PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
1.1. Sống và sáng tạo theo quy luật của cái đẹp là bản chất của con người.
Nhưng cuộc sống vốn đa dạng và phức tạp. Mọi sự vật, hiện tượng luôn vận
động, biến hoá vô cùng giữa thực- hư, đẹp- xấu, cao cả- thấp hèn…Biết bao cái
xấu xa, thấp hèn nhưng lại núp trong cái đẹp, nguỵ trang bằng hình dáng lộng
lẫy bề ngoài. Do đó, cái khó là làm sao hướng dẫn và phát triển đúng đắn con
đường đi đến cái đẹp đích thực, giúp con người có khả năng lựa chọn và đánh
giá đặc biệt nhạy cảm, chính xác trước cái đẹp, từ đó biết sáng tạo ra cái đẹp
muôn màu trong mọi hoạt động sống của mình. Chính vì vậy, việc bồi dưỡng
cho thanh thiếu niên một thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh trở thành một trong những
nhiệm vụ quan trọng của quá trình giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường.
1.2. Với tính chất hai mặt: vừa là một môn học, vừa là một môn nghệ thuật,
môn Văn có nhiều ưu thế trong việc giáo dục thẩm mỹ nói chung, bồi dưỡng thị
hiếu thẩm mỹ nói riêng cho học sinh. Tuy nhiên, việc dạy học Văn trong nhà
trường hiện nay chưa chú ý đúng mức đến vấn đề này. Các tài liệu hướng dẫn
dạy học cũng như giáo án của giáo viên chưa hề đề cập đến vấn đề bồi dưỡng thị
hiếu thẩm mỹ cho học sinh. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến
tình trạng nhiều em học sinh do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường chưa có
thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh
1.3.Thơ lãng mạn 1930-1945 là thành tựu xuất sắc của thơ ca Việt Nam
hiện đại, đã “mở ra một thời đại trong thi ca” và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát
triển của thơ ca giai đoạn tiếp sau. Bộ phận văn học này là một kho tàng thẩm
mỹ phong phú nên có nhiều khả năng bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh.
Hơn nữa, theo cấu trúc đồng tâm, học sinh được học thơ lãng mạn ở cả cấp học
THCS và THPT. Đây là điều kiện thuận lợi để tiến hành mục đích giáo dục, bồi
dưỡng. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về thơ lãng mạn chưa đề cập đến
vấn đề này.
1
1.4. Công cuộc đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay đang
hướng vào mục đích: phát huy vai trò chủ thể của người học. Tuy nhiên, những
KHI DẠY HỌC THƠ LÃNG MẠN VIỆT NAM 1930-1945
1.1. Thị hiếu và thị hiếu thẩm mỹ.
1.1.1. Thị hiếu:
Thị hiếu được hiểu theo nghĩa gốc là sự ngon miệng, sự ham thích
(Schmecken). Ở những cá nhân khác nhau, thị hiếu lại biểu hiện muôn hình vạn
trạng, nó khiến người ta lựa chọn những đối tượng khác nhau, phù hợp với sở
thích của mình. Sự lựa chọn này mang tính phổ biến và ổn định thành một xu
hướng, một kiểu, một lối, một thói quen riêng của từng người trong sinh hoạt cá
nhân, gia đình và xã hội.
1.1.2. Thị hiếu thẩm mỹ:
1.1.2.1. Định nghĩa:
Thị hiếu thẩm mỹ là một bộ phận cấu thành năng lực thẩm mỹ, là sở thích,
khát vọng của con người hướng tới cái đẹp, tới các phạm trù thẩm mỹ. Nó giúp
con người tiến sâu vào thế giới thẩm mỹ bằng những mẫn cảm đặc biệt và đạt
3
tới những thói quen trong thưởng thức và sáng tạo.Thị hiếu thẩm mỹ thường
được hình thành, bồi dưỡng dưới tác động của nghệ thuật.
1.1.2.2. Đặc điểm của thị hiếu thẩm mỹ:
Thị hiếu thẩm mỹ là sự thống nhất giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý
tính. Mặt khác, thị hiếu thẩm mỹ còn là sự thống nhất hài hoà giữa hai mặt cá
nhân và xã hội.
Thị hiếu thẩm mỹ có nhiều mức độ phát triển khác nhau: thị hiếu thẩm mỹ
tốt, thị hiếu thẩm mỹ kém phát triển và thị hiếu thẩm mỹ xấu.
1.1.3. Ý nghĩa của vấn đề bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ:
Thị hiếu thẩm mỹ gắn bó với đạo đức, hệ tư tưởng và những vấn đề chính
trị to lớn của thời đại. Xét cho cùng, thị hiếu thẩm mỹ bao giờ cũng chứa đựng
những khát vọng tương đối toàn diện của một thời đại lịch sử. Không có thị hiếu
thẩm mỹ lành mạnh thì không có cuộc sống đẹp. Thị hiếu thẩm mỹ trở thành
động lực quan trọng của phẩm chất văn hoá và là nội dung sâu sắc của cá tính
cao đẹp.
thiếu niên- lứa tuổi vốn nhạy cảm với cái mới, cái lạ, thích khẳng định cá tính
riêng nhưng vốn kinh nghiệm thẩm mỹ còn ít ỏi khiến các em ít nhiều có những
biểu hiện lệch lạc, thiếu lành mạnh trong thị hiếu thẩm mỹ như thái độ lúng
túng, sa đà, mất phương hướng trước những xu hướng thẩm mỹ khác nhau. Ảnh
hưởng của thứ thẩm mỹ lai căng, rẻ tiền, thiên về giá trị vật chất tác động đến
các em ngày càng lớn.
Do vậy, vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho mọi người, nhất là thanh
thiếu niên trở thành một nhiệm vụ vô cùng quan trọng nhưng không kém phần
phức tạp của xã hội và nhà trường.
1.2. Thị hiếu thẩm mỹ trong hoạt động tiếp nhận văn học của bạn đọc- học
sinh:
1.2.1. Thị hiếu thẩm mỹ có vai trò quan trọng trong hoạt động tiếp nhận
văn học của bạn đọc- học sinh:
5
Trước hết, thị hiếu thẩm mỹ giúp người đọc phát hiện ra chiều sâu, giá trị
nội tại của tác phẩm văn chương. Không chỉ vậy, thị hiếu thẩm mỹ còn giúp
người đọc tiếp nhận đúng đắn các tác động của tác phẩm văn chương đồng thời
giúp bạn đọc khắc phục khoảng cách thẩm mỹ giữa tác phẩm văn chương và bạn
đọc cũng như nâng cao tầm đón nhận, mở rộng vốn ngôn ngữ cho bạn đọc.
1.2.2. Những điểm cần lưu ý trong quá trình bồi dưỡng thị hiếu thầm mỹ
cho học sinh khi dạy học Văn:
Quá trình bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh khi dạy học Văn phải
chú trọng bồi dưỡng cho các em năng lực ngôn ngữ, đặc biệt là khả năng cảm
xúc, đánh giá hết cái hay, cái đẹp của ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm.
Nhưng mặt khác, giáo viên cũng cần ý thức được hoạt động tiếp nhận văn học
trong nhà trường là hoạt động có tính đặc thù của môi trường sư phạm để tổ
chức tốt các hoạt động dạy học. Trước hết, tính đặc thù được thể hiện ở đối
tượng được tiếp nhận. Tác phẩm văn chương được học trong chương trình
đều là những tác phẩm ưu tú của dân tộc và nhân loại, đã được thay đổi ít
nhiều về dung lượng, quy mô, về yêu cầu chức năng, thậm chí về vị trí trong
1.3.2.1. Tính đa dạng mà thống nhất của thị hiếu thẩm mỹ trong thơ lãng
mạn Việt Nam 1930-1945:
Thơ lãng mạn đã thay thế tiếng nói của cái tôi “vô ngã”, cái tôi vũ trụ
bằng tiếng nói của cái tôi cá nhân tràn đầy cảm xúc, tâm trạng, đòi giải
phóng cá tính sáng tạo. Không chấp nhận cái đẹp vĩnh hằng, bất biến, mang
tính quy phạm, ước lệ trong thơ cổ điển, các nhà thơ lãng mạn tìm đến cái
đẹp muôn hình, muôn vẻ của thế giới này, cái đẹp được phát hiện từ góc độ
cá nhân, cá thể với nhiều tưởng tượng, liên tưởng mới lạ, kỳ thú.
Trên cái nền chung có tính ổn định của thời đại, thị hiếu thẩm mỹ của mỗi
một nhà thơ lãng mạn giai đoạn 1930-1945 lại có những đặc điểm riêng. Nếu
Thế Lữ đưa ta phiêu du vào tiên cảnh, Lưu Trọng Lư đắm mình trong cõi mộng
và Chế Lan Viên quay về với quá khứ xa xăm, khóc thương cho dân tộc Chàm
7
xấu số thì Xuân Diệu xây dựng vườn địa đàng ngay chốn trần gian với những
nguyện ước thật mãnh liệt, chân thành:
Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn
Làm dây đa quấn quýt cả mình xuân
Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần
Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất.
(Thanh niên)
Là bạn thơ thân thiết của Xuân Diệu nhưng ngọn lửa thơ trong thơ Huy Cận
không nồng nàn, mãnh liệt mà âm ỉ cháy bởi chất chứa nỗi sầu vô tận: "Một
chiếc linh hồn nhỏ. Mang mang thiên cổ sầu".
Giữa lúc các nhà thơ lãng mạn say sưa với cái đẹp mới mẻ từ trời Tây đưa lại,
Nguyễn Bính vẫn nặng lòng với “hồn xưa đất nước”. Thi sĩ đến với ta bằng
tiếng thơ “chân quê”, phảng phất phong vị ca dao, dân ca. Hồn thơ ấy chỉ “ưa
sống trong tình quê mà ít chú ý đến cảnh quê” :
Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
họ còn mơ hồ, phi thực tế nhưng ít nhất cũng đánh thức khát vọng sống của con
người. Thơ lãng mạn giai đoạn này khắc hoạ vẻ đẹp của những đấng trượng phu
sẵn sàng lên đường, gạt tình riêng vì nghĩa lớn:
Ly khách! Ly khách con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong
(Tống biệt hành- Thâm Tâm)
Tuy có lúc đau buồn, sầu mộng nhưng nhìn chung, thơ lãng mạn Việt Nam
1930-1945 vẫn ánh lên vẻ đẹp của tình yêu cuộc sống, yêu con người tha thiết.
Thơ Hàn Mặc Tử là tinh hoa của một tâm hồn khát khao được sống, được hoà
nhập với cuộc đời, với con người nhưng lại gặp một chuỗi đau thương, bất hạnh.
9
Tiếng thơ sầu đau “ảo não” của Huy Cận cũng chẳng qua “là trá hình của lòng
ham đời, là cái tật dĩ nhiên của kẻ yêu sự sống”.
Thành tựu nổi bật nhất của thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945 về phương diện
hình thức nghệ thuật là sự cải tạo lại một cách căn bản “thơ trữ tình tiếng Việt
từ câu thơ “điệu ngâm” sang câu thơ “điệu nói”.
Đọc thơ lãng mạn, ta được tiếp xúc với vẻ đẹp của hình ảnh thơ mới lạ, độc đáo,
hấp dẫn. Do huy động nhiều giác quan và hoà trộn các giác quan trong cảm nhận
thế giới, các nhà thơ lãng mạn sáng tạo ra nhiều hình ảnh thơ tân kì:
Này lắng nghe em khúc nhạc thơm
Say người như rượu tối tân hôn
(Huyền diệu- Xuân Diệu)
Mặt khác, thơ lãng mạn 1930-1945 rất giàu có về nhạc điệu. Nhạc điệu trong thơ
lãng mạn là nhạc điệu của cảm xúc, của ngữ điệu người, giọng điệu người.
Chính điều này đã phá vỡ cấu trúc câu thông thường của thơ cổ điển. Mỗi dòng
thơ không còn là một đơn vị cú pháp độc lập mà chảy tràn sang nhau bởi hiện
tượng vắt dòng hoặc đột ngột bị tách làm đôi:
Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt
thật toàn vẹn, sắc nét sự thay đổi trong điệu cảm xúc, trong nội dung tư tưởng
của tác phẩm. Nhìn một cách tổng thể, loại hình thơ này đã căn bản đổi mới thi
pháp thơ trữ tình Việt Nam và có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của thơ
ca các giai đoạn tiếp sau. Chính vì thế, những tác phẩm tiêu biểu của phong trào
thơ ca này ẩn chứa nhiều giá trị thẩm mỹ quý báu, có khả năng bồi dưỡng thị
hiếu thẩm mỹ lành mạnh cho bạn đọc- học sinh. Việc tiếp xúc với các tác phẩm
này dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên sẽ giúp các em không những được
thưởng thức, rung cảm với cái đẹp trong tác phẩm mà còn có khả năng đánh giá
đúng đắn giá trị của nó. Hệ thống hình tượng được tích luỹ ngày càng nhiều
cùng với sự hiểu biết về nghệ thuật ngày càng gia tăng sẽ nâng cao trình độ và
năng lực thẩm mỹ của các em, giúp các em dần dần hình thành khả năng đặc
biệt nhạy cảm với cái đẹp trong nghệ thuật và cuộc sống. “Thói quen phân tích
và lĩnh hội một cách chín chắn những hiện tượng nghệ thuật làm cho thị hiếu
phát triển, phong phú, thêm hoàn thiện, tinh vi” (V.R.Rađumnưi- Bàn về thị
11
hiếu nghệ thuật. NXB Văn hoá nghệ thuật, H,. 1962). Đến đây, ta càng hiểu
thêm ý nghĩa sâu sắc, có tính khái quát cao trong câu nói của Mác: “Tác phẩm
nghệ thuật và mọi sản phẩm cũng thế có thể tạo ra công chúng sính nghệ thuật,
biết thưởng thức cái đẹp. Cho nên, sản xuất không những sản xuất ra đối tượng
cho chủ thể mà còn sản xuất ra chủ thể cho đối tượng” (Nhiều tác giả -Lý luận
văn học. NXB Đại học sư phạm 2002)
12
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG THỊ HIẾU THẨM MỸ CHO HỌC
SINH THPT KHI DẠY HỌC THƠ LÃNG MẠN VIỆT NAM 1930-1945
2.1. Khảo sát thị hiếu thẩm mỹ của học sinh THPT khi học thơ lãng mạn
1930-1945.
2.1.1. Mục đích khảo sát:
Chúng tôi tiến hành khảo sát thị hiếu của học sinh THPT khi học thơ lãng
mạn 1930-1945 nhằm mục đích nắm được trình độ phát triển thị hiếu thẩm mỹ
Khá 47/303 15,51
TB 145/303 47,85
Yếu 86/303 28,38
Bảng 2:
Thị
hiếu
đối
với
thơ
lãng
mạn
Lý do Số h.s Tỷ lệ (%)
Thích
Đặc sắc về nội dung,
nghệ thuật
42/303 13,86
Phù hợp với tâm
trạng, tính cách
74/303 24,42
Bồi dưỡng tâm hồn 25/303 8,25
Bình thường
Không cảm thụ được
hết cái hay, cái đẹp
của tác phẩm
33/303 10,89
Không phù hợp với
tính cách
23/303 7,59
Không thích học văn 14/303 4,62
Không thi ban C 32/303 10,56
Không thi ban C 63/303 20,79
Ngại đọc sách 7/303 2,31
Không cảm thụ được 54/303 17,82
Trên lớp học nhàm
chán
2/303 0,66
Bảng 4: Tác giả yêu thích
Tác giả
yêu thích
Lý do Số học sinh Tỷ lệ(%)
Ấn tượng về
cuộc đời
32/303 10,56
Nội dung thơ
hay
84/303 27,72
Hình thức nghệ
thuật đặc sắc
53/303 17,49
Thơ dễ hiểu, dễ
thuộc
68/303 22,44
Thơ có nội dung
và nghệ thuật
đặc sắc
66/303 21,78
15
Bảng 5: Khả năng cảm thụ thơ
Mức độ Số học sinh Tỷ lệ(%)
Tốt 24/303 7,92
huy được khả năng giáo dục to lớn của nó dù các em không chọn nghề văn làm
hướng đi cho cuộc đời mình.
Nhóm 2:
Việc không cảm thụ hết cái hay, cái đẹp của tác phẩm thậm chí cảm thấy
khó hiểu khi học bộ phận văn học này cũng ảnh hưởng rất lớn đến thái độ các
em (58/162 em = 35,8%). Sở dĩ như vậy vì thực tế, thơ lãng mạn Việt Nam
1930-1945 là thành tựu xuất sắc của thơ ca Việt Nam hiện đại, những bài được
tuyển chọn vào chương trình đều là những thi phẩm tuyệt tác, mà việc “giải mã”
chúng từng tạo nên những cuộc tranh luận không có hồi kết trong đội ngũ giáo
viên văn và giới nghiên cứu phê bình. Việc khám phá giá trị của tác phẩm luôn
là một hành trình vô tận đối với độc giả. Trong khi đó, vốn kinh nghiệm thẩm
mỹ của học sinh chưa nhiều, thời gian để các em tiếp xúc với một tác phẩm
trong chương trình còn ít ỏi. Do đó, việc các em cảm thấy khó cảm nhận hết cái
hay, cái đẹp của tác phẩm là điều có thể hiểu được. Nhưng mặt khác, cũng cần
phải xem lại cách dạy và học văn nói chung và bộ phận thơ ca này nói riêng.
Những em nêu lý do “không thích học văn”, “giáo viên dạy chưa hay”, hoặc
đánh giá sai: “thơ lãng mạn thiếu tinh thần dân tộc” xét đến cùng cũng xuất phát
từ cách dạy và cách học chưa phù hợp.
Các bảng 2, 3, 4, 5 cung cấp số liệu về khả năng tiếp nhận tác phẩm của
học sinh. Từ kết quả điều tra, chúng tôi thấy rằng, một số em có năng lực tiếp
nhận văn học tốt, có khả năng tư duy hình tượng, năng lực liên tưởng, tưởng
tượng phong phú, trình độ khái quát hoá và cụ thể hoá nghệ thuật khá phát triển.
17
Tuy nhiên, số lượng các em này chưa nhiều. Nhìn chung, khả năng tiếp nhận của
học sinh chưa tốt. (số liệu ở bảng 3: mức độ trung bình và yếu: 231/303
=76,23% và bảng 5: mức độ trung bình và yếu: 234/303 = 77,22%). Số liệu ở
bảng 2 (lý do các em có đọc thêm hoặc không đọc thêm thơ lãng mạn Việt Nam
1930-1945) và bảng 4 (lý do yêu thích tác giả) khẳng định thêm nhận định nêu
trên của chúng tôi. Phần lớn những nhận xét về tác phẩm của các em còn nặng
về cảm tính, chủ quan, ít xuất phát từ giá trị nội dung và nghệ thuật. Không
cuộc sống xung quanh mình.
2.2.3. Phải đảm bảo sự gắn kết hợp lý giữa các yếu tố dân tộc- giai cấp và
thời đại khi tiến hành bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh:
Khi dạy một tác phẩm văn học, chúng ta cần phải xác định những thị hiếu
thẩm mỹ có tính ổn định lịch sử nào là hay, là đẹp để giáo dục, bồi dưỡng. Mặt
khác, cần phải đặt tác phẩm vào xu thế vận động của cuộc sống hôm nay, trong
sự tranh luận, đánh giá của học sinh để phát hiện những giá trị thẩm mỹ hiện đại
đồng thời mạnh dạn phê phán những gì là tiêu cực, hạn chế. Từ đó, góp phần
xây dựng cho các em một thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh, phát triển, trong đó có sự
cân đối, hài hòa một cách hợp lý giữa ba yếu tố: dân tộc- giai cấp- thời đại.
2.2.4. Phải kết hợp hài hòa giữa việc phát triển cảm xúc và phát triển trí
tuệ khi tiến hành bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho chủ thể học sinh:
Các biện pháp bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ vừa phải chú ý phát triển những
rung động, cảm xúc thẩm mỹ vừa phải rèn luyện, nâng cao năng lực tư duy văn
học cho học sinh. Mặt khác, các biện pháp bồi dưỡng có thể tiến hành ở nhiều
khâu của quá trình tiếp nhận văn học của học sinh: từ việc chuẩn bị bài, việc
tham gia vào các hoạt động phân tích, cắt nghĩa, bình giá tác phẩm trên lớp đến
việc làm các bài tập thu hoạch ở nhà có sự nhận xét, đánh giá của giáo viên.
2.3. Các biện pháp bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh THPT khi dạy
học thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945.
2.3.1. Bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh qua hoạt động đọc:
19
Đọc văn là con đường duy nhất để hiểu văn, để tiếp nhận văn học. Đặc biệt,
đọc văn còn là "thể cách phát huy trực cảm". Vì thế, việc rèn luyện cho học sinh
kỹ năng đọc văn khi dạy học tác phẩm văn chương nói chung, dạy học thơ nói
riêng chính là hình thức bồi dưỡng năng lực tiếp nhận văn học, từ đó bồi dưỡng
thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đọc văn bản bằng năm hình thức đọc
sau: đọc lướt, đọc kỹ, đọc có bổ sung, đọc có định hướng mục đích và đọc diễn
cảm.
trống cũng tạo nên những ám ảnh bí ẩn không dễ lý giải. Vì thế, người đọc phải
bằng vốn kinh nghiệm, vốn sống, vốn hiểu biết của mình khoả lấp những "chỗ
trống" mà do yêu cầu của thể loại, tác giả không nói hết, từ đó phát hiện thêm
những lớp "hàm ngôn" đằng sau lớp "hiển ngôn".
Ngoài ra, hình thức đọc đặc biệt có hiệu quả trong việc khám phá thế giới
hình tượng để nắm được chiều sâu tư tưởng của tác phẩm thơ là hình thức đọc
có định hướng mục đích. Học sinh sẽ đọc một đoạn thơ, một dòng thơ hoặc một
số câu thơ theo yêu cầu nhất định của giáo viên. Đây thường là những "điểm
sáng thẩm mỹ" của tác phẩm, nơi tập trung tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của nhà
thơ.
Ví dụ:
Khi dạy bài thơ "Vội vàng" của Xuân Diệu, giáo viên có thể gọi học sinh
đọc đoạn thơ cuối: "Ta muốn ôm…hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi" với
yêu cầu phân tích nghệ thuật sử dụng ngôn từ (điệp từ, tính từ, động từ…) ở
đoạn thơ này.
Hình thức đọc cao nhất là đọc diễn cảm. Hình thức đọc này yêu cầu người
đọc phải biết phát huy ưu thế về chất giọng của mình để thể hiện cho thật rõ nét,
sinh động giọng điệu trữ tình của tác phẩm. Bằng ngữ điệu của mình, người đọc
phải làm nổi bật tiếng nói và nhất là ngụ ý của thi sĩ trong từng câu thơ qua việc
nhấn mạnh trọng âm logic, trọng âm tâm lý và trọng âm ngữ pháp. Hình thức
đọc này tạo nên một không khí giao cảm đầy tri âm, đồng điệu giữa tác giả và
người đọc, nhất là đối với các tác phẩm trữ tình bởi tác phẩm thơ trữ tình "xao
động, phập phồng, thắc thỏm ở đằng sau mỗi câu chữ…Chỉ có nhờ âm điệu thì
21
nhà thơ, người dạy, người học… mới cộng hưởng được với nhau" (Tố Hữu).
Chính vì thế, qua việc yêu cầu học sinh đọc diễn cảm, giáo viên có thể đánh giá
được khả năng cảm, hiểu tác phẩm của học sinh. Hình thức đọc này thường
được thực hiện như sau: Khi bắt đầu giờ học, giáo viên yêu cầu một em học sinh
đọc to và diễn cảm bài thơ. Sau đó, nếu giọng đọc của học sinh chưa phù hợp,
giáo viên uốn nắn đồng thời rút kinh nghiệm cho cả lớp về giọng đọc, những
trong nhận thức, đánh giá và thưởng thức tác phẩm. Mặt khác, hoạt động đọc
trên lớp cũng nhằm khắc phục tình trạng học sinh không đọc tác phẩm ở nhà do
nhiều nguyên nhân khác nhau, cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách
quan.
Việc đọc được tiến hành khi bắt đầu giờ học để tạo không khí tiếp nhận tác
phẩm cho cả lớp, giúp các em nắm được mạch vận động cuả cảm xúc, hoà nhập
với tâm trạng của cái tôi trữ tình trong tác phẩm.
Trong quá trình phân tích, cắt nghĩa, lý giải văn bản, giáo viên đọc và đặc
biệt huy động nhiều học sinh đọc tác phẩm: đọc từng đoạn, đọc một số câu thơ
để khơi gợi cảm xúc, khơi gợi suy nghĩ, để tìm tòi và phân tích những trọng
điểm nghệ thuật. Quá trình đọc đi đọc lại nhiều lần gắn với những yêu cầu cụ
thể và ngày càng cao của giáo viên giúp các em cảm và hiểu được cái hay, cái
đẹp của hình tượng thơ, có được những phát hiện mới mẻ về tác phẩm.
Không những thế, việc đọc được tiến hành khi kết thúc giờ học để gây ấn
tượng hoàn chỉnh về tác phẩm đồng thời nâng cao cảm nhận của học sinh, khơi
gợi một "chân trời chờ mong" trong cuộc hành trình tiếp nhận vốn không có hồi
kết. Từ đây sẽ bắt đầu những khám phá mới về ý nghĩa của tác phẩm cùng với
sự trưởng thành trong năng lực thẩm mỹ của các em. Để đạt hiệu quả thực sự
trong hoạt động tiếp nhận văn học việc đọc phải tiến hành nhiều lần, trên lớp
cũng như ở nhà.
2.3.2. Bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ qua việc tạo dựng bầu không khí xã
hội- lịch sử của tác phẩm:
Việc dựng lại bầu không khí xã hội- lịch sử cụ thể là điều kiện hết sức quan
trọng để người đọc kết nối được những mối liên hệ vô hình giữa nhà thơ và tác
phẩm, từ đó dễ dàng thâm nhập vào thế giới hình tượng nghệ thuật và nắm được
23
giá trị thẩm mỹ đích thực của tác phẩm. Đồng thời, việc tái hiện hoàn cảnh ra
đời của tác phẩm có tác dụng khơi dậy trí tưởng tượng và những xúc cảm của
học sinh về tác phẩm, tạo ra bầu không khí văn chương cần thiết để cuộc trò
chuyện tâm tình giữa nhà thơ và học sinh diễn ra tốt đẹp. Giáo viên có thể dựng
phẩm để hiểu được tình yêu cuộc sống mãnh liệt nhưng đầy uẩn khúc của nhà
thơ, lý giải được dạng liên kết vừa đứt đoạn vừa nhất quán của mạch thơ, mạch
cảm xúc. Nhưng chỉ giới hạn bài thơ trong hoàn cảnh riêng tư của thi sĩ thì chưa
đủ. Để nâng cao ý nghĩa và giá trị thời đại, giáo viên cần giúp học sinh hình
dung lại hoàn cảnh đau thương, đầy bế tắc của tầng lớp trí thức tiểu tư sản trước
cách mạng. Trong thời điểm đó, tình yêu cuộc sống đi kèm với cảm nhận về sự
bấp bênh, hư ảo của hạnh phúc và tình yêu là nỗi đau chung của các thi sĩ lãng
mạn. Đó là lý do vì sao bài thơ sớm tìm thấy sự đồng cảm, đồng điệu ở người
đọc ngay tại thời điểm nó ra đời.
Đang sống ở Hà Tĩnh gió Lào nóng bức, lần đầu tiên ra thủ đô, Xuân Diệu
đã cảm nhận rất rõ cái nắng thu, lá thu, gió thu, trời thu Hà Nội. Bài thơ "Đây
mùa thu tới" đã ra đời trong niềm xúc động, sự say mê, rạo rực, háo hức của một
người đang tìm tòi, khám phá vẻ đẹp rất đặc trưng của mùa thu đất kinh thành.
2.3.3. Bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh qua hoạt động so sánh,
đối chiếu:
So sánh văn học là một phương cách hữu hiệu để rèn luyện, bồi dưỡng thị
hiếu thẩm mỹ cho học sinh. So sánh được dùng để làm nổi bật một vài chi tiết
nào đó của tác phẩm đồng thời để thấy chỗ giống nhau, khác nhau nhằm soi
sáng sự kế thừa truyền thống và những đổi mới của tác giả trong các tác phẩm
hoặc đánh giá những chuyển biến cũng như tài năng biến hóa phong phú của
một số cây bút trong những tác phẩm viết chung một đề tài, hay chọn lựa chung
một hình ảnh ở nhiều góc độ khác nhau. Mặt khác, việc hướng dẫn và luyện cho
học sinh so sánh khi dạy học tác phẩm văn chương cũng góp phần rèn luyện tư
duy văn học cho các em, làm cho sự đánh giá tác phẩm của các em ngày càng
trở nên tinh tế, nhạy bén, sắc sảo.Có hai loại so sánh thường dùng: so sánh
tương đồng và so sánh đối lập. Tuy nhiên, việc so sánh luôn được xác định trên
cơ sở những nguyên tắc khách quan, chặt chẽ.
25