Giá trị đạo đức truyền thống của gia đình việt nam và sự kế thừa nó trong xây dựng gia đình văn hóa mới hiện nay (qua khảo sát ở hưng yên) - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ



BÙI THỊ DUYÊN

GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG
CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM VÀ SỰ KẾ THỪA NÓ
TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA MỚI HIỆN NAY
(QUA KHẢO SÁT Ở HƯNG YÊN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2009

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-
BÙI THỊ DUYÊN

GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG
CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM VÀ SỰ KẾ THỪA NÓ
TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA MỚI HIỆN NAY
(QUA KHẢO SÁT Ở HƯNG YÊN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

3


MỤC LỤC
Mở đầu ................................................................................................................. 1
Chương 1. Giá trị đạo đức của gia đình Việt Nam ......................................... 6
1.1. Cơ sở hình thành giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam ........ 6
1.1.1. Những khái niệm cơ sở .............................................................................. 6
1.1.2. Những cơ sở hình thành nên giá trị đạo đức truyền thống của gia đình
Việt Nam .................................................................................................. 11
1.2. Hệ giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam ............................. 23
1.2.1. Giá trị đạo đức trong quan hệ vợ chồng ................................................... 23
1.2.2. Giá trị đạo đức trong quan hệ cha mẹ và con cái ..................................... 25
1.2.3. Giá trị đạo đức truyền thống trong quan hệ giữa anh chị em ruột ........... 28
1.2.4. Giá trị đạo đức truyền thống của gia đình trong quan hệ với dòng họ .... 30
1.2.5. Giá trị đạo đức truyền thống của gia đình trong quan hệ làng xã ............ 32
Chương 2. Những yêu cầu khách quan của việc kế thừa giá trị đạo đức
truyền thống của gia đình Việt Nam trong xây dựng gia đình văn
hoá ở Hưng Yên hiện nay ...................................................................... 35
2.1. Yêu cầu khách quan của việc kế thừa giá trị đạo đức truyền thống ...................... 35
2.1.1. Cơ sở khách quan phủ nhận những giá trị đạo đức truyền thống ....................... 35
2.1.2. Những biến đổi trong nội dung giáo dục đạo đức trong gia đình Việt
Nam .......................................................................................................... 38
2.1.3. Những yêu cầu ......................................................................................... 47
2.2. Gia đình văn hoá và việc kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống
trong việc xây dựng gia đình văn hoá ở Hưng Yên hiện nay .................. 50
2.2.1. Gia đình văn hoá và phong trào xây dựng gia đình văn hoá ................... 50

4


Gia đình ở nước ta hiện nay đang có những biến đổi mạnh mẽ và phức
tạp do tác động của kinh tế hàng hoá và cơ chế thị trường do những biến đổi
của xã hội đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đang chuyển từ mô hình phát
triển cũ sang mô hình phát triển mới cùng với sự tác động của thế giới hiện
nay. Mặc dù vậy, những nền tảng tinh thần, đạo lý của gia đình truyền thống
vẫn phát huy tác dụng và có ảnh hưởng tích cực trong đời sống gia đình Việt
Nam.
Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế thị trường cùng với những mặt trái
của nó đang tác động tiêu cực tới sự phát triển văn hoá và con người Việt
Nam. Một trong những biểu hiện rõ nét của xu hướng dẫn tới sự suy giảm
nhân cách con người Việt Nam hiện nay là đời sống gia đình, chất lượng gia
đình, đặc biệt là giá trị đạo đức và lối sống gia đình, ở nhà trường và xã hội.
Nếu không đặt vấn đề giáo dục truyền thống, giáo dục lối sống một cách đúng
mực, đúng với tầm quan trọng của nó đối với tồn tại xã hội thì sự suy thoái
đạo đức của con người từ trong gia đình, nhà trường, xã hội tiếp tục gia tăng.
Vì vậy, để đáp ứng được đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ hội nhập, Đảng ta
chủ trương: “Xây dựng và hoàn thiện giá trị nhân cách con người Việt Nam,
bảo vệ phát triển bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá”. “Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam,
thích ứng với những đòi hỏi của gia đình công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [5,
tr.104-106].
Như thế việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống của gia đình là việc
làm không thể thiếu trong việc xây dựng một chiến lược gia đình hiện nay.

6


Hưng Yên hiện nay đang trong quá trình đô thị hoá cả chiều rộng lẫn
chiều sâu với tốc độ ngày càng gia tăng. Sự chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp
truyền thống sang xã hội công nghiệp đô thị đã tác động đến toàn bộ đời sống

tích cực trong quan hệ gia đình với những hạn chế của nó.
+ Nguyễn Đình Hựu: Gia đình truyền thống với ảnh hưởng của nho
giáo, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội 1991; “Gia đình truyền thống và
chuyển đổi đã thích ứng với thời đại”, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1994.
+ Trần Thùy Anh: “Thế ứng xử trong xã hội cổ truyền”, NXB Đại học
quốc gia Hà Nội, 2000.
+ Nguyễn Minh Hoà: Hôn nhân và gia đình trong xã hội hiện nay, NXB
trẻ, 2000.
+ Nguyễn Linh Khiều: Gia đình và phụ nữ trong những biến đổi văn
hoá xã hội nông thôn, NXB. Khoa học Xã hội, 2001.
+ Nguyễn Trọng Chuẩn: Tìm hiểu giá trị văn hoá truyền thống trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, NXB. Chính trị quốc gia, 2001.
Ngoài ra còn có nhiều bài báo đăng trên các tạp chí đã đề cập tới vấn đề
Tất cả các công trình trên đã phác họa nên chân dung một mô hình gia
đình truyền thống Việt Nam khá thống nhất và chỉ ra một số giá trị đạo đức cơ
bản trong gia đình.
Tuy nhiên trong các công trình ấy chưa có công trình nào đề cập đến
việc kế thừa các giá trị ấy trong xây dựng gia đình văn hoá Việt Nam nói
chung và Hưng Yên nói riêng như là một tất yếu khách quan và cần thiết
trong nền kinh tế thị trường.
Luận văn này nhằm mục đích làm sáng tỏ vấn đề trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở, hệ giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam, luận
văn khẳng định sự cần thiết phải kế thừa những giá trị đạo đức tốt đẹp đó.

8


Đồng thời chỉ ra giải pháp kế thừa những giá trị ấy trong xây dựng gia đình

Nêu lên hệ các giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam và
khẳng định vai trò của đạo đức truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa
ở Hưng Yên.
Nêu ra những thách thức, yêu cầu trong giáo dục gia đình Hưng Yên
hiện nay và đề xuất một số giải pháp để kế thừa, phát huy những giá trị đạo
đức truyền thống trong nền kinh tế thị trường.
Luận văn bảo vệ thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho những ai quan
tâm và giảng dậy môn giáo dục gia đình ở Hưng Yên.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1. Giá trị đạo đức của gia đình Việt Nam.
Chương 2. Những yêu cầu khách quan của việc kế thừa giá trị đạo đức
truyền thống của gia đình Việt Nam trong xây dựng gia đình văn hoá ở Hưng
Yên hiện nay.
Chương 3. Gia đình Hưng Yên và giải pháp kế thừa giá trị đạo đức
truyền thống trong xây dựng gia đình văn hoá ở Hưng Yên.

10


Chương 1
GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM
1.1. Cơ sở hình thành giá trị đạo đức truyền thống của gia đình
Việt Nam
1.1.1. Những khái niệm cơ sở
Để nghiên cứu đề tài cần làm sáng tỏ một số khái niêm sau đây:
- Gia đình và gia đình truyền thống.
- Đạo đức, giá tri đạo đức truyền thống của gia đình.
1.1.1.1. Gia đình và gia đình truyền thống

ba đặc điểm nổi bật là: bắt nguồn từ hôn nhân bao gồm vợ chồng, con cái phát
sinh từ sự hôn phối của đôi nam nữ, tuy nhiên trong gia đình có mặt của
những người họ hàng, bà con hoặc con nuôi, họ gắn bó với nhau bởi các
nghĩa vụ và quyền lợi có tính chất kinh tế và về sự cấm đoán tình dục giữa các
thành viên.
Ở Việt Nam, từ xưa đến nay gia đình luôn luôn là một hình thức cộng
đồng xã hội đặc biệt, gia đình được coi là tế bào của xã hội. Căn cứ vào tình
hình chung của hôn nhân và gia đình nước ta thì: Khái niệm gia đình được sử
dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan
hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha mẹ, con cái, ông bà, họ
hàng nội ngoại) cùng chung sống. Đồng thời gia đình có thể gồm một số
người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ máu mủ. Các thành
viên gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm, quyền lợi (kinh tế, văn hoá,
tình cảm), giữa họ có những điều kiện rằng buộc có tính pháp lý, được nhà
nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong luật hôn nhân và gia đình nước
ta). Đồng thời trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép
và cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên [27, tr.16-17].

12


Như vậy, dù gia đình được định nghĩa ở khía cạnh nào thì trong đời
sống hàng ngày, khi nói đến gia đình thì điều chủ yếu là nói đến một nhóm
người cùng chung sống trong một mái nhà và giữa họ có mối quan hệ với
nhau bởi quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, đó là quan hệ giữa vợ và
chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em ruột với nhau và giữa ông bà
(nội, ngoại) với các cháu.
Nếu như khái niệm gia đình khó xác định trên diện rộng thì khái niệm
“gia đình truyền thống” cũng là một khái niệm khó xác định không kém.
Gia đình truyền thống là một khái niệm mà các nhà nghiên cứu dùng để

thỏa mãn các nhu cầu sống của các thành viên. Đó là gia đình phụ hệ, coi
trọng thờ cúng tổ tiên và chịu ảnh hưởng rất lớn của nho giáo, dù vậy trong
gia đình, người phụ nữ vẫn được tôn trọng, đây là sự chi phối của văn hóa bản
địa và tác động của Phật giáo, Đạo giáo và những tác động này đã làm mền
hóa các nguyên tắc cứng nhắc của nho giáo trong gia đình.
1.1.1.2. Đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam
Đạo đức là một hiện tượng xã hội phản ánh những quan hệ xã hội hiện
thực, hình thành từ trong cuộc sống nhằm điều chỉnh hành vi của con người
trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng
đồng xã hội sao cho phù hợp với yêu cầu của sự phát triển. Đạo đức là một
phạm trù thuộc về đời sống tinh thần. Trong triết học, đạo đức được coi là
một trong những hình thái ý thức xã hội.
Trong hiện thực, hành vi đạo đức của con người chỉ có thể diễn ra trong
các mối quan hệ cụ thể khi các chủ thể đạo đức ý thức một cách đầy đủ về
mối quan hệ ấy và tự nguyện hành động vì lợi ích và hạnh phúc chân chính
của con người vì yêu cầu của tiến bộ xã hội. G.Bandzeladze - một nhà đạo
đức học Xô viết trước đây cho rằng: “Đạo đức là một hệ thống những chuẩn
mực biểu hiện sự quan tâm tự nguyện, tự giác của những con người trong
quan hệ với nhau và trong quan hệ với xã hội nói chung. Bản chất của đạo

14


đức là sự quan tâm tự giác của những con người đến lợi ích của nhau, đến lợi
ích của xã hội”.
Hiện nay, khái niệm đạo đức thường được sử dụng là khái niệm của
nhà nghiên cứu đạo đức học Trần Hậu Kiêm: “Đạo đức là một hình thái ý
thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm,
những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Nhờ đó con người tự giác điều
chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và

Các quan hệ đạo đức của gia đình truyền thống là một bộ phận của
truyền thống Việt Nam. Các giá trị ấy không phải tự nhiên mà có, nó là sản
phẩm của các điều kiện tự nhiên, xã hội và đặc điểm của gia đình truyền
thống.
1.1.2.1. Những điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tác động đến sự
hình thành truyền thống đạo đức của gia đình Việt Nam
Sự tác động của điều kiện tự nhiên và điệu kiện địa lý. Địa bàn cư trú
của tổ tiên người Việt là một vùng đất bồi lấp của phù sa, nằm giữa núi và
biển cả. Môi trường sông nước ảnh hưởng rất lớn đến truyền thống của
người Việt và dấu ấn của nó in đậm lên tư duy, thói quen của con người. Vì
lẽ đó các nhà nghiên cứu đã kết luận “người Việt có một truyền thống với
sông nước và quen với sông nước, thạo nghề sông nước, có tư duy của một
cư dân sông nước” [6, tr.17]. Chính yếu tố địa lý và điều kiện tự nhiên đã
tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển trồng lúa nước nhờ khí hậu nhiệt
đới gió mùa: Nóng, ấm, mưa nhiều. Trong quá khứ người Việt đã từng tạo
dựng nên một nền văn minh lúa nước nổi tiếng ở Đông Nam Á. Tuy nhiên,
thiên nhiên Việt Nam lại vô cùng khắc nghiệt với nhiều thiên tai như lũ lụt,
bão tố, hạn hán, sâu bệnh phá hoại mùa màng. Chính điều này đã rèn luyện
cho con người Việt Nam những phẩm chất đặc biệt để có thể tồn tại và phát
triển.
Một điểm đặc biệt nữa ảnh hưởng đến truyền thống Việt Nam là do vị
trí địa lý chiến lược Việt Nam trong qúa khứ cũng như hiện tại luôn là miếng
mồi hấp dẫn đối với những kẻ xâm lược nói chung cũng như đế chế. Trung

16


Hoa láng giềng hùng mạnh nói riêng. Theo dòng lịch sử từ đế chế Tần đến
Mãn Thanh không một triều đại Trung Hoa nào mà không có một vài lần xâm
lược nước ta. Có những thời kỳ đô hộ kéo dài mà điển hình là thời kỳ Bắc

nên những truyền thống quý báu của người Việt như lòng nhân ái vị tha và
bao dung độ lượng.
Có thể nói môi trường thiên nhiên, tập quán sản xuất cùng với ảnh
hưởng của văn hóa khu vực đó tạo lờn đạo đức truyền thống quý báu của gia
đình Việt Nam. Các giá trị đạo đức truyền thống ấy đó tạo nên con người Việt
Nam, dân tộc Việt Nam, bản sắc Việt Nam.
1.1.2.2. Đặc điểm của gia đình truyền thống
Đạo đức truyền thống của gia đình được hình thành và chịu sự quy định
trực tiếp từ những đặc điểm của gia đình truyền thống, đó là đặc điểm về kinh
tế xã hội, văn hoá gia đình và bản sắc văn hoá gia đình truyền thống.
Trước hết là đặc điểm kinh tế xã hội của gia đình.
Gia đình truyền thống là một đơn vị sản xuất nông nghiệp tự cung tự
cấp. Các hộ gia đình tự sản xuất những sản phẩm tiêu dùng cho gia đình
mình. Có thể nói, gia đình truyền thống là một hộ nông - công - thương kết
hợp trong đó nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo. Ngoài công việc cày cấy ra mỗi
gia đình làm thêm một số nghề thủ công như đan lát, trồng dâu, nuôi tằm, dệt
vải để tạo ra sản phẩm tiêu dùng cho cả gia đình.
Trong sản xuất nông nghiệp, điều kiện sản xuất lạc hậu, công cụ thô sơ,
với chế độ ruộng công phân chia theo định kỳ. Với đặc thù sản xuất lúa nước,
có sự phân công lao động cụ thể giữa đàn ông và đàn bà, thể hiện qua câu ca
dao sau:
“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy con trâu đi bừa”.
Công lao đóng góp của cả đàn ông và đàn bà là như nhau trong việc tạo
ra sản phẩm nuôi sống cả gia đình. Điều này dẫn đến một hệ quả kinh tế là
việc quản lý các sản phẩm ấy nằm trong tay người vợ. Người đàn ông trong

18





việc nối dõi tông đường. Tức là chỉ thực hiện được khi có con trai nên trong
nội bộ gia đình con trai được quý hơn con gái. Người cha, người con trai cả,
cháu đích tôn, giữ vị trí quan trọng hơn các thành viên khác, con gái sẽ về nhà
chồng nên coi là “ngoại tộc”, nếu như họ ngoại có giúp đỡ và quan hệ mật
thiết hơn thì kết quả vẫn là “ăn bên ngoại, vải bên nội”. Con dâu, đặc biệt là
dâu trưởng có vị trí cao, nhưng địa vị này chỉ được xác định khi đã sinh được
con trai nối dõi.
Phong tục thờ cúng tổ tiên có tác động rất lớn đến đời sống tinh thần
của mỗi cá nhân. Đồng thời nó là sợi dây nối kết các thành viên trong gia đình
qua các thế hệ khác nhau với ý nghĩa thâm thuý là nhớ ơn sinh thành của tổ
tiên, lưu truyền nòi giống và làm cho tổ tiên khỏi khổ, mong cho tổ tiên phù
hộ cho con cháu.
Thứ 3, chi phối trực tiếp đến đạo đức truyền thống của gia đình là văn hoá
gia đình. Văn hoá gia đình truyền thống được thể hiện qua các hình thức sau:
Gia giáo là giáo dục gia đình. Đây là hình thức giáo dục, của gia đình
đối với các thành viên. Nội dung chủ yếu là giáo dục đạo đức, phẩm hạnh của
con người trong quan hệ với gia đình, xã hội. Đối với nam giới, gia giáo đặc
biệt chú ý đến giáo dục đạo lý luân thường. Luân có ngũ luân, đó là năm mối
quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè và trong đó, nhấn mạnh
tam cương là vua tôi, cha con, chồng vợ. Thường nghĩa là ngũ thường, là năm
đức tính cơ bản của con người gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Đối với nữ giới,
thì gia giáo giáo dục đạo lý tam tòng, tứ đức. Tam tòng, đòi hỏi sự ngoan
ngoãn phục tùng từ lúc mới sinh ra cho tới lúc chết “tại gia tòng phụ, xuất giá
tòng phu, phu tử tòng tử”. Còn tứ đức là bốn phẩm chất cần có của phụ nữ,
công, dung, ngôn, hạnh.
Nhìn chung, gia giáo có nhiệm vụ giáo dục cá nhân ngay từ trong gia
đình để hình thành con người phù hợp với xã hội truyền thống trong đó đạo


niềm tự hào và lẽ sống của con người trong gia đình truyền thống. Một gia

21


phong thanh bạch đáng tự hào hơn gia phong kiểu phú trọc giàu có nhưng vô
học, vô gia giáo, vô lễ.
Thứ 4, gia đình truyền thống Việt Nam rất coi trọng tình nghĩa.
Trọng tình nghĩa được thể hiện ở cách ứng xử đặt tình cảm lên trên
trong ứng xử ở gia đình cũng như ngoài xã hội. Đối với người Việt, gia đình
không phải là nơi của công bằng và sòng phẳng. Cha có thể ghét con, đối xử
không công bằng với con nhưng con không vì thế mà không yêu kính cha mẹ,
đạo làm con là phải tôn thờ cha mẹ, không dùng lẽ phải để phán xét các bậc
sinh thành, dưỡng dục mình. Trong quan hệ anh chị em phải thương yêu đùm
bọc lẫn nhau và không chỉ có sự tính toán thiệt hơn mà còn có sự vừa phải, sự
tương ứng. Đó là sự hết lòng, sự tận tâm tận lực. Trong tình cảm gia đình, sự
yêu thương, bao bọc không bao giờ được coi là đủ. Nội bộ gia đình nếu có gì
sai trái, không vừa lòng thì “đóng cửa bảo nhau” không nói với người ngoài,
không bao giờ “vạch áo cho người xem lưng”. Tình nghĩa là đặc điểm bao
trùm lên gia đình người Việt.
Thứ năm, gia đình Việt Nam tôn trọng phụ nữ (người vợ, người mẹ).
Mặc dù gia đình Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn của nho giáo, nhưng
trong gia đình, người phụ nữ vẫn có một vị trí đáng kể. Người Việt vốn có
truyền thống tôn trọng phụ nữ từ trong nhà ra đến ngoài ngõ. Trong cuộc sống
đời thường (trong nhà đàn bà được coi là nội tướng), đến đời sống tâm linh
(quan niệm “phúc đức tại mẫu”) và tín ngưỡng tôn giáo thờ mẫu.
Tôn trọng phụ nữ không phải là quan niệm tự thân mà xuất phát từ đời
sống cộng đồng của người Việt, từ điều kiện sản xuất nông nghiệp trồng lúa
nước đòi hỏi sự phân công lao động giữa vợ và chồng đến vai trò “tề gia nội
trợ” của người phụ nữ và cả do hoàn cảnh thường xuyên xảy ra chiến tranh

phân chia ruộng công theo định kỳ, các nghĩa vụ cho làng nước, sự tương trợ
khi gặp khó khăn hoạn nạn).
Đối với người Việt, nói đến gia đình là nói ngay đến cộng đồng, và cái
cộng đồng ấy không chỉ bao gồm những người đang sống mà còn cả những

23


người đã chết và những người sẽ sinh ra. Chính vì lẽ đó, gia đình truyền thống
rất coi trọng thờ cúng tổ tiên và nối dõi tông đường.
Tính cộng đồng trong gia đình không chỉ là điều kiện để gia đình tồn tại
mà còn là phong cách sống của người Việt. Người Việt thích sống trong gia
đình và có gia đình, rất sợ sống xa gia đình, sợ sự chia ly. Sống xa nhà, xa quê
hương, bơ vơ đất khách quê người là một bất hạnh lớn. “Sẩy nhà ra thất
nghiệp” là quan niệm nẩy sinh từ tính cộng đồng đó.
Trên đây là một vài đặc điểm thể hiện bản sắc dân tộc đâm đà của gia
đình truyền thống. Bản sắc đó được hình thành từ thủa khai thiên lập địa và
được củng cố, ổn định, bền vững.
1.1.2.3. Sự phát triển gia đình Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Tìm hiểu, nghiên cứu vai trò, chức năng của gia đình Việt Nam trong
các giai đoạn lịch sử khác nhau là một hướng tiếp cận khoa học hết sức quan
trọng nhằm khai thác, kế thừa và phát huy những yếu tố truyền thống tích cực
của cha ông ta trước đây đối với việc rèn luyện, giáo dục thế hệ trẻ hiện nay.
Con người Việt Nam từ xưa đến nay có mối quan hệ chặt chẽ, lưu
thông giữa cá nhân - gia đình, làng, nước trong qúa trình phát triển của cá thể
và cộng đồng. Vì vậy, quan hệ tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, đã được
cha ông ta coi như là một nguyên tắc đối với sự phát triển và hoàn thiện nhân
cách. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước, vai trò và nội
dung giáo dục gia đình cũng có những đổi khác.
Giáo dục của gia đình Việt Nam truyền thống.

ghét tham lam, dối trá, dốc lòng bảo vệ xây dựng quê hương, xóm thôn, đất
nước.
Giáo dục gia đình và nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ
thuộc Pháp.
Từ khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam chúng tìm cách vơ vét tài
nguyên của nước ta bằng việc khai thác các hầm mỏ than, đồng sắt, thiếc, lập

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status