tiểu luận đai học sư phạm Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh qua vẻ đẹp của tranh dân gian Đông Hồ - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong thời đại xã hội phát triển như ngày nay với nền văn minh
công nghiệp có rất nhiều trào lưu nghệ thuật mới xuất hiện, sự nhìn nhận
về hội họa vẫn luôn phát triển, người ta không thể quên được cái đẹp
phóng khoáng và khỏe mạnh, tươi vui, tinh giản mà đậm đà của tranh dân
gian Đông Hồ. Tranh dân gian là một trong những nét đặc trưng độc đáo
của dân tộc Việt Nam, mang đậm dấu ấn về cuộc sống, về ước mơ bình dị
của con người với những chủ đề, tư tưởng riêng biệt và giá trị nghệ thuật
thỏa mãn nhu cầu tinh thần và thẩm mỹ trong đời sống của nhân dân.
Ngay từ các em học sinh tiểu học đã được tô vẽ theo tranh dân gian,
đó là những bức “Lợn dáy”… và trong chương trình mỹ thuật cấp 2 học
sinh bắt đầu học thường thức tranh là tranh dân gian bởi nó có vẻ giản dị
nhìn vào rất dễ hiểu và không những học sinh ở lứa tuổi thiếu niên nhi
đồng thấy đó như một tiếng nói chung về cội nguồn, một sự gần gũi dễ tiếp
cận mà cũng có nhiều họa sĩ đang cùng các nghệ nhân nghiên cứu, chuyên
sâu và tạo ra nhiều tác phẩm tranh khắc đẹp để góp phần tạo nên giá trị cho
loại hình nghệ thuật dân tộc này. Từ trước đến nay đã có nhiều quan niệm
về tranh dân gian Đông Hồ, có quan niệm cho rằng tranh dân gian là một
loại tranh vẽ hồn nhiên theo bản năng vì các nghệ nhân không được đào
tạo ở một trường lớp nào chính quy nào và những người chuyên nghiệp có
xu hướng hiện đại của Tây Âu cho lại rằng đó là phong cách độc đáo của
dân tộc…
Dòng tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh) đã cùng với tranh dân
gian Hàng Trống là hai dòng tranh lớn mang những nét đẹp hài hòa và tạo
nên diện mạo lớn của mỹ thuật dân gian Việt Nam, tranh dân gian sẽ là con
đường thuận lợi để giáo dục thị hiếu thẩm mỹ nói chung cho học sinh. Bởi
1
giáo dục nghệ thuật đang là vấn đề ngày càng được quan tâm chú ý trong
việc phát triển toàn diện nhân cách con người mới. Thông qua việc đi vào
nghiên cứu tìm hiểu những vấn đề gần gũi là cái đẹp của tranh dân gian sẽ

Và đã có rất nhiều sách nghiên cứu về nguồn gốc, tính chất và ý
nghĩa của tranh dân gian nhưng hầu như không thấy đề cập tới vấn đề đưa
tranh dân gian vào giáo dục như thế nào?
Chính vì những lý do trên mà em đã mạnh dạn chọn và nghiên cứu
đề tài với nội dung “Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh qua vẻ đẹp
của tranh dân gian Đông Hồ” làm đề tài cho tiểu luận tốt nghiệp của
mình. Đề tài nhỏ và chưa thể đi sâu hết các vấn đề của tranh dân gian
nhưng em mong muốn góp một vài suy nghĩ của mình mang tính gợi mở
đối với việc nâng cao giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1. Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu nhằm làm nổi bật vẻ đẹp và vai trò của tranh dân gian, nhấn
mạnh trong việc giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh ở lứa tuổi thiếu niên
nhi đồng, từ đó có phương pháp để áp dụng tốt vào việc học mỹ thuật.
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Giúp các bạn học sinh nhận thức được tầm quan trọng của tranh dân
gian, từ đó sẽ tìm thấy sự gần gũi và tiếp cận với mong muốn được tìm
hiểu, lưu giữ và sáng tạo nghệ thuật.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng ở đây chính là học sinh và tranh dân gian Đông Hồ trong đó
có các yếu tố làm nên giá trị của tác phẩm: Cảm xúc thẩm mỹ, nhận thức,
giáo dục. Tuy nhiên trong bài tiểu luận của mình em không nghiên cứu sâu
3
vào dòng tranh mà đối tượng nghiên cứu ở đây chủ yếu là về vẻ đẹp và nhấn
mạnh vai trò của nó trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Trong khuôn khổ của bài tiểu luận do thời gian và kiến thức có hạn
em chỉ xin được đề cập đến tính thẩm mỹ và vai trò của tranh dân gian dân
gian Đông Hồ đối với vấn đề học tập và giảng dạy mỹ thuật ở các trường

Thành Tỉnh Bắc Ninh.
Đông Hồ có vị trí địa lý lịch sử nổi tiếng vùng Kinh Bắc, phía Bắc
của Đông Hồ là con sông Đuống tiếp giáp với đền thờ Kinh Dương
Vương, cách đó 1km là chùa bút Tháp, phía Nam có thành Luy Lâu (1
trong 3 trung tâm văn hoá phật giáo lớn ở phương Đông trong thời đế chữ
Hán, là trung tâm kinh tế chính trị quân sự và thương mại của quận Giao
Chí và Châu Long. Phía Nam là đồng ruộng, nhìn thẳng là làng Sĩ Nhiếp,
phía Đông có miếu Thiên Than…Theo địa giới hành chính hiện nay Đông
Hồ có 748 nhân khẩu, 183 hộ, có 224.000mv đất canh tác chưa được 1 sào
cho 1 đầu người. Chính vì vậy nghề phụ lại trở thành nguồn thu nhập chính
của người dân. Hiện nay các tỉnh khác như Hà Nội, Yên Bái, Lào Cai…
vẫn về đây nhập hàng. Đông Hồ còn xuất khấu những mặt hàng như thảm,
đồ chơi trung thu và hoa tết…
Làng Đông Hồ nằm ngay Sông Đuống bên cạnh đường giao thông
nối từ hai vùng đất lở phù trú của Châu thổ sông Hồng là xứ Bắc (Hà Bắc)
với xứ Đông (Hải Dương).
5
Đọc “Bên kia sông Đuống” của nhà thơ Hoàng Cầm trong SGK lớp
12 ta thấy sông Đuống gắn bó với đời sống của người dân, với những vẻ
đẹp của tranh dân gian Đông Hồ, cho dù chưa được về làng Đông Hồ
nhưng học sinh đã có thể cảm nhận và tưởng tưởng được về ngôi làng phù
trú đó.
II. Nội dung, hình thức trong tranh dân gian Đông Hồ:
1. Tục chơi tranh ngày tết của nhân dân Việt Nam với những nội
dung phong phú
Quan điểm nghệ thuật của tranh dân gian là cái đẹp phải xuất phát từ
nội dung tình cảm chân thật và ý thức giai cấp của tác giả. Em thấy rằng
muốn hiểu hết cái đẹp, cái quý của tranh dân gian chúng ta phải hòa vào
với tâm hồn, tình cảm của nhân dân, phải hiểu được hoàn cảnh lịch sử , xã
hội cùng với những ước mơ, nguyện vọng vì cuộc sống của người dân thửa

sống và lao động, thấy lạc quan yêu đời hơn. Ngoài việc thể hiện những ước
mơ đẹp đẽ, ca ngợi cái đẹp của sản xuất, cổ vũ tinh thần thượng võ (tranh võ
trường, tranh voi, tranh chiến đấu…) tranh dân gian Đông Hồ còn là một
công cụ chiến đấu của nhân dân lao động đánh vào mặt giai cấp thống trị
(Đám cưới chuột, Thầy đồ cóc, Hội tây nhảy đâm ) hay là ngòi bút phê
phán những thói hư tật xấu (đánh ghen, trai tứ khoái, gái bảy nghề…)
Tranh tết in nét vẽ tay với những bức khổ to xếp theo bộ như tứ
bình: Tố nữ, tứ quý: xuân - hạ - thu - đông, cá chép trông trăng, thiên hạ
thái bình…tranh đại tự phúc lộc thọ, những bức câu đối, liễn …
Tranh tết xuất hiện trong không khí vui tươi rộn rã của mỗi gia đình
như một yếu tố tạo niềm vui, nó được dán thẳng lên vách đất tường vôi,
không khung, không kính, nó ăn nhập ngay với thế giới xung quanh, cân
bằng với những tường và cửa không gờ soi, không chạm khắc, với những
xà và cột không nặng nề không tỉa tót, với những giường phản đơn sơ, mộc
7
mạc với những đồ lễ trên bàn thờ long trọng mà không choáng lộn, với
những trang phục của con người lành sạch, trang nhã mà không diêm dúa,
và chồng bánh chưng, mâm cỗ đạm bạc… Đó là một tổng thể tươi tắn, vui
nồng mà không lòe loẹt, ồn ã.
2. Hình thức độc đáo về chất liệu, bố cục - hình mảng, đường nét,
màu sắc
Theo các nghệ nhân và người dân xưa, những người làm nên những
tranh Đông Hồ đều khẳng định bức tranh đẹp là: Đường nét phải khéo gọn,
tả đúng chất, đi dứt khoát. Là màu sắc phải tươi đậm và trong, màu nào rõ
màu ấy. Là hình phải khái quát đúng đặc trưng của từng loại đối tượng. là
khi vẽ người ta ăn nhau ở cái dáng và cái thần (người sao tính vậy) “nhân
hình tại mạo, trắng gạo ngon cơm”.
Bằng nghệ thuật đường nét các nghệ nhân đã xây dựng những hình
tượng điển hình, tinh giản, phối hợp với các đường cong và thẳng tạo nên
hình tượng trong tranh, là cái chủ đạo góp phần thành công cho bức tranh,

tranh, những con người đó thực sự am hiểu, nắm bắt được về tình cảm và
cuộc sống của con người xã hội nông nghiệp nên họ hiểu, họ đã tái tạo lại,
vẽ ra bằng lối tạo hình gạn lọc, không hề sao chép thực tế, họ không chỉ
nắm chắc ngoại hình mà còn hiểu sâu sắc cả về phần nội tâm nữa, do đó
tranh đã được miêu tả bằng lối tạo hình, gạn lọc và sắp xếp cho thuận mắt
để rồi đưa tranh lên ở trạng thái nghệ thuật.
Trong quá trình xây dựng nhân vật, nghệ nhân không bị ràng buộc
bởi cái vụn vặt của hình mẫu, những cái họ thường gặp đã dần đọng lại
trong đầu một hình tượng không cá thể nhưng thật tiêu biểu. Nghệ nhân
cũng không bị lệ thuộc bởi những định luật phép tắc, trường quy nào cả, họ
được tự do sáng tác theo sự suy nghĩ và sự thôi thúc của tình cảm.
9
Tranh dân gian Đông Hồ được khái quát cao ở những hình tượng trong
tranh, chúng vừa hư vừa thực khiến người xem thấy thuận mắt, nghĩ thuận
tình, và thấy được thỏa mãn tâm lý bởi bức tranh bao giờ cũng có hậu.
Với những đề tài phong phú muôn hình muôn vẻ mà tranh khắc gỗ
dân gian phản ánh đã phần nào tái tạo lại cuộc sống linh hoạt của ông cha
ta thuở trước. Để gợi lại những sự kiện lịch sử oai hùng của đất nước,
những chiến công oanh liệt chống ngoại xâm, xây nền độc lập tự chủ của
các anh hùng dân tộc thuở trước, các nghệ nhân đã khắc họa những hình
ảnh như: Đinh Tiên Hoàng cờ lau tập trận, Bà Trưng, Bà Triệu thúc quân
diệt giặc, Trần Hưng Đạo chiến thắng quân Nguyên Mông…
Khi tiếp xúc với thể loại tranh lịch sử đó các em học sinh như được
thấy về lịch sử, đất nước, con người Việt Nam một cách rõ nét hơn. Mặc
dù các em đã từng được đọc, được học qua những bài giảng, những trang
sách nhưng khi nhìn thấy hình ảnh được phản ánh qua tranh dân gian miêu
tả với khí phách hiên ngang dũng mãnh trước quân thù của các vị anh hùng
đã để lại trong các em những ấn tượng tốt đẹp, niềm tự hào dân tộc, từ đó
hình thành ý thức trách nhiệm của bản thân mình với quê hương đất nước.
Xem tranh “Gà đàn” , “Lợn đàn” của Đông Hồ chúng ta thấy đều nói lên

trong sương máu tâm hồn nghệ nhân, rồi từ đó tờ tranh quay trở lại có tác
dụng xây dựng tâm hồn nghệ nhân, rồi từ đó tranh quay trở lại có tác dụng
xây dựng tâm hồn cho người xem qua nhiều thế hệ nối tiếp đối với các em
học sinh ở lứa tuổi thiếu niên nhi đồng, nó làm nảy sinh đánh thức tính
nhân đạo, tình yêu thương kính trọng cha mẹ, anh em, bạn bè, và đồng loại
cũng từ đó hình thành ý thức, nhân cách học sinh trong thời đại mới.
Với nội dung phong phú của tranh dân gian đã tác động tới cảm xúc
thẩm mỹ trong các em, các em biết trân trọng các đẹp, yêu thiên nhiên cây
cỏ hoa lá, những con vật bé nhỏ mà gần gũi với cuộc sống thường ngày
11
của các em, cũng từ đó biết giữ gìn và có ý thức làm cho môi trường xung
quanh sạch và đẹp hơn.
2. Tương đồng giữa đường nét trong tranh dân gian với nét vẽ
của các em học sinh lứa tuổi thiếu niên nhi đồng:
a. Đường nét trong tranh dân gian:
Mặc dù giữa nét vẽ của tranh dân gian và nét vẽ trong tranh của các
em thiếu nhi có tiếng nói và những đặc trưng riêng song về một khía cạnh
nào đó có những đặc điểm chung.
Cái chung ở đây là nét tạo nên hình tượng nhân vật ngộ nghĩnh, hồn
nhiên vô tư và trong sáng, các nhân vật ở trong tranh luôn ở thế động,
không bị gò ép tạo cho tranh luôn có nhịp điệu và mang đầy tính trang trí.
Đường nét trong tranh Đông Hồ thường không tạo ra nhiều hình to,
nền thoáng mang tính chất phóng khoáng, mộc mạc của những người nông
dân thuần hậu. Các đường nét ấy lại thường to mập, sung sức, chắc khỏe,
dứt khoát hiền lành như bản chất của những người nông dân ưa “ăn chắc
mặc bền”. Không có tính chất vuốt ve, khêu gợi như của các phái tân hoa
như Tây Âu, thướt tha như nét khắc gỗ Nhật Bản hoặc bút pháp như rồng
bay phượng múa của quốc họa Trung Quốc cổ điển, khi xem tranh gà
“Đại cát” đang chân co chân duỗi, đem lại những điềm tốt lành may mắn.
những nét của tranh gà “Thư Hùng” biểu hiện sự dồi dào sung túc có tư

sợ sệt trước con mèo già hiểm ác. Tranh “Gà đàn” có những đường cong
thoải mái đã nêu được niềm vui xum họp, sự nhí nhảnh của lũ gà con, và
thấy được cả chất xốp của lông gà mẹ. Tranh “Hứng dừa” với hai câu thơ
đậm tính hài hước, một tình yêu tràn trề sức sống:
“Khen ai khéo dựng nên dừa
Đấy trèo đây hứng cho vừa lòng nhau”
13
Đường cong của cả người trèo cây và người hứng dừa đều mơn
mởn, nhởn nhơ đầy chất trữ tình toát ra sự mềm mại của da thịt, cái lạc
quan của tâm hồn con người. Tranh Đông Hồ với những đường cong gẫy
khúc tạo nên những đám mây lớp trong lớp ngoài nặng nề như có cảm giác
thần bí thiêng liêng. Những đường thẳng của tường hoa và cột bình phong
đã tạo cảm giác bề thế trong một gia đình của “Đánh ghen”.
Đường thẳng tương đối là ít nhưng lại quan trọng để phù trợ cho
đường cong trong thế cân bằng có chừng mực, những đường cong thẳng
của cán cờ, của thanh kiếm và giá kiếm tuy ít nhưng đã tạo sự chắc chắn,
vững vàng và sức mạnh. Tranh “thầy đồ cóc” có những đường thẳng tập
trung ở án thư, và cạnh sập đặt theo thế cắt chéo nhau tạo cảm giác về gỗ
chắc chắn và làm nền cho vẻ bệ vệ của thầy đồ cóc.
Tranh “Hứng dừa, Em bé, Gà, Lợn,…” rất hiếm đường thẳng mà
chủ yếu là dùng đường cong, những nhịp điệu mang tính trang trí tạo cho
người xem luôn cảm thấy cuộc sống niềm vui sự phát triển, sự no đủ và
đầm ấm.
Khi xây dựng nhân vật các nghệ nhân đã có sự cân nhắc kỹ tinh giản
và cách điệu trong mọi đường nét, đồng thời khi bức tranh ra đời người ta
đã dán lên vách nhà để mọi người trong trong thôn xóm có dịp xem.
Những bình luận góp ý của quần chúng đã giúp tác giả sửa chữa và bổ
xung để được tranh mẫu hoàn mỹ. Do vậy tranh mẫu không chỉ là sánh tác
riêng của nghệ nhân mà còn là kết quả góp ý chung của quần chúng.
b. Nét vẽ trong tranh thiếu nhi:

các đường cong và thẳng chưa cần vẽ màu đã tạo nên dáng chung của tờ
tranh có cái đẹp đại thể và đúng chất của đối tượng miêu tả.
Khi tiếp cận với tranh dân gian nhất là với đường nét trong tranh, các em
như cảm nhận thấy một cái gì đó rất gần gũi, đồng cảm, như tìm thấy một chỗ
dựa vững chắc, một người bạn thân thiện trong nét vẽ của mình.
3. Tương đồng về màu sắc giữa tranh dân gian với tranh thiếu nhi
a. Màu sắc trong tranh dân gian:
Thụ cảm trước màu sắc của thiên nhiên, của tâm lý dân tộc, các nghệ
nhân đã đưa lên mặt tranh dân gian một cách rất sáng tạo bảng màu nguyên
chất lấy từ thảo mộc hay khoáng sản, đó là một bảng màu trong sáng và rực
rỡ với màu của thiên nhiên thiên, nâu của sỏi son, xanh của lá chàm, sò điệp
với những kĩ năng phối sắc rất tài tình, các nghệ nhân đã tạo mỗi tranh mỗi
vẻ: Hòe, hiên, chàm, đen, đỏ, quế, lục, các màu đen than lá tre… Từ cách in,
tô màu đến bồi làm cho bảng màu nguyên chất, thô sơ ấy thiên biến vạn hóa
17
vô cùng phong phú, hình thành một quan niệm về hòa sắc độc đáo mang
tính dân tộc phù hợp với đời sống, không khí, ánh sáng trong hoàn cảnh lịch
sử của nhân dân. Tranh dân gian đã có “một chỗ đứng vững chắc trong nghệ
thuật màu sắc” (Cái đẹp của tranh dân gian - Nguyễn Đức Nùng).
Và chúng ta thấy khi những mảng mầu khác được đặt lên trên của
nền điệp sẽ trở nên trong sáng, màu của tranh dân gian Đông Hồ được đặt
đúng chỗ khi tương quan với màu xung quanh kết hợp với nét còn gợi lên
được tính chất của vật thể. Tất cả những màu sắc tưới sáng ấy đã được chế
ngự bởi các nét đen to khỏe, các nét đen đã làm dịu đi các mảng màu tươi
rói đó, các nét đen ấy không đặc và đen xịt mà xôm xốp anh ánh, Trong
“Đánh vật” thì ta thấy được sự nở căng đanh chắc của màu da các chàng
trai. Thì với tranh “Hứng dừa” , “Đánh ghen” thể hiện cái mịn màng mềm
mại, nuột nà của làn da. Tranh “Thầy đồ cóc” lại có cảm giác xù xì thô
nhám. Màu lông của gà trong tranh “Gà đàn” có chất xốp mượt.
Các nghệ nhân không khoe màu, trên mỗi tờ tranh chỉ có màu nền và

4. Bố cục trong tranh dân gian và tranh thiếu nhi:
a. Bố cục trong tranh dân gian Đông Hồ:
Tranh dân gian được các nghệ nhân làm theo phối cảnh ước lệ từ
không gian, ánh sáng, con người và cảnh vật, lấy hình để gợi ý, bỏ qua
cách nhìn thông thường với khái niệm gần to xa nhỏ, gần đậm xa nhạt, đó
là cái nhìn tự nhiên và là cách bố trí hình trong tranh Châu Âu. Ở đây các
nghệ nhân chú ý vào bản chất và dừng mắt ở mối quan hệ, địa vị xã hội,
những nhân vật chính như tiên, thánh, tổ… hay chú mèo trong bức “Đám
cưới chuột” đều to hơn hẳn, người hay các sinh vật dù ở gần cận cảnh
nhưng đều bị thu nhỏ sàn sàn như nhau. Đó là khoảng cách vị trí xã hội
chứ không phải khoảng cách trong vị trí tự nhiên nữa, vậy nên hầu hết các
tranh dân gian đều có các nhân vật chính được phóng to hơn, ở giữa, các
nhân vật phụ thì bé hơn ở bên.
Ở tranh dân gian Đông Hồ, đường nét và màu sắc đã phối hợp với
nhau tạo nên hình mà không cần quy luật viễn cận và bóng tối, chỉ cần bằng
20
cách xếp hình trên mặt phẳng của tờ giấy đã tạo được không gian cả chiều
sâu, nhiều tầng lớp thuộc cả ba thế giới trên trời mặt đất và trong lòng đất.
Kể chuyện “Thạch Sanh” xuống hang sâu cứu công chúa chỉ bằng vài hình
đơn sơ đã cho thấy được cả dã tâm và hành động lấp hang của lý thông ở
trên mặt đất, thấy cả hành động Thạch Sanh ở trong hang tiếp tục làm việc
thiện. Xem “Cá chép bên sen” thấy mặt nước rút hẳn đi chỉ được gợi qua
động tác bơi của cá bên hoa sen, tranh “Cá chép trông trăng”, “Cóc kiện
Trê” là các nhân vật hoạt động trong nước nhưng không hề bị nước che
khuất, nước rút về phía sau làm nền cho cá nhưng nhưng vẫn có vai trò để
giữ bóng trăng ở đằng sau và bầy cá con lượn quanh rong cỏ.
Trong sự ổn định của từng mảng hình và tổng thể các hình trên một
bức tranh, nghệ nhân đã khéo léo tạo nên một sự cân đối, một quan hệ tỷ lệ
hợp lý giữa các hình, các nhóm hình với nhau sao cho chúng không lấn át
nhau mà trái lại càng tôn nhau lên tạo lên sự cân đối cho hình đẹp, bố cục

của vùng quan họ Bắc Ninh vào hội xuân với bố cục được diễn theo hình
chữ nhật đứng, duyên dáng với các tà áo dài, váy lĩnh đen, tạo thành nhiều
nếp chảy xuôi trông vừa hiền thục vừa nghệ thuật với các khối cánh tay
tròn do đường cong của nếp áo với đường xiên chênh chếch của các nhạc
cụ. tóc rẽ ngôi giữa vấn lên, đuôi gà bỏ sang một bên, chân đi hài tạo nên
một bố cục nhịp điệu nhìn vào không chán mắt.
Những hình phức tạp đã được quy vào các hình đơn giản để vững vàng
hơn về thế đứng, là tranh “Vinh hoa phú quý” có hình em bé ôm gà ôm vịt
đều được quy từ hình tròn hay hình quả trứng, có cái động và căng, lại tròn
lẳn và đầy đủ. Ở tranh “Gà đàn” thì thấy mỗi chú gà là một hình tròn biến thể,
22
những hình tròn ấy xen kẽ nhau, rải ra một cách điều hòa, các mảng màu lốm
đốm như hoa nắng, thuận mắt theo nhịp điệu của từng loại màu ấy.
Tranh “Lợn độc” với bố cục hình chữ nhật nằm, các góc cạnh được
chỉnh sửa thành hình bầu dục, nở căng, vai và mông chạm vào khung hình,
trên mình lợn có các họa tiết hình tròn âm dương làm tăng mức chuyển
động và hiệu quả trang trí, Trong sự ổn định của mảng hình, của tổng thể
các hình trên một bức tranh, và quan hệ tỷ lệ thích hợp các nghệ nhân đã
tạo nên sự cân đối, biểu tượng của sự sinh sôi phồn thực, tiếp đó là bức
tranh “Lợn đàn”, là sự phát triển của lợn độc với các hình bầu dục lớn nhỏ
của đàn lợn một mẹ năm con được xếp dày đặc đông đúc…
Trong cái bố cục tranh ấy thường có một góc nhỏ khiêm tốn để dành
cho một bài thơ ngắn hay một câu ca dao hoặc trích truyện thơ, tục ngữ …
những chữ đó là chữ Hán, chữ Nôm với nét mảnh mai hay to khỏe, vừa là
để trang trí vừa làm cho bố cục thêm chắc chắn vừa là tiếng nói là tâm tư
của người nghệ nhân muốn tuyền đạt lại với người xem tranh, đó là mơ
ước, đó là khát khao, đó là sự hài lòng… nội dung những bài thơ hay câu
ca ấy người dân đã nhớ thuộc lòng, những em bé thiếu nhi đã được nghe
lặp đi lặp lại thành đường mòn trong tiềm thức hay nghe lần đầu là hiểu
ngay nhớ ngay bởi trong đó có những âm hưởng của ca dao, tục ngữ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status