LUẬN VĂN:
Vấn đề kết hợp truyền thống và hiện đại
trong đổi mới giáo dục - đào tạo đại học ở
Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
- Nhóm vấn đề có liên quan đến truyền thống và đặc trưng của nền giáo dục
cổ truyển Việt Nam có: Đến hiện đại từ truyền thống của GS. Trần Đình Hượu, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994; Giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam của GS. Trần
Văn Giàu, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992; Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trước
1945 của GS. Vũ Ngọc Khánh, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1990; Khắc phục lối học hư
văn khoa cử - nâng cao chất lượng giáo dục của GS. Phạm Minh Hạc, Tạp chí Cộng
sản số 5-1998, v.v
- Nhóm vấn đề liên quan đến thành tựu của nền giáo dục thế giới trong lịch sử
và hiện nay có: Lịch sử giáo dục thế giới của GS. Hà Nhật Thăng, Nxb Giáo dục, Hà
Nội, 1997; Nền giáo dục cho thế kỷ XXI: Những triển vọng của Châu Á - Thái Bình
Dương, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 1994; Nước Mỹ năm 2000 - Chiến lược
giáo dục, Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, 1995, v.v
- Nhóm vấn đề liên quan đến việc kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá
trình phát triển giáo dục - đào tạo, có thể kể đến: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban
chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VII) và Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (Khóa VIII); Phát triển giáo dục, phát triển con người phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội của GS. Phạm Minh Hạc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1996; Vấn đề giáo dục - đào tạo của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1999; Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI của GS.
Phạm Minh Hạc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Giáo dục Việt Nam: Xu
hướng phát triển và những khác biệt, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1996, v.v
Tuy nhiên, chưa có chuyên khảo nào bàn trực tiếp về việc kết hợp truyền
thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo đại học ở Việt Nam hiện
nay.
Mặc dù vậy, những công trình nghiên cứu nói trên là tài liệu tham khảo quan
trọng giúp nhóm tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
nước ta tiến hành đổi mới đến nay và trong những năm tới (đến 2015).
- Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là:
phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, lôgíc và lịch sử với tinh thần lý luận kết
hợp với thực tiễn.
5. Đóng góp của công trình nghiên cứu
- Góp phần làm sáng tỏ mối quan quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong
giáo dục - đào tạo cũng như việc vận dụng mối quan hệ trên trong giáo dục - đào tạo
nói chung, giáo dục - đào tạo đại học nói riêng ở Việt Nam trong thời gian qua.
- Bước đầu nêu ra một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm kết hợp
yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo đại
học ở nước ta trong thời gian tới.
6. Kết cấu của công trình nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, công trình nghiên
cứu gồm 3 chương, 7 mục.
Chương 1
MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI
TRONG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
1.1. YẾU TỐ TRUYỀN THỐNG VÀ YẾU TỐ HIỆN ĐẠI TRONG
GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
1.1.1. Khái niệm "truyền thống" và "truyền thống giáo dục đào tạo"
1.1.1.1. Khái niệm "truyền thống"
Truyền thống là một khái niệm cho đến nay còn có nhiều cách diễn đạt khác
nhau về nội hàm và ngoại diên của nó. Tùy thuộc vào góc độ tiếp cận, vào đối
tượng từng ngành khoa học mà các tác giả, các nhà nghiên cứu có những cách hiểu,
cách trình bày khác nhau về truyền thống.
Theo Từ điển Hán - Việt: "Truyền thống: đời nọ truyền xuống đời kia" [1, tr.
- Truyền thống là kết quả hoạt động vật chất và tinh thần của con người
trong quá khứ biểu hiện ở tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen, phong tục, lối
sống, cách ứng xử, đạo lý, tâm lý…
- Truyền thống bao giờ cũng là truyền thống của một cộng đồng người (thị
tộc, bộ lạc, dân tộc, dòng họ, gia đình, làng xã ), là bản sắc của các cộng đồng
người.
- Truyền thống được hình thành trong lịch sử do tác động của các yếu tố:
môi trường tự nhiên và điều kiện địa lý; kết cấu kinh tế - xã hội; quá trình lao động
sản xuất và lịch sử; môi trường văn hóa khu vực và thế giới.
- Truyền thống có tính kế tục từ lớp người trước sang lớp người sau, thế hệ
trước sang thế hệ sau, nó ăn sâu vào tâm lý, phong tục tập quán, nếp nghĩ … của con
người.
1.1.1.2. Truyền thống giáo dục - đào tạo và những biểu hiện của nó
a. Khỏi nim giỏo dc
Thut ng giỏo dc v o to c ny sinh t trong ngụn ng hng ngy,
nú din t c nhng khỏi nim thụng thng ln nhng khỏi nim khoa hc. Giáo
dục có thể đ-ợc tiến hành trong tất cả các lĩnh vực của đời sống và đ-ơng nhiên
giáo dục không chỉ hạn chế ở dạy học mà v-ợt xa khỏi phạm vi dạy học. Giáo dục có
hai nghĩa: thứ nhất, giáo dục là một hiện t-ợng khách quan; thứ hai, công tác giáo
dục đ-ợc tổ chức theo cách riêng. Về nghĩa thứ nhất, đó là, mỗi thế hệ mới khi
b-ớc vào cuộc sống đều phải tiếp xúc với hệ thống các quan hệ xã hội, chính trị-
t- t-ởng và kinh tế nhất định, đang tồn tại sẵn, độc lập với thế hệ đó. Các quan
hệ đó quyết định tính chất và điều kiện chung của sự hoạt động của thế hệ
mới bằng vô số những tác động vô hình. Tất cả những tác động đó chính là quá
trình giáo dục đang diễn ra một cách khách quan. Còn giáo dục đ-ợc tổ chức theo
cách thức riêng là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển
tinh thần, thể chất của một đối t-ợng nào đó, làm cho đối t-ợng đó dần dần có
ra không phải có ngay tri thức, muốn có tri thức thì phải có giáo dục, giáo dục chính
là ph-ơng thức để truyền lại tri thức của ng-ời đã biết cho ng-ời ch-a biết, từ thế
hệ này cho thế hệ sau, là một hiện t-ợng xã hội phổ biến của loài ng-ời. Giáo dục
là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá nền văn minh của một thời đại,
đánh giá sự tiến bộ xã hội. Con ng-ời không có giáo dục thì không thể trở thành
ng-ời theo đúng nghĩa của t ng-ời.
Thứ hai, giáo dục là phạm trù vĩnh hằng. Nó tồn tại cùng với sự tồn tại của xã
hội loài ng-ời, nh-ng nội dung giáo dục lại có tính lịch sử. Mỗi xã hội đều có một
truyền thống giáo dục với những ph-ơng thức, nội dung giáo dục nhất định do yêu
cầu xã hội, mục đích chính trị đặt ra, bị qui định bởi những điều kiện kinh
tế-xã hội, văn hoá, trình độ khoa học của dân tộc và thời đại trong những giai
đoạn lịch sử cụ thể.
Thứ ba, giáo dục và văn hoá có quan hệ chặt chẽ với nhau, chúng gắn bó
với nhau nh- hình với bóng. Văn hoá là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần
của các cá nhân và cộng đồng sáng tạo ra trong quá khứ và hiện tại. Văn hoá đ-ợc
duy trì và phát triển bằng con đ-ờng giáo dục và tự giáo dục. Giáo dục là một trong
những ph-ơng thức truyền tải văn hoá của thế hệ tr-ớc cho thế hệ sau, là nơi giữ
gìn, truyền thụ và phát huy hệ thống giá trị chung của loài ng-ời, là nền tảng của
văn hoá. Thông qua giáo dục mà tri thức loài ng-ời đ-ợc sáng tạo, con ng-ời thích
nghi nhanh với cuộc sống và từng b-ớc làm chủ tự nhiên và xã hội, cá tính sáng tạo
phát triển nhanh góp phần thúc đẩy văn hoá phát triển. Đến l-ợt mình, văn hoá phát
triển lại tạo điều kiện để phát triển giáo dục, giúp cho giáo dục thực hiện đ-ợc
mục tiêu, cải tiến nội dung ph-ơng pháp, nâng cao chất l-ợng của giáo dục. Vì vậy,
nói tới văn hoá tức là phải nói tới giáo dục. Từ khi có văn hoá, loài ng-ời bắt đầu có
giáo dục.
b, Truyền thống giáo dục và giáo dục truyền thống
Truyền thống giáo dục và giáo dục truyền thống là hai phạm trù không đồng
1.1.2.2. Hiện đại hóa giáo dục - đào tạo
* Hiện đại hoá
Theo nghĩa của từ, "hiện đại hóa" là làm cho cái gì đó mang tính chất của
thời đại ngày nay. Với ý nghĩa đó, hiện đại hóa có mặt trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội. Chẳng hạn, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân là làm cho kỹ thuật và
công nghệ sản xuất cũng như cơ cấu kinh tế đạt được trình độ tiên tiến của thời đại.
Về thực chất, hiện đại hóa là quá trình phản ánh sự vận động và phát triển của trình
độ Người, thể hiện qua tiến bộ khoa học - kỹ thuật - công nghệ trong sản xuất, trong
tổ chức, quản lí, điều hành xã hội, trong phương thức vận hành của cơ chế hoạt động xã
hội cũng như ở cách thức sống của con người, làm cơ sở cho sự phát triển cao của một
xã hội, đem lại phúc lợi xã hội ngày càng lớn. Hiện đại hóa không chỉ thể hiện ở các chỉ
số khoa học - kỹ thuật - công nghệ hay kinh tế - kỹ thuật, mà quan trọng hơn là đảm
bảo phát triển xã hội như một chỉnh thể toàn vẹn (kinh tế - xã hội, vật chất- tinh
thần). Nói một cách tổng quát, hiện đại hóa là một khái niệm có nội dung rộng lớn,
là quá trình cải biến một xã hội cổ truyền thành xã hội hiện đại, có trình độ văn minh
cao hơn, thể hiện không chỉ ở nền khoa học- công nghệ tiên tiến, nền kinh tế phát
triển cao, được tổ chức khoa học và hợp lý, mà còn ở đời sống chính trị, văn hóa, tinh
thần của xã hội.
* Hiện đại hóa giáo dục - đào tạo
Hiện đại hóa giáo dục - đào tạo là quá trình làm cho giáo dục - đào tạo mang
tính chất của thời đại ngày nay, thể hiện trong toàn bộ hoạt động giáo dục - đào tạo từ
mục tiêu đến cách thức tổ chức, nội dung, phương pháp giáo dục, phương tiện giảng
dạy, phương pháp đánh giá kết quả giảng dạy và học tập…, là quá trình trang bị cho
người học những tri thức hiện đại, bằng những phương pháp giảng dạy mới, với những
phương tiện giảng dạy tiên tiến nhằm phát triển tư duy và phát huy tính năng động sáng
tạo của người học để họ có khả năng tiếp thu và vận dụng những tri thức khoa học vào
hoạt động thực tiễn, thúc đẩy xã hội phát triển.
quá khứ để lại. Truyền thống của những người đã chết đè nặng như quả núi lên đầu
óc những người đang sống" [28, tr. 145]. Có thể nói rằng, ranh giới giữa truyền
thống và hiện đại chỉ có ý nghĩa tương đối. Cái truyền thống được nâng lên một trình
độ mới do cái hiện đại thâm nhập vào truyền thống. Truyền thống được kế thừa, đưa
vào đời sống hiện đại, nên nó cũng được hiện đại hoá. Nói cách khác, truyền thống
và hiện đại xâm nhập vào nhau, hiện đại lẫn vào truyền thống, thúc đẩy truyền thống
phát huy lên. Truyền thống in dấu ấn của mình, bóng dáng của mình lên hiện đại,
tiếp sức cho hiện đại phát triển, củng cố bền vững hiện đại. Hiện đại đi lên từ truyền
thống bao giờ cũng vững chắc. Đây là sự tác động nối tiếp nhau, liên tục theo thời
gian. Chẳng hạn, truyền thống của người lao động trong các nước NICs là tôn trọng
chính quyền, coi trọng học hành, sự hợp tác và làm việc cần mẫn… đã tồn tại hàng
bao thế kỷ và được truyền lại cho các thế hệ người lao động ngày nay, đã trở thành
một trong những giá trị vững chắc của các nước này. Chính những giá trị này cũng
đã tạo ra cho họ ưu thế để cạnh tranh với các nước khác trong xã hội hiện đại.
Cùng với quá trình hiện đại hóa các giá trị truyền thống cũng diễn ra quá
trình loại bỏ dần dần, hạn chế tác dụng và bị thay thế những truyền thống lạc hậu,
tiêu cực, kìm hãm, cản trở sự vận động và phát triển của xã hội. Đồng thời có những
truyền thống mới, yếu tố mới được hình thành, dần dần củng cố được vị trí, vai trò
của mình trong đời sống xã hội.
Quá trình hiện đại hóa bao giờ cũng đồng thời làm xuất hiện những nhân tố
mới, những điều kiện mới và sự sàng lọc những nhân tố đã có. Quá trình tiến tới cái
hiện đại là quá trình đánh giá lại và kế thừa có chọn lọc truyền thống, đồng thời các
bước phát triển của cái hiện đại sẽ củng cố, thúc đẩy và phát huy cái truyền thống.
Truyền thống và hiện đại là hai mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn biện chứng, bởi cái
hiện đại tự nó ở một mức độ nhất định và trong những trường hợp nhất định đã phủ
nhận cái truyền thống. Truyền thống và hiện đại ràng buộc, qui định lẫn nhau. Một
cái gì đó chỉ được coi là hiện đại trong quan hệ so sánh với truyền thống và ngược
mặt, truyền thống và hiện đại thích ứng, điều hòa và thúc đẩy lẫn nhau; truyền thống
là tiền đề, là cơ sở của hiện đại; hiện đại là sự kế thừa, nối tiếp của truyền thống, là
truyền thống được hiện đại hóa. Chính các giá trị truyền thống trong giáo dục - đào
tạo là ngọn nguồn cho sự phát triển giáo dục - đào tạo, là nền tảng vững chắc để
hình thành các giá trị mới, hơn thế nữa, nó có khả năng thức đẩy quá trình hiện đại
hóa giáo dục - đào tạo. Các giá trị truyền thống trong giáo dục - đào tạo cũng là cơ
sở tinh thần để ngăn chặn, hạn chế những hiện tượng tiêu cực của giáo dục - đào tạo
nảy sinh trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Đồng thời nó cũng là cơ sở quan
trọng giữ sự phát triển đúng hướng, đóng vai trò điều tiết quan hệ giao lưu văn hóa,
khoa học, giáo dục với thế giới bên ngoài, qua đó góp phần giữ vững và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc. Ngoài ra, các giá trị truyền thống trong giáo dục - đào tạo
còn tạo ra và tăng cường năng lực nội sinh, sức đề kháng của mỗi cán bộ, giáo viên,
sinh viên, mỗi nhà trường, là điểm tựa và là yếu tố nội lực cho sáng tạo của mỗi cá
nhân. Nói một cách khái quát, cái hiện đại đi lên từ cái truyền thống sẽ bền vững và
có cơ sở phát triển tốt hơn, và cái truyền thống được nối tiếp bởi cái hiện đại sẽ tạo
nên sự hiện đại hóa truyền thống, nhờ đó cái truyền thống tiếp tục được phát huy
trong điều kiện mới và khẳng định được tính trường tồn, ổn định trong sự biến đổi.
Nhưng mặt khác, yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại trong giáo dục - đào
tạo cũng có sự đối lập, xung đột với nhau, nhưng là đối lập biện chứng. Đó là có
những nhân tố trong truyền thống không còn thích ứng với xã hội hôm nay, có
những nội dung và phương pháp giáo dục - đào tạo vốn là tiến bộ, được coi trọng
trong quá khứ nay không còn phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong điều
kiện mới. Sự đối lập và xung đột còn biểu hiện ở quan điểm và thái độ của các thế
hệ hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo: thế hệ già, thế hệ đi trước thường
gắn bó nhiều hơn với truyền thống, với những gì đã trở nên ổn định và gần gũi với
họ; đồng thời, khả năng thích nghi của họ với cái hiện đại cũng bị hạn chế. Trong
khi đó, thế hệ trẻ, thế hệ đi sau lại năng động, nhạy cảm hơn, thích hướng đến cái
viên Lý Thụy của Trường Huấn luyện chính trị ở phố Văn Minh (Quảng Châu,
Trung Quốc), đã trở thành nhà giáo dục, người thầy lớn của dân tộc Việt Nam.
Người không chỉ đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp giáo dục - đào tạo, đến sự nghiệp
trồng người với quan điểm "vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm
phải trồng người" vì "dốt nát cũng là một loại giặc", "một dân tộc dốt là một dân tộc
yếu", mà còn đưa ra nhiều tư tưởng quan trọng, có tính định hướng trong việc xây
dựng và phát triển một nền giáo dục mới. Người nêu lên mục tiêu học tập là học để
làm việc, làm người, học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và
nhân loại, học không phải lấy danh, trang sức, mà mọi người Việt Nam phải hiểu
biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây
dựng nước nhà. Cho nên, theo Người, "nội dung giáo dục phải toàn diện, phong phú,
bao gồm cả tri thức về khoa học xã hội và khoa học tự nhiên, phải chú ý đầy đủ các
mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật và lao động
sản xuất" [29, tr. 253].
Hồ Chí Minh cho rằng, để đào tạo được những con người có đức có tài cần
phải có phương pháp giáo dục đúng đắn, bởi vì: "hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần
nhiều do giáo dục mà nên". Phương thức giáo dục của nhà trường phong kiến không
thể tạo ra những con người toàn diện vì nhà trường phong kiến có đặc trưng là tách
rời lao động trí óc và lao động chân tay, tách rời lý luận và thực tiễn. Nhà trường xã
hội chủ nghĩa khác với nhà trường của xã hội phong kiến ở chỗ, phương thức giáo
dục của nhà trường xã hội chủ nghĩa là "học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực
tiễn, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội". Thầy
giáo giảng dạy theo phương pháp gợi mở, nêu gương, tạo ra môi trường tốt, làm
động lực thúc đẩy học sinh phấn khởi học tập, làm cho phần tốt ở trong mỗi con
người nảy sinh như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi. Phương pháp giáo dục
như vậy mới tạo ra được những con người vừa có văn hóa, vừa có lý luận, vừa giỏi
lao động. Tuy nhiên, "giáo dục phải tiến hành từng bước vững chắc phù hợp hoàn
Chúng ta hãy xem một số nước được cộng đồng quốc tế thừa nhận là có nền
giáo dục tiên tiến, hiện đại có truyền thống giáo dục không, và nếu có, thì họ đã kết
hợp những truyền thống đó với những giá trị giáo dục hiện đại ra sao. Ở đây,
chúng tôi đề cập đến hai nền giáo dục khá điển hình là nền giáo dục Hoa Kỳ và nền
giáo dục Nhật Bản. Hy vọng rằng những kinh nghiệm của hai nền giáo dục này ít
nhiều sẽ là những bài học để chúng ta tham khảo.
1.3.1. Hoa Kỳ
Trước hết, chúng ta hãy nhìn lướt qua một chút nền giáo dục Hoa Kỳ, nền
giáo dục được thế giới đánh giá rằng đây là một trong những nền giáo dục tiên tiến
nhất của thời đại. Hoa Kỳ có một nền giáo dục đa dạng và hiệu quả. Riêng giáo
dục đại học, Hoa Kỳ đã có hơn 3.500 trường đại học, hàng ngàn trường kỹ thuật
hướng nghiệp và ngoại ngữ với gần nửa triệu sinh viên quốc tế ghi danh theo học
hàng năm, chiếm từ 20- 40% tổng số sinh viên ghi danh toàn liên bang.
So với rất nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, Hoa Kỳ có lịch
sử dựng nước, lập nước tương đối ngắn, cho đến nay mới chỉ là 230 năm. Điều đó
cũng đồng nghĩa với việc lịch sử giáo dục Hoa Kỳ là chưa dài. Nhưng điều đó lại
không đồng nghĩa với ý kiến cho rằng Hoa Kỳ không có truyền thống giáo dục. Sự
thực là trong hơn 200 năm tồn tại và phát triển, đất nước này đã hình thành được
những truyền thống giáo dục rất đáng chú ý nghiên cứu, trong đó có những giá trị
mà chúng ta nên xem xét, nên tham khảo để có thể vận dụng trong quá trình đổi
mới nền giáo dục nước ta.
Xem xét lịch sử nước Mỹ từ khi nó ra đời, có thể thấy rằng những người
sáng lập ra nước Mỹ đã rất ca ngợi và đề cao giáo dục, song các từ "giáo dục"
(education) và "học tập" (schooling) không xuất hiện trong Hiến pháp Hoa Kỳ.
Trong suốt nửa thế kỷ đầu tiên sau khi Hoa Kỳ được thành lập, ở nước này đã xuất
hiện rất nhiều loại hình giáo dục khác nhau dành cho mọi người (trừ những người
nô lệ da đen ở miền Nam). Có thể miêu tả hệ thống giáo dục Hoa Kỳ giai đoạn này
chế hoàn hảo để đẩy lùi những lo ngại trên. Chính vì vậy, khi cân nhắc khả năng sử
dụng trường học để nâng cao tinh thần, ý chí, tâm hồn của người nghèo và để
truyền bá những giá trị cộng hòa, các nhà cải cách Mỹ đã đặt trọng tâm vào các
trường học công, vào sự kiểm soát trường học công dưới thẩm quyền của bang.
Điều này có nghĩa là cơ quan nhà nước sẽ là người đưa ra những quyết định quan
trọng về tính chất của nền giáo dục Mỹ. Cũng từ đó xuất hiện cái gọi là "phong
trào giáo dục công" ở nước Mỹ. Mục tiêu của phong trào này là nhằm thúc đẩy sự
phát triển của các trường học công được ngân sách nhà nước tài trợ, đào tạo các
giáo viên, thiết lập sự hỗ trợ cũng như định hướng nhà nước đối với các hoạt động
này. Về sau, phong trào trường học công giai đoạn này ở Mỹ thường được mô tả
như là một cuộc "thập tự chinh" anh hùng chống lại các trường học Thiên chúa
giáo và trường học tư. Có thể nói, phong trào trường học công ở Mỹ đã thành công
trong cuộc "thập tự chinh" của mình: nó đã thành lập các trường học công miễn
phí, được hỗ trợ bởi ngân sách nhà nước tại từng bang, và điểm mấu chốt là các
trường học công phải là trường học không thuộc giáo phái, nhưng không nhất thiết
phải phi tôn giáo. Rất nhiều bậc phụ huynh, các nhà giáo dục và nhà lập pháp Mỹ
tin rằng trường học phải chịu trách nhiệm về sự phát triển đạo đức của học sinh và
không thể tách biệt những hoạt động dựa trên tín ngưỡng khỏi mục đích đạo đức.
Tuy nhiên, vấn đề này đã được giải quyết vào năm 1963, khi Tòa án tối cao Hoa
Kỳ hủy bỏ các đạo luật ở các bang cho phép tiến hành các nghi thức tôn giáo trong
trường học. Từ sau khi ban hành phán quyết của Tòa án này, các trường học công ở
Mỹ vừa phi tôn giáo, vừa phi giáo phái. Cũng bắt đầu từ những thập niên 1850, các
trường công ở Mỹ mọc lên nhanh chóng, còn các trường tư có sự giảm sút đáng kể.
Xu thế này kéo dài từ cuối thế kỷ XIX cho đến đầu thế kỷ XX và đến năm 1959, số
học sinh trong các trường học tư là 12,8%, năm 1969 là 9,3%. Nhưng sau thời
điểm giảm xuống đến mức thấp nhất này, vị trí của các trường tư bắt đầu ổn định
và tăng trở lại. Năm 1980, 11,5% số học sinh từ mẫu giáo đến lớp 12 đã theo học
cho sinh viên địa phương và quốc tế tiến lên đại học chuyên ngành bốn năm hoặc
cao hơn với một khoản học phí không cao lắm, nên được cộng đồng và các trường
đại học rất ủng hộ.
2. Đại học tiểu bang 4 năm.
3. Đại học đa khoa.
4. Trường hướng nghiệp.
B.
Trường dân lập (Private schools)
gồm có:
1. Đại học 2 năm hoặc 4 năm.
2. Đại học đa khoa.
3. Đại học mang màu sắc tôn giáo.
4. Đại học tư chuyên nghiệp do một cá nhân hoặc một nhóm làm chủ,
chuyên đào tạo một chuyên ngành.
Trên đây là một số đường nét nổi bật và mang tính đặc thù nhất trong lịch
sử giáo dục Hoa Kỳ. Từ lịch sử nền giáo dục Hoa Kỳ, các nhà nghiên cứu đã rút ra
những truyền thống giáo dục của Mỹ như sau:
Một là,
các gia đình chịu trách nhiệm chủ yếu đối với việc giáo dục con cái
họ. Trong thời kỳ thuộc địa cũng như phần lớn thế kỷ XIX, các gia đình đóng vai trò
quan trọng trong việc dạy dỗ con cái họ học lúc bé và sau đó quyết định gửi con họ
tới học ở trường nào.
Hai là,
hệ thống giáo dục có tính đa mô hình. Cho tới tận cuối thế kỷ thứ
XIX, trên nước Mỹ không hề có mô hình giáo dục đơn nhất nào. Trẻ em và người
lớn ở nước Mỹ đã học tập trong nhiều bối cảnh khác nhau, bao gồm những trường
học do các bà giáo đảm nhận, các trường học công, học viện, trường tư, trường học
thuộc nhà thờ, các trường học vào ngày chủ nhật, thư viện và các câu lạc bộ học
tập.
[26, tr. 684].
1.3.2. Nhật Bản
Có thể khẳng định ngay rằng giáo dục là lĩnh vực chiếm một vị trí vô cùng
quan trọng, nếu không nói là quyết định trong các nguyên nhân dẫn đến những
bước nhảy vọt kỳ diệu mà Nhật Bản đã đạt được trong tiến trình phát triển đất
nước sau cải cách Minh Trị và thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Người Nhật
đã học hỏi, đã tiếp thu những tri thức khoa học, kỹ thuật hiện đại từ các nước
phương Tây, sử dụng những tri thức ấy theo kiểu Nhật hóa một cách hiệu quả phục
vụ công cuộc hiện đại hóa đất nước, và trong vòng 100 năm đã làm được điều mà
các nước phương Tây phải mất mấy thế kỷ mới đạt được. Song điều rất đáng chú ý
là trong khi tiếp thu các giá trị, các tri thức khoa học hiện đại của các nước phương
Tây, Nhật Bản vẫn rất chú trọng đề cao các giá trị truyền thống giáo dục của
mình. Người Nhật ý thức mãnh liệt về truyền thống và văn hóa dân tộc của mình,
và trên thực tế, truyền thống đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình hiện
đại hóa đất nước Nhật Bản.
Lịch sử nền giáo dục theo hướng hiện đại hóa ở Nhật Bản bắt đầu từ việc
thành lập chính phủ Minh Trị (năm 1868). Xây dựng một hệ thống giáo dục hiện
đại của quốc gia được xem là một trong ba nội dung đổi mới của chính sách Minh
Trị duy tân. Với mục tiêu giáo dục cho tất cả mọi người, năm 1871 Chính phủ
Minh Trị đã thành lập Bộ Giáo dục và năm sau cho ban hành chính sách giáo dục
và hệ thống giáo dục quốc gia đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản. Nhân dịp này,
Chính phủ Minh Trị đã cho công bố một tuyên bố của Thiên hoàng mang tính cách
mạng, với những điểm chính như sau:
1. Từ bỏ hệ thống phong kiến và hệ thống giáo dục phân tầng của nó. Cơ
hội học tập phải được mở ra cho mọi công dân.
2. Mục đích của giáo dục nhà trường là học khoa học thực tiễn bổ ích cho
con người.