Lê Thị Hạnh đã có cách nhìn mới về góc độ đạo
đức, văn hóa gia đình, đã đa ra đợc các tiêu chuẩn của gia đình văn hoá mới. Tuy
vậy, tác giả cha đề cập, nghiên cứu và đa ra đợc những giải pháp cho một địa phơng cụ thể. Riêng với tác giả Lê Thị Hiền với đề tài khóa luận tốt nghiệp của
mình đã có cái nhìn mới và cách đề cập mới, trực tiếp đến vấn đề xây dựng gia
đình văn hóa mới ở một địa phơng cụ thể. Trên cơ sở khai thác sâu thực trạng,
tác giả cũng đã đề ra đợc một hệ thống giải pháp thiết thực. Song, nhìn chung
việc nghiên cứu này vẫn còn bó hẹp trong phạm vi một xã, tác giả cha đi sâu làm
rõ, chỉ ra đợc những vấn đề giải quyết. Hơn nữa, vấn đề xây dựng văn hóa mới ở
phạm vi rộng hơn là một huyện nh huyện Hơng Sơn (Hà Tĩnh), những vấn đề đặt
ra, cần giải quyết, và trên cơ sở đó đề xuất đợc một số giải pháp thiết thực, thì
hầu nh cha có một công trình, một đề tài nào nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

5. Phơng pháp nghiên cứu
Ngoài phơng pháp chung, dựa trên phơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài còn sử dụng các phơng pháp cơ bản sau:
- Phơng pháp tiếp cận, phỏng vấn.
- Phơng pháp thống kê số liệu và xử lý số liệu.
- Phơng pháp so sánh, phân tích, tổng hợp tài liệu.
- Phơng pháp kết hợp lôgic và lịch sử.
6. ý nghĩa của đề tài
6.1. Về lý luận
Kết quả của đề tài, góp phần nghiên cứu vấn đề xây dựng gia đình văn
hóa mới. Khẳng định những chuẩn mực, giá trị cần thiết trong gia đình văn hóa
mới nói chung.
6.2. Về thực tiễn
Đề tài định hớng nhận thức về gia đình cho mọi ngời để xây dựng gia
đình tốt hơn. Thông qua khóa luận, chúng tôi muốn góp một phần nhỏ bé của
mình vào việc đẩy mạnh hơn nữa phong trào xây dựng gia đình văn hóa mới ở
huyện Hơng Sơn trong giai đoạn hiện nay; đồng thời có thể xây dựng ở các địa
phơng khác và làm tài liệu tham khảo cho những ai đã, đang và sẽ quan tâm đến
vấn đề xây dựng gia đình văn hóa mới trong đời sống thực tiễn và trong cuộc
sống xây dựng CNXH.
7. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo
khóa luận gồm 3 chơng:
Chơng 1: Những vấn đề lý luận chung về gia đình và gia đình văn hóa
mới.
10


Chơng2: Vấn đề xây dựng gia đình văn hóa mới ở huyện Hơng Sơn (HT),
và những vấn đề đặt ra.

Kinglay Davis định nghĩa Gia đình là một nhóm ngời mà quan hệ của họ
với nhau dựa trên cơ sở dòng dõi và do đó họ là họ hàng thân thích của nhau
[ 14; 24 ].
Grorge peter Murdock lại nói Gia đình là một nhóm xã hội có đặc điểm
là c trú chung, hợp tác và tái sản xuất về kinh tế. Nó bao gồm ngời lớn thuộc hai
giới, ít nhất là 2 ngời trong số đó có quan hệ tình dục đã đợc tán thành về mặt xã
hội, và một hoặc nhiều con, là con đẻ hoặc con nuôi, của những ngời lớn chung
sống về mặt giới tính đó [ 1; 14].
Cũng bàn về khái niệm gia đình, từ điển triết học do Cung Kim Tuyến
biên soạn đã nêu Gia đình - đơn vị xã hội (nhóm xã hội nhỏ) hình thức tổ chức
quan trọng nhất của quan hệ cá nhân, dựa trên hôn nhân và các quan hệ huyết
thống, tức là quan hệ giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em và
những ngời thân thuộc khác cùng chung sống và có kinh tế chung [27; 387]
Còn theo Từ điển văn hóa gia đình thì: "Gia đình- thiết chế xã hội dựa
trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới thông qua hôn nhân thực hiện
12


chức năng sinh học, kinh tế, văn hóa xã hội. Khi gia đình đã có con, các thành
viên trong gia đình liên kết với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết
thống. Gia đình là một phạm trù lịch sử, thay đổi cùng với sự thay đổi của xã
hội, là nơi mỗi thành viên có thể bồi dỡng về vật chất, tinh thần, là chỗ dựa khi
cuộc sống ngoài xã hội gặp khó khăn. Sinh hoạt gia đình ảnh hởng trực tiếp đến
sức khỏe, thể chất và tâm lý của mỗi thành viên, đặc biệt ảnh hởng đến sự trởng
thành của trẻ em [6; 27].
Cuốn "Từ điển tiếng việt do Hoàng Phê chủ biên lại đa ra định nghĩa gia
đình là: "Tập hợp ngời cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội,
gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thờng gồm có vợ chồng,
cha mẹ và con cái" [24; 381].
Theo Gs. Lê Thi: Khái niệm gia đình dùng để chỉ một nhóm xã hội hình

Cùng với nó, quan hệ gia đình cũng có những biểu hiện khác nhau.

14


Morgan nói Gia đình là một yếu tố năng động, nó không bao giờ đứng
nguyên một chỗ mà chuyển từ hình thức thấp lên một hình thức cao, khi xã hội
phát triển từ một giai đoạn thấp lên một giai đoạn cao [5; 59]
Theo Ph.Ăngghen, giai đoạn đầu của xã hội cộng đồng nguyên thủy có gia
đình cùng dòng máu (huyết thống), các tập đoàn hôn nhân đều phân theo thế hệ.
Giai đoạn giữa của xã hội cộng đồng nguyên thủy xuất hiện gia đình
punaluna(bản thân ), trong đó quan hệ tính giao giữa anh em trai với chị em gái
đã bị hủy bỏ.
Khi xã hội nguyên thủy bớc sang giai đoạn cuối thì hình thành gia đình
cặp đôi (đối ngẫu), trong đó kết hôn từng cặp đã tồn tại (tuy còn lỏng lẻo )
trong số vợ rất đông của mình, ngời đàn ông có một vợ chính, và trong số nhiều
ngời chồng khác, anh ta là ngời chồng chính của ngời đàn bà ấy[5;81].
Bớc sang chế độ nô lệ, trong xã hội nảy sinh hình thức gia đình cá thể
một vợ, một chồng. Đó là kết quả trực tiếp của việc hình thành chế độ sở hữu t
nhân và sự phân hóa giai cấp. Ph.Ăng ghen nhận xét : Chế độ một vợ một
chồng là hình thức gia đình đầu tiên không dựa trên những điều kiện tự nhiên,
mà dựa trên những điều kiện kinh tế tức là trên thắng lợi của sở hữu t nhân
đối với sở hữu công cộng nguyên thủy và tự phát. Sự thống trị của ngời chồng
trong gia đình, sự sinh đẻ ra những đứa con chỉ có thể là con của ngời chồng và
phải đợc quyền thừa hởng tài sản của ngời ấy - đấy là những mục đích đặc biệt
của gia đình một vợ, một chồng" [5; 115].
Trong xã hội t bản, lần đầu tiên, giai cấp t sản đã quy định bằng pháp luật
hôn nhân một vợ, một chồng. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, cũng thực hiện chế
độ hôn nhân một vợ một chồng. Nhng, để khắc phục những hạn chế, thiếu sót
của các chế độ trớc, CNXH đã sáng tạo ra các kiểu gia đình phù hợp: gia đình

- Gia đình là tế bào của xã hội. Điều này trớc hết chỉ ra rằng, gia đình và
xã hội có quan hệ mật thiết với nhau. Quan hệ đó giống nh sự tơng tác hữu cơ
của quá trình trao đổi chất, duy trì sự sống giữa tế bào và một cơ thể sinh vật. Xã
hội ( cơ thể ) lành mạnh tạo điều kiện cho các gia đình tiến bộ, gia đình (tế bào)
hạnh phúc góp phần cho sự phát triển hài hòa của xã hội.
- Gia đình là cầu nối giữa mọi thành viên trong gia đình và xã hội.
Nhiều thông tin về xã hội tác động đến con ngời thông qua gia đình. Xã hội
(Nhà nớc, cơ quan, bạn bè ) nhận thức đầy đủ và hoàn thiện hơn về một ngời
khi nhận rõ hoàn cảnh gia đình của ngời ấy. Nhiều nội dung quản lí xã hội không
chỉ thông qua hoạt động của các thiết chế xã hội, mà còn thông qua hoạt động
của gia đình để tác động đến con ngời.
- Gia đình là tổ ấm thân yêu đem lại hạnh phúc cho mỗi con ngời.
Trong gia đình, cá nhân đợc đùm bọc về mặt vật chất và giáo dục về tâm hồn; trẻ
thơ có điều kiện đợc an toàn và khôn lớn, ngời già có nơi nơng tựa, ngời lao động
đợc phục hồi sức khỏe và thoải mái tinh thần ở đó hàng ngày diễn ra các quan
hệ thiêng liêng, sâu đậm giữa vợ- chồng, cha con, anh- em. Những ngời đồng
tâm, đồng cảm nâng đỡ nhau suốt cả cuộc đời.
1.1.3.2. Chức năng của gia đình
Sự đóng góp của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội đợc thể
hiện thông qua chức năng của nó. Trong thực tế, vị trí và vai trò to lớn của gia
đình với tính cách là tế bào của xã hội đợc thể hiện ở các chức năng cơ bản sau:
Thứ nhất: Chức năng tái sản xuất ra con ngời
16


Đây là chức năng đặc thù của gia đình. Chức năng này đáp ứng nhu cầu
tình cảm riêng, rất tự nhiên của cá nhân là sinh con đẻ cái, đồng thời mang ý
nghĩa chung lớn lao là cung cấp những lớp ngời mới, đảm bảo sự phát triển liên
tục và trờng tồn của xã hội loài ngời.
Thứ hai: Chức năng kinh tế

quan và tích cực.
Nh vậy, gia đình là thiết chế đa chức năng. Trên đây là những chức năng
cơ bản nhất. Thông qua việc thực hiện những chức năng này mà gia đình tồn tại
và phát triển, đồng thời tác động đến tiến bộ chung của xã hội. Các chức năng
đều đợc thể hiện trong sự thúc đẩy, hộ trợ lẫn nhau. Việc phân chia những nội
dung của chúng chỉ là tơng đối. Nhiều khi, các chức năng đều đợc thể hiện tổng
hợp trong một công việc hoặc nhiều hoạt động của gia đình. ở từng nơi và các
giai đoạn trong lịch sử khác nhau, nội dung và vị trí của mỗi chức năng có sự
biến đổi phù hợp.
1.2. Gia đình văn hóa mới

1.2.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là sản phẩm do con ngời sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã
hội loài ngời. Trải qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử, quan niệm về văn
hóa ngày càng đợc nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn.
Vào thế kỷ XIX, thuật ngữ văn hóa đợc những nhà nhân loại học Phơng
Tây sử dụng nh một danh từ chính. Những học giả này cho rằng, văn hóa (văn
minh) thế giới có thể phân loại ra trình độ thấp nhất đến trình độ cao nhất và văn
hóa của họ chiếm vị trí cao nhất.
ở thế kỷ XX, A.L. kroibơ(A.L. kroiber) và C.L. Klúchôn (C.L.Kluckhohn)
quan niệm văn hóa là loại hành vi rõ ràng và ám thị đã đợc đúc kết và truyền lại
bằng biểu tợng và nó là thành quả độc đáo của nhân loại, khác với các loại hình
khác trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con ngời làm ra.
18


Theo một số học giả Mỹ, văn hóa là tấm gơng nhiều mặt phản chiếu vào
đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc [33; 21]. Theo quan niệm này,
văn hóa đợc thể hiện ngay trong đời sống hàng ngày của con ngời, thể hiện trong
lối sống, truyền thống cộng đồng dân tộc, thể hiện nét riêng của mỗi dân tộc.

định tính cách của một xã hội hay một nhóm ngời trong xã hội. Văn hóa bao
gồm nghệ thuật và văn chơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngời,
hệ thống những giá trị, những tập tục và những tín ngỡng [33; 25].
19


Nh vậy, văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt. Văn hóa là tổng thể
nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngời sáng tạo ra. Văn hóa là
chìa khóa của sự phát triển.
1.2.2. Gia đình văn hóa và gia đình văn hóa mới
Thực chất xây dựng gia đình văn hóa là nhằm góp phần xây dựng nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, hớng tới hình thành con ngời
mới Việt Nam với những đặc tính cao đẹp nh nghị quyết hội nghị lần thứ 5 ban
chấp hành trung ơng khóa VIII đã nêu. Bởi thế, gia đình mới ở Việt Nam chính
là Gia đình văn hóa hay Gia đình văn hóa mới. Gia đình văn hóa Việt Nam
trên cơ sở giữ gìn và phát huy phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, xóa bỏ
những lạc hậu, những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến,
chống ảnh hởng xấu của gia đình hôn nhân t sản, đồng thời tiếp thu những tiến
bộ của văn hóa nhân loại.
Vậy gia đình văn hóa mới là gì? Đã có rất nhiều ý kiến khác nhau xung
quanh khái niệm gia đình văn hóa mới. Theo tác giả Lê Thị Hạnh: Gia đình văn
hóa mới là gia đình biết từ bỏ lối sống cổ hủ lạc hậu, cảnh giác với lối sống mới
phức tạp, là gia đình biết kế thừa, phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp,
gạt đi những quan niệm văn hóa lỗi thời, đồng thời biết tiếp thu những giá trị tiên
tiến, hiện đại phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc [13; 26].
Gia đình văn hóa mới là gia đình mới với nhiều nét tiến bộ, hiện đại nhng
cốt lõi vẫn gồm 4 nội dung, yêu cầu mà theo quy định số 01 năm 2002 /QĐBVHTT đã quy định, gia đình văn hóa là gia đình đạt đợc 4 tiêu chuẩn nội dung
sau:
1. Gia đình ấm no, hòa thuận, tiến bộ, khỏe mạnh và hạnh phúc.
a. Gia đình có kinh tế ổn định, hòa thuận, có kỷ cơng, nề nếp, không có

đông đảo nhân dân, mang nặng tính chất phụ quyền, gia trởng tồn tại trên cơ sở
kinh tế nông nghiệp lạc hậu, trong cơ chế chính trị xã hội phong kiến chuyên
chế, tổ chức làng xã chặt chẽ tuy nhiên, gia đình truyền thống cũng có những
nội dung đáng trân trọng, giữ gìn nh: tình cảm gia đình, vị trí gia đình đợc coi
trọng; bên trong thì đoàn tụ, cố kết; bên ngoài thì tình làng, nghĩa xóm vì thế
xây dựng gia đình mới là phải phát huy, kế thừa giá gia đình truyền thống.
Gia đình văn hóa mới phải là gia đình văn hóa có những nét mớí phù hợp
với những tình hình mới của đất nớc, phù hợp với xu thế hiện đại. Gia đình văn
hóa mới, phải là gia đình sống có văn hóa, biết phát huy vai trò tích cực của mỗi
cá nhân trong xã hội, giữ gìn đợc những truyền thống nhân ái, đạo đức, xây dựng
với mối quan hệ tốt đẹp giữa ngời với ngời, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã
hội. Những tính chất và đặc trng của gia đình văn hóa mới thể hiện rõ nếp sống
của từng cá nhân trong đời sống gia đình và ngoài xã hội.
Nếu nh trong gia đình cũ, vẫn tồn tại chế độ gia trởng, độc đoán, xem nhẹ
vai trò của ngời phụ nữ thì trong sự nghiệp CNH- HĐH đất nớc gia đình Việt
Nam lại phải đối mặt với những vấn đề mang tính cấp bách đối với xã hội. Vì
vậy, đa ra một định nghĩa cho khái niệm gia đình văn hóa mới không hề đơn
giản. Qua những tài liệu nghiên cứu, tham khảo, chúng tôi cho rằng: Gia đình
văn hóa mới là gia đình biết giữ gìn những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. ở
đó, xây dựng đợc mối quan hệ tốt đẹp giữa ngời với ngời, góp phần thúc đẩy sự
phát triển của xã hội. Gia đình văn hóa mới phải thực hiện tốt đờng lối của
Đảng, pháp luật của Nhà nớc, các quy định của khối phố, thực hiện tốt quy chế
21


dân chủ, hơng ớc làng xã Những tính chất và đặc trng của gia đình văn hóa
mới thể hiện nếp sống của từng cá nhân trong đời sống gia đình và ngoài xã hội.
Nh vậy, vấn đề xây dựng gia đình văn hóa mới có ý nghĩa hết sức lớn lao
đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, của đất nớc. Vì vậy, việc xây dựng gia
đình văn hóa mới hiện nay là nhu cầu bức xúc của quốc gia, dân tộc và của tất cả

là yêu cầu, vừa là điều kiện cực kỳ quan trọng để xây dựng con ngời mới XHCN
nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp CNH- HĐH.
Phát triển nguồn nhân lực phải đợc hiểu một cách đầy đủ là sự kết hợp đào
tạo tài năng với giáo dục nhân cách con ngời Việt Nam. Muốn làm đợc điều đó,
cần phải chú trọng đến gia đình, và vấn đề xây dựng gia đình văn hóa mới, vì gia
đình văn hóa đó chính là môi trờng cơ bản và thuận lợi nhất cho giáo dục- đào
tạo các thế hệ tơng lai. Chủ tich Hồ Chí Minh đã từng nói: Gia đình tốt thì xã hội
tốt, xã hội tốt thì gia đình tốt. Xây dựng gia đình văn hóa sẽ hình thành ý thức
công dân, bởi gia đình là đơn vị trung gian giữa cá nhân và xã hội, sẽ làm cho
mọi cá nhân có ý thức trách nhiệm đối với xã hội. Mặt khác, gia đình tốt thì sẽ
góp phần làm phát triển lành mạnh xã hội, làm cho xã hội ngày càng vững mạnh
và tiến bộ hơn. Ngợc lại, những gia đình không có văn hóa, chịu ảnh hởng của
23


những t tởng thiếu lành mạnh, nhất là từ các nớc t bản chủ nghĩa là nguy cơ làm
mai một, xói mòn những giá trị đạo đức truyền thống của gia đình, của dân tộc.
Trong qúa trình tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nớc, Đảng ta đặc biệt chú
trọng đến vấn đề xây dựng gia đình văn hóa. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
VII nhấn mạnh: Xây dựng gia đình văn hóa mới có ý nghĩa rất quan trọng trong
tình hình hiện nay, góp phần phát triển lực lợng sản xuất, ổn định và cải thiện
đời sống, thực hiện kế hoạch hóa dân số, giữ gìn và phát huy những truyền thống
đạo đức, văn hóa tốt đẹp của dân tộc, nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối
với mọi lớp ngời. Kết hợp và phát huy vai trò của xã hội, các đoàn thể, nhà trờng, tập thể lao động và tập thể dân c trong việc chăm lo, bồi dỡng tình đông
chí, đồng đội, hình thành nhân cách cao đẹp và nếp sống có văn hóa[8; 83].
Đại hội Đảng lần thứ IX cũng nêu rõ: Nêu cao trách nhiệm của gia đình
trong việc xây dựng và bồi dỡng các thành viên của mình có lối sống văn hóa,
làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi ngời và là tế bào lành mạnh của xã
hội [10; 116].
Nh vậy, việc tiếp tục xây dựng gia đình văn hóa mới là rất quan trọng, và

20% diện tích đất gieo trồng. Ruộng đất phần lớn nằm xen kẽ nên vừa hẹp lại
vừa dốc, hình thành các bậc thang dễ bị xói mòn và khô hạn.
Hơng Sơn có tọa độ :
Từ 1050 6 đến 100033 kinh độ đông
Từ 18015 đến 18035 vĩ độ bắc
Huyện Hơng Sơn có 32 xã và 2 thị trấn: (Thị Trấn Phố Châu và Thị Trấn
Tây Sơn) với tổng dân số tính đến năm 2004 là 125.589 ngời. Trong đó, có
62.003 ngời trong độ tuổi lao động.Toàn huyện có 31.139 số hộ gia đình. Mật độ
dân số 113,97 ngời/km2. Cả huyện có tới 6.677 phụ nữ, chiếm 51% dân số toàn
huyện.
Là một huyện miền núi với điều kiện kinh tế- xã hội vốn rất khó khăn,
mức sống nhân dân rất thấp, lơng thực bình quân 290,23 kg/ ngời/ năm. Hơng
Sơn có nguồn nhân lực dồi dào, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nhng
vẫn là nền nông nghiệp độc canh với 85% dân số làm nông nghiệp, còn lại
25


Trích đoạn Những thành tựu đạt đợc trong công tác xây dựng gia đình văn hoá ở huyện Hơng Sơn (Hà Tĩnh) Những tồn tại, hạn chế trong công tác xây dựng gia đình văn hóa ở huyện Hơng Sơn (Hà Tĩnh) Nguyên nhân của những hạn chế Giải pháp về tiêu chuẩn và nội dung Giải pháp về thực tiễn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status