Tiểu luận tốt nghiệp Đỗ Lệ Hoa
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong thời đại xã hội phát triển như ngày nay với nền văn minh
công nghiệp có rất nhiều trào lưu nghệ thuật mới xuất hiện, sự nhìn nhận
về hội họa vẫn luôn phát triển, người ta không thể quên được cái đẹp
phóng khoáng và khỏe mạnh, tươi vui, tinh giản mà đậm đà của tranh dân
gian Đông Hồ. Tranh dân gian là một trong những nét đặc trưng độc đáo
của dân tộc Việt Nam, mang đậm dấu ấn về cuộc sống, về ước mơ bình dị
của con người với những chủ đề, tư tưởng riêng biệt và giá trị nghệ thuật
thỏa mãn nhu cầu tinh thần và thẩm mỹ trong đời sống của nhân dân.
Ngay từ các em học sinh tiểu học đã được tô vẽ theo tranh dân gian,
đó là những bức “Lợn dáy”… và trong chương trình mỹ thuật cấp 2 học
sinh bắt đầu học thường thức tranh là tranh dân gian bởi nó có vẻ giản dị
nhìn vào rất dễ hiểu và không những học sinh ở lứa tuổi thiếu niên nhi
đồng thấy đó như một tiếng nói chung về cội nguồn, một sự gần gũi dễ tiếp
cận mà cũng có nhiều họa sĩ đang cùng các nghệ nhân nghiên cứu, chuyên
sâu và tạo ra nhiều tác phẩm tranh khắc đẹp để góp phần tạo nên giá trị cho
loại hình nghệ thuật dân tộc này. Từ trước đến nay đã có nhiều quan niệm
về tranh dân gian Đông Hồ, có quan niệm cho rằng tranh dân gian là một
loại tranh vẽ hồn nhiên theo bản năng vì các nghệ nhân không được đào
tạo ở một trường lớp nào chính quy nào và những người chuyên nghiệp có
xu hướng hiện đại của Tây Âu cho lại rằng đó là phong cách độc đáo của
dân tộc…
Dòng tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh) đã cùng với tranh dân
gian Hàng Trống là hai dòng tranh lớn mang những nét đẹp hài hòa và tạo
nên diện mạo lớn của mỹ thuật dân gian Việt Nam, tranh dân gian sẽ là con
đường thuận lợi để giáo dục thị hiếu thẩm mỹ nói chung cho học sinh. Bởi
Khoa Sư phạm Mỹ thuật Trường ĐHSP
Hà Nội
Tiểu luận tốt nghiệp Đỗ Lệ Hoa
Tiểu luận tốt nghiệp Đỗ Lệ Hoa
của từng dòng tranh, đồng thời giúp nó không ngừng phát triển, khẳng
định sức sống bất diệt của mình cùng lịch sử dân tộc là nhiệm vụ của tất cả
mọi đối tượng, mọi thế hệ từ việc giáo dục học sinh yêu thẩm mỹ, yêu tính
dân tộc ngay từ lúc bắt đầu cắp sách tới trường.
Và đã có rất nhiều sách nghiên cứu về nguồn gốc, tính chất và ý
nghĩa của tranh dân gian nhưng hầu như không thấy đề cập tới vấn đề đưa
tranh dân gian vào giáo dục như thế nào?
Chính vì những lý do trên mà em đã mạnh dạn chọn và nghiên cứu
đề tài với nội dung “Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh qua vẻ đẹp
của tranh dân gian Đông Hồ” làm đề tài cho tiểu luận tốt nghiệp của
mình. Đề tài nhỏ và chưa thể đi sâu hết các vấn đề của tranh dân gian
nhưng em mong muốn góp một vài suy nghĩ của mình mang tính gợi mở
đối với việc nâng cao giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1. Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu nhằm làm nổi bật vẻ đẹp và vai trò của tranh dân gian, nhấn
mạnh trong việc giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh ở lứa tuổi thiếu niên
nhi đồng, từ đó có phương pháp để áp dụng tốt vào việc học mỹ thuật.
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Giúp các bạn học sinh nhận thức được tầm quan trọng của tranh dân
gian, từ đó sẽ tìm thấy sự gần gũi và tiếp cận với mong muốn được tìm
hiểu, lưu giữ và sáng tạo nghệ thuật.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng ở đây chính là học sinh và tranh dân gian Đông Hồ, trong
đó có các yếu tố làm nên giá trị của tác phẩm: Cảm xúc thẩm mỹ, nhận thức,
giáo dục. Tuy nhiên trong bài tiểu luận của mình em không nghiên cứu sâu
Khoa Sư phạm Mỹ thuật Trường ĐHSP
Hà Nội
B. NỘI DUNG
Chương I
VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ
I. Khái quát về làng tranh dân gian Đông Hồ:
Tranh khắc gỗ Đông Hồ là dòng tranh có nghệ thuật độc đáo và đậm
đà tính dân tộc với kỹ thuật khắc, in mẫu mực, ổn định do trải qua nhiều
thế hệ nghệ nhân sáng tạo. Tranh được sản xuất tại Làng Đông Mại xưa kia
(thường gọi là làng Mái) thuộc xã Hồ Tú, tổng Đông Hồ, Huyện Thuận
Thành, Tỉnh Bắc Ninh nay là thôn Đông Hồ, xã Song Hồ, Huyện Thuận
Thành Tỉnh Bắc Ninh.
Làng Đông Hồ nằm ngay Sông Đuống bên cạnh đường giao thông
nối từ hai vùng đất lở phù trú của Châu thổ sông Hồng là xứ Bắc (Hà Bắc)
với xứ Đông (Hải Dương). Đông Hồ có vị trí địa lý lịch sử nổi tiếng vùng
Kinh Bắc, phía Bắc của Đông Hồ là con sông Đuống tiếp giáp với đền thờ
Kinh Dương Vương, cách đó 1km là chùa bút Tháp, phía Nam có thành
Luy Lâu (1 trong 3 trung tâm văn hoá phật giáo lớn ở phương Đông trong
thời đế chữ Hán, là trung tâm kinh tế chính trị quân sự và thương mại của
quận Giao Chí và Châu Long. Phía Nam là đồng ruộng, nhìn thẳng là làng
Sĩ Nhiếp, phía Đông có miếu Thiên Than…Theo địa giới hành chính hiện
nay Đông Hồ có 748 nhân khẩu, 183 hộ, có 224.000mv đất canh tác chưa
được 1 sào cho 1 đầu người. Chính vì vậy nghề phụ lại trở thành nguồn thu
nhập chính của người dân. Hiện nay các tỉnh khác như Hà Nội, Yên Bái,
Lào Cai … vẫn về đây nhập hàng. Đông Hồ còn xuất khấu những mặt
hàng như thảm, đồ chơi trung thu và hoa tết …
Đọc “Bên kia sông Đuống” của nhà thơ Hoàng Cầm trong SGK lớp
12 ta thấy sông Đuống gắn bó với đời sống của người dân, với những vẻ
đẹp của tranh dân gian Đông Hồ, cho dù chưa được về làng Đông Hồ
Khoa Sư phạm Mỹ thuật Trường ĐHSP
Hà Nội
Tiểu luận tốt nghiệp Đỗ Lệ Hoa
Tiểu luận tốt nghiệp Đỗ Lệ Hoa
Người dân lao động vất vả đầu tắt mặt tối cả năm để vui mừng đón
ngày tết, vui là để đuổi sầu cầu may, bên cạnh đó bức tranh tết đã góp phần
tạo thêm niềm vui tích cực ấy. Tranh ra đời trong các căn nhà tranh và để
rồi lại được trưng nổi lên, làm tươi sáng cả một góc tường của những căn
nhà tương tự, cũng gianh tre lụp xụp hay gỗ ngói sơ sài, nó ăn nhập với
nhau. Nó sưởi ấm với màu sắc đậm đà, nó sởi lởi với hình ảnh dí dỏm, nó
thu hút mọi người để tạo ra tiếng cười khúc khích, những vẻ mặt hân hoan,
ánh mắt rạng rỡ …Cả tranh những ông tướng canh cổng giúp người dân
yên tâm vui tết, cả những tranh thờ sau ánh đèn, làn khói cùng mùi hương
tạo cảm giác yên tâm thanh thản.
Tranh dân gian rất thiết thực, giàu tình cảm, giúp con người yêu cuộc
sống và lao động, thấy lạc quan yêu đời hơn. Ngoài việc thể hiện những ước
mơ đẹp đẽ, ca ngợi cái đẹp của sản xuất, cổ vũ tinh thần thượng võ (tranh võ
trường, tranh voi, tranh chiến đấu…) tranh dân gian Đông Hồ còn là một
công cụ chiến đấu của nhân dân lao động đánh vào mặt giai cấp thống trị
(Đám cưới chuột, Thầy đồ cóc, Hội tây nhảy đâm ) hay là ngòi bút phê
phán những thói hư tật xấu (đánh ghen, trai tứ khoái, gái bảy nghề…)
Tranh tết in nét vẽ tay với những bức khổ to xếp theo bộ như tứ
bình: Tố nữ, tứ quý: xuân - hạ - thu - đông, cá chép trông trăng, thiên hạ
thái bình…tranh đại tự phúc lộc thọ, những bức câu đối, liễn …
Tranh tết xuất hiện trong không khí vui tươi rộn rã của mỗi gia đình
như một yếu tố tạo niềm vui, nó được dán thẳng lên vách đất tường vôi,
không khung, không kính, nó ăn nhập ngay với thế giới xung quanh, cân
bằng với những tường và cửa không gờ soi, không chạm khắc, với những
xà và cột không nặng nề không tỉa tót, với những giường phản đơn sơ, mộc
mạc với những đồ lễ trên bàn thờ long trọng mà không choáng lộn, với
những trang phục của con người lành sạch, trang nhã mà không diêm dúa,
Khoa Sư phạm Mỹ thuật Trường ĐHSP
Hà Nội
Hà Nội
Tiểu luận tốt nghiệp Đỗ Lệ Hoa
nguyên chất đó đã chuyển thành những sắc thái kì diệu, bên cạnh đó màu
nước gỗ vang tạo nên một màu tươi chuẩn mực “đỏ như vang” trông vào
thấy một niềm vui hồ hởi và gợi không khí tết sôi nổi với tình cảm đầm
ấm. cho thấy mỗi màu sắc đều mang ý nghĩa tượng trưng nào đó, và ý
nghĩa này ở mỗi dân tộc, mỗi địa phương còn gắn với những vấn đề thuộc
về văn hóa, phong tục tập quán và về tôn giáo nữa.
II. Nét tương đồng giữa tranh dân gian và tranh thiếu nhi. Vẻ đẹp của
tranh dân gian ảnh hưởng tới việc giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh
1. Vẻ đẹp của tranh dân gian tác động tới tình cảm và việc hình
thành, phát triển nhân cách học sinh:
Thời gian đã khẳng định được sức sống của tranh dân gian Đông
Hồ, nó đã giữ được vị trí trong cảm xúc thẩm mỹ của mọi người với giá trị
tư tưởng, vẻ đẹp hài hòa, và những cái đẹp đó bắt nguồn từ cách nhìn, cách
nghĩ của người nghệ nhân cùng nhân dân lao động làm nên những bức
tranh, những con người đó thực sự am hiểu, nắm bắt được về tình cảm và
cuộc sống của con người xã hội nông nghiệp nên họ hiểu, họ đã tái tạo lại,
vẽ ra bằng lối tạo hình gạn lọc, không hề sao chép thực tế, họ không chỉ
nắm chắc ngoại hình mà còn hiểu sâu sắc cả về phần nội tâm nữa, do đó
tranh đã được miêu tả bằng lối tạo hình, gạn lọc và sắp xếp cho thuận mắt
để rồi đưa tranh lên ở trạng thái nghệ thuật.
Trong quá trình xây dựng nhân vật, nghệ nhân không bị ràng buộc
bởi cái vụn vặt của hình mẫu, những cái họ thường gặp đã dần đọng lại
trong đầu một hình tượng không cá thể nhưng thật tiêu biểu. Nghệ nhân
cũng không bị lệ thuộc bởi những định luật phép tắc, trường quy nào cả, họ
được tự do sáng tác theo sự suy nghĩ và sự thôi thúc của tình cảm.
Tranh dân gian Đông Hồ được khái quát cao ở những hình tượng trong
tranh, chúng vừa hư vừa thực khiến người xem thấy thuận mắt, nghĩ thuận
tình, và thấy được thỏa mãn tâm lý bởi bức tranh bao giờ cũng có hậu.
quyến rũ của tờ tranh những tư tưởng và tình cảm đã được nâng lên.
Khoa Sư phạm Mỹ thuật Trường ĐHSP
Hà Nội
Tiểu luận tốt nghiệp Đỗ Lệ Hoa
Đây là những lợn mẹ, lợn con mang đầy đủ những tình cảm mẹ con
trong tư thế đùm bọc, quấn quýt trong đôi mắt lim dim hiền từ. Đặc biệt
các chi tiết gà mẹ ngậm con mồi rất nhẹ nhưng con mồi không thể thoát
được và đồng thời cũng không bị dập nát để các chú gà con được một
miếng mồi ngon. Tình mẹ con ở đây phải chăng đã được nghệ sĩ dân gian
nhân cách hóa?
Và tấm lòng mẹ chắt chiu, dành dụm nuôi dưỡng lũ con, nhịn miếng
để dành nhường cho con những miếng mồi ngon lành nhất. Đó cũng là đạo
lý thông thường trong tình cảm mẹ con đã ăn sâu vào tâm hồn chúng ta, đã
được coi là một hình ảnh đẹp đẽ, là một rung cảm nghệ thuật phong phú
một hình tượng vừa có chân, có thiện, có mỹ.
Tấm lòng bà mẹ Việt Nam đã ăn sâu vào tâm hồn người nghệ sĩ dân
gian Việt Nam. Tấm lòng người mẹ đã chắt chiu, dành dụm tần tảo nuôi
con, lấy hạnh phúc của con làm hạnh phúc của mình, con vui là mẹ vui,
con no là mẹ no, con sung sướng là mẹ sung sướng, nó trở thành một tình
cảm như vốn sẵn có. Một bản năng trong tư duy sáng tạo vốn tiềm tàng
trong sương máu tâm hồn nghệ nhân, rồi từ đó tờ tranh quay trở lại có tác
dụng xây dựng tâm hồn nghệ nhân, rồi từ đó tranh quay trở lại có tác dụng
xây dựng tâm hồn cho người xem qua nhiều thế hệ nối tiếp đối với các em
học sinh ở lứa tuổi thiếu niên nhi đồng, nó làm nảy sinh đánh thức tính
nhân đạo, tình yêu thương kính trọng cha mẹ, anh em, bạn bè, và đồng loại
cũng từ đó hình thành ý thức, nhân cách học sinh trong thời đại mới.
Với nội dung phong phú của tranh dân gian đã tác động tới cảm xúc
thẩm mỹ trong các em, các em biết trân trọng các đẹp, yêu thiên nhiên cây
cỏ hoa lá, những con vật bé nhỏ mà gần gũi với cuộc sống thường ngày
của các em, cũng từ đó biết giữ gìn và có ý thức làm cho môi trường xung
nét và màu sắc. Dưới bàn tay điêu luyện của các nghệ nhân, đường nét
tạo sự nhất quán giữa hình và màu, diễn tả được tình cảm tính cách nhân
Khoa Sư phạm Mỹ thuật Trường ĐHSP
Hà Nội
Tiểu luận tốt nghiệp Đỗ Lệ Hoa
vật bằng những nét viền to, nhỏ, đậm đà dứt khoát, khỏe nhưng không
khô cứng, chắc nhưng mềm mại uyển chuyển, thanh thoát tạo nên vẻ đẹp
riêng của tranh.
Các nghệ nhân đã lặn lội trong cuộc sống thấu hiểu các lớp người
trong xã hội, thuộc lòng các cảnh vật ở quanh mình: “Có đủ các thần tượng
về các thần thánh mà con người thấy liên quan đến nên họ sẵn có trong đầu
những hình ảnh chuẩn mực dù phức tạp đến đâu cũng tìm ra đường viền
giới hạn khái quát nhất”…(Một số đặc điểm trong tranh dân gian - Nguyễn
Trân). Cái đẹp đọng lại trong trí nhớ của họ không phải là ở hình thể trong
trạng thái tự nhiên vốn có nữa mà là một tinh giản, cô đọng và tiêu biểu.
Những đường nét trong tranh dân gian chẳng những tạo ra dáng hình mà
còn đặc tả được tính cách và thể chất của đố tượng, nhân vật khiến cho
người xem có những tình cảm gần gũi, thoải mái với cuộc sống đồng ruộng
và màu sắc nâu sồng chân quê. Xem tranh “Đánh ghen”, vẫn bằng những
đường cong nghệ nhân đã thể hiện thành công hình ảnh hai bà vợ đanh đá
chua ngoa trong trạng thái tâm lý gợi ra sự mềm mại kì thú của thể chất da
thịt . Ở tranh “Thầy đồ cóc” thì nghệ nhân lại dùng đường nét gồ ghề khúc
khuỷu gợi lên cả chất da xù xì, dày cộm của con vật. Tranh “Trạng chuột
vinh quy” những nét cong vặn vẹo lắt nhắt lại bộc lộ sự nhút nhát khép nép
sợ sệt trước con mèo già hiểm ác. Tranh “Gà đàn” có những đường cong
thoải mái đã nêu được niềm vui xum họp, sự nhí nhảnh của lũ gà con, và
thấy được cả chất xốp của lông gà mẹ. Tranh “Hứng dừa” với hai câu thơ
đậm tính hài hước, một tình yêu tràn trề sức sống:
“Khen ai khéo dựng nên dừa
Đấy trèo đây hứng cho vừa lòng nhau”
Hà Nội
Tiểu luận tốt nghiệp Đỗ Lệ Hoa
Khi tiếp cận với đường nét trong tranh dân gian không phải các em bắt
chước các đường vẽ đó mà qua đó các em như được định hình một phong
cách không gò gẫm, không lệ thuộc.
Khoa Sư phạm Mỹ thuật Trường ĐHSP
Hà Nội
Tiểu luận tốt nghiệp Đỗ Lệ Hoa
Qua tranh dân gian các em như được mở rộng hơn tầm mắt vào thế
giới tự nhiên, muôn hình muôn vẻ, được khuyến khích và khích lệ vẽ. Với
những em học sinh có năng khiếu thì các em có sự hào hứng và vẽ một
cách say mê. Đối với các em học sinh ít năng khiếu cũng cảm thấy tự tin
hơn khi học vẽ, có cảm giác hơn khi học vẽ, có cảm giác vẽ cũng không
khó lắm và không còn thấy sợ môn mỹ thuật.
Qua tranh thiếu nhi chúng ta thấy các em thường thích gì thì vẽ đấy,
không đắn đo, do dự hoặc tỉa tót một cách kỹ lưỡng. Với phong cách tự do
suy nghĩ tự do sáng tác về những chủ đề đã được nghe, được thấy và thông
thường các em ở nơi nào thì hay vẽ những cảnh vật ở nơi đó. Các em vẽ
theo cảm xúc tự nhiên vốn có, nên hình ở trong tranh các em rất ngộ
nghĩnh, ngây thơ, hồn nhiên, trong sáng, nét vẽ thoải mái mạnh bạo rất dứt
khoát và khỏe khoắn. Trong quá trình thực tập em đã dạy tại trường
Hermann Gmainer và quan sát em thấy các em học sinh vẽ những tranh
thật đẹp như bức hai mẹ con chú gà này:
Khoa Sư phạm Mỹ thuật Trường ĐHSP
Hà Nội
Tiểu luận tốt nghiệp Đỗ Lệ Hoa
Bài vẽ của Thùy Linh lớp 2A1.
Nó chẳng có điểm chung với tranh “gà đàn” của Đông Hồ là gì? Đấy
là màu sắc được đặt cạnh nhau không hề pha trộn, đấy là cái không gian
của tranh.
trai. Thì với tranh “Hứng dừa” , “Đánh ghen” thể hiện cái mịn màng mềm
mại, nuột nà của làn da. Tranh “Thầy đồ cóc” lại có cảm giác xù xì thô
nhám. Màu lông của gà trong tranh “Gà đàn” có chất xốp mượt.
Các nghệ nhân không khoe màu, trên mỗi tờ tranh chỉ có màu nền và
nét đen kết hợp với ba màu nữa, hãn hữu một số tranh mới cần đến bốn
màu. Trái lại có những tranh chỉ cần hai màu, thậm chí chỉ có một màu kết
hợp với nét đen. Chỉ với một số màu sắc ít ỏi ấy, do cách phân mảng và có
một số mảng in chồng màu, màu trong tranh đã biến hóa, gây ấn tượng rất
phong phú. Đường nét màu sắc của tranh dân gian chúng ta thấy được sự
thông minh hóm hỉnh, sinh động linh hoạt và cái chân chất, thật thà của
tình cảm, những bảng màu tự nhiên đó làm người xem thấy vui con mắt và
có khi còn làm thay đổi nhân sinh quan, từ buồn trở thành vui, đang khổ
cực lại như có niềm tin hứa hẹn (tranh đánh ghen, chăn trâu…).
Nếu nói mỗi đường khắc mỗi nét vẽ của tranh là sự thể hiện hiện
thực của trí tuệ và tình cảm thì màu sắc cũng là hình tượng của cảm xúc
thành màu hiện thực, những màu đó gợi lên được sự vui buồn, sự mát mẻ
sảng khoái.
Khoa Sư phạm Mỹ thuật Trường ĐHSP
Hà Nội
Tiểu luận tốt nghiệp Đỗ Lệ Hoa
b. Màu sắc trong tranh thiếu nhi:
Với tình cảm chân thật, các em thiếu nhi luôn có cái nhìn hồn nhiên
tươi sáng, do đó màu sắc trong tranh của các em luôn rực rỡ đậm đà và
mạnh mẽ, ở tranh thiếu nhi các em luôn vẽ theo sự cảm nhận tự nhiên vốn
có, không bị lệ thuộc khung cảnh, màu sắc hiện thực, vẽ theo sự cảm thụ,
suy nghĩ của mình.
Tranh vẽ thiếu nhi mặc dù hình tượng còn ngượng ngập, sai sót về tỷ
lệ, màu sắc thường giống thực và đôi khi lại không giống thực, chính vì thế
tạo nên cái rất duyên, màu sắc vừa hư vừa thực các em nghĩ sao thì vẽ vậy,
nó thường mang tính chất khái quát về hình tượng và màu sắc, đó chính là
trên mặt đất, thấy cả hành động Thạch Sanh ở trong hang tiếp tục làm việc
thiện. Xem “Cá chép bên sen” thấy mặt nước rút hẳn đi chỉ được gợi qua
động tác bơi của cá bên hoa sen, tranh “Cá chép trông trăng”, “Cóc kiện
Trê” là các nhân vật hoạt động trong nước nhưng không hề bị nước che
khuất, nước rút về phía sau làm nền cho cá nhưng nhưng vẫn có vai trò để
giữ bóng trăng ở đằng sau và bầy cá con lượn quanh rong cỏ.
Trong sự ổn định của từng mảng hình và tổng thể các hình trên một
bức tranh, nghệ nhân đã khéo léo tạo nên một sự cân đối, một quan hệ tỷ lệ
hợp lý giữa các hình, các nhóm hình với nhau sao cho chúng không lấn át
nhau mà trái lại càng tôn nhau lên tạo lên sự cân đối cho hình đẹp, bố cục
chặt chẽ, độc đáo và hợp lý.
Từ những tranh phản ánh sinh hoạt xã hội, những cảnh đám rước
đông người, cảnh dạy học, cảnh cấy cày, từ không gian ở trạnh thái tự
nhiên rất nhiều chi tiết các nghệ nhân gạn lọc và giữ lại cảnh vật tiêu biểu,
đủ làm nền cho các nhân vật hoạt động theo yêu cầu của chủ đề, trong
“Đánh ghen” các nhân vật trước và sau không che lấp nhau, ta thấy hình
ảnh bức bình phong, tường hoa chậu cảnh đã chia khoảng không từ trong
nhà ra ngoài ngõ làm ba khoảng, ba khoảng đó thu nhỏ lại kéo gọn vào
trong tranh, chậu cảnh, cùng với cảnh đánh ghen cho chúng ta liên tưởng
tới một gia đình trung lưu, có của ăn của để với ông chồng vừa ham vẻ liễu
vừa hám vẻ thanh ngang nhiên xua tay vợ cả “thôi thôi bớt giận làm lành”
còn tay kia vẫn tranh thủ để lên ngực cô vợ lẽ.
Khoa Sư phạm Mỹ thuật Trường ĐHSP
Hà Nội
Tiểu luận tốt nghiệp Đỗ Lệ Hoa
Trên không gian ước lệ, hình được cách điệu đơn giản tạo dáng hoạt
bát, đường nét mạch lạc, các mảng màu đậm nhạt thay đổi hợp lý khiến
cho người xem như bị hút vào đẩy ra rất lý thú. Trong tranh Đông Hồ cũng
thường thấy sự góp mặt của chữ trên tranh như tranh dân gian của hội họa
Trung Hoa. Những dòng chữ làm cho nội dung bức tranh thêm rõ ràng, các
động và hiệu quả trang trí, Trong sự ổn định của mảng hình, của tổng thể
các hình trên một bức tranh, và quan hệ tỷ lệ thích hợp các nghệ nhân đã
tạo nên sự cân đối, biểu tượng của sự sinh sôi phồn thực, tiếp đó là bức
tranh “Lợn đàn”, là sự phát triển của lợn độc với các hình bầu dục lớn nhỏ
của đàn lợn một mẹ năm con được xếp dày đặc đông đúc…
Trong cái bố cục tranh ấy thường có một góc nhỏ khiêm tốn để dành
cho một bài thơ ngắn hay một câu ca dao hoặc trích truyện thơ, tục ngữ …
những chữ đó là chữ Hán, chữ Nôm với nét mảnh mai hay to khỏe, vừa là
để trang trí vừa làm cho bố cục thêm chắc chắn vừa là tiếng nói là tâm tư
của người nghệ nhân muốn tuyền đạt lại với người xem tranh, đó là mơ
ước, đó là khát khao, đó là sự hài lòng… nội dung những bài thơ hay câu
ca ấy người dân đã nhớ thuộc lòng, những em bé thiếu nhi đã được nghe
lặp đi lặp lại thành đường mòn trong tiềm thức hay nghe lần đầu là hiểu
ngay nhớ ngay bởi trong đó có những âm hưởng của ca dao, tục ngữ.
“Khen ai khéo dựng lên dừa
Đấy chèo đây hứng cho vừa một đôi”
Đây là những động tác hứng dừa hớ hênh với sự đáng yêu nhí nhảnh
của cô gái, trong tranh có nét phởn phơ, tươi rói, một mong muốn hạnh
phúc lứa đôi, những hành động này chỉ có ở trong tranh mới có thể thoải
mái như vậy khi đấy ở thời mà xã hội mang tư tưởng nho giáo “Nam nữ
thụ thụ bất thân”. Những câu đối, câu ca dao đã gắn bó với hình tượng
Khoa Sư phạm Mỹ thuật Trường ĐHSP
Hà Nội
Tiểu luận tốt nghiệp Đỗ Lệ Hoa
của nét và màu đẻ nhanh chóng truyền đạt đến người xem những chủ đề
của tác phẩm.
b Bố cục trong tranh thiếu nhi:
Trong tranh thiếu nhi các em thường ít chú ý tới bố cục bởi các em
vẽ theo cảm hứng, vẽ theo cách hiểu, cách nghĩ và cách cảm nhận của các
em. Khi vẽ một vấn đề nào đó thường mang tính chất liệt kê sự vật và hiện