Đổi mới giáo dục đào tạo
trước hết phải đổi mới toàn diện, triệt để sự học
Trung ương nêu chủ trương đổi mới toàn diện và triệt để sự nghiệp
giáo dục đào tạo của đất nước là một đề xuất đúng đắn và kịp thời.
Nhưng xuất phát từ sự nhận thức nào về thực trạng, nguyên nhân và
phương hướng là vấn đề đang cần được suy nghĩ thống nhất mới
mong thực hiện có kết quả. Cách hiểu khác nhau sẽ có những lựa
chọn khác nhau. Là người làm nghề giáo dục hơn nửa thế kỉ, trước
khi bàn đến vấn đề đào tạo giáo viên, tôi muôn nêu suy nghĩ của
mình về thục chất yếu kém của ngành giáo dục của chúng ta và một
số phương hướng khắc phục trong điều kiện hiện tại như một bối
cảnh. Theo tôi nền giáo dục của ta kế thừa từ nền giáo dục trong hai
cuộc chiến tranh chống ngoại xâm vốn mang nặng tính thực dụng và
chắp vá, trải qua thời bao cấp với tư tưởng xã hội chủ nghĩa hẹp hòi,
bài xích các kinh nghiệm nhân loại, những người làm giáo dục lúc đó
chủ yếu kế thừa tư tưởng giáo dục của chế độ trước cách mạng tháng
Tám cộng với ít nhiều tư tưởng cách mạng vô sản. Từ đó đến nay
chúng ta chỉ cải cách theo lối vá víu, nền giáo dục chưa bao giờ được
xây dựng một cách khoa học và toàn diện thì yếu kém là sự dĩ nhiên.
Sự yếu kém ấy theo tôi, thể hiện ở hai phương diện cơ bản. Một là thể
chế giáo dục cũ kĩ và hai là trình độ thấp kém của giáo viên cùng cơ
sở vật chất thiếu thốn gần như thảm hại của ngành. Tính chất cũ kĩ
của hệ thống giáo dục biểu hiện ở những giáo điều sách vở xơ cúng,
quản lí quan liêu, vô cảm với nhu cầu học tập và đời sống của giáo
viên và cơ sở vật chất của ngành (di sản của quan niệm thời chiến
tranh, chế độ cấp phát, cơ chế xin cho, yêu cầu thắt lưng buộc bụng,
có thì cho, không thì thôi). Trong thời bao cấp trì trệ, nhân tài không
đòi hỏi bức thiết, giáo dục coi như lĩnh vực “không có vấn đề gì”,
nhiều người nhớ lại còn ngây thơ rất lấy làm tự mãn! Ngày nay xã hội
chuyển hướng kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, bằng cấp là cái cần
ốc xập xệ rách nát ở các vùng cao đã bao nhiêu năm vẫn không được
cải thiện. Mục tiêu đào tạo con người xã hội chủ nghĩa đối với xã hội
hôm nay là rất xa vời. Tư tưởng giáo dục đóng khung trong chủ nghĩa
Mác khiến ta không học tập được kinh nghiệm giáo dục tiên tiến của
nhân loại. Đãi ngộ quá thấp khiến giáo viên không tha thiết với nghề,
do chật vật bươn chải mưu sinh không còn lòng dạ để nghiên cứu bài,
soạn bài, chấm bài, trả bài cho tốt, không có động cơ để trau dồi, học
tập nâng cao trình độ, không thu hút được người giỏi vào ngành. Cơ
sở vật chất nghèo nàn, thiếu vốn tổ chức nghiên cứu khoa học không
nâng cao được trình độ. Hệ thông giáo trình cũ kĩ, lạc hậu ít thay đổi,
không cập nhật được nội dung đào tạo. Nhuận bút èo uột không ai
muốn viết giáo trình. Một giáo sư nhà giáo nhân dân nói với tôi từ
nay không viết giáo trình nữa, vì qúa thiệt. Vì vậy muốn thực sự đổi
mới giáo dục một cách căn bản và toàn diện thì bắt buộc phải làm hai
việc: 1. Thay đổi thể chế giáo dục và 2. Cải thiện đãi ngộ giáo viên và
cơ sở vật chất. Không nên quá coi trọng vấn đề chương trình và SGK
như hiện nay, bởi đó chỉ là khâu bề nổi, có ít ý nghĩa đối với cải
thiện tình hình giáo dục hiện nay. Và cho dù có đầu tư nhiều tiền cho
khâu ấy đi nữa, thì mấy thứ đó cũng không có tác dụng thay đổi giáo
dục bao nhiêu. Có sách hay mà giáo viên không có động lực dạy hay
học sinh không có động lực học tốt thì sách hay mà làm gì? Sách hay
mấy mà phương pháp dạy học cũ thì cũng vô ích, bởi vì phương pháp
hay có thể đem sách cũ dạy thành tri thức mới, còn phương pháp cũ
thì có thể đem sách mới dạy thành tư duy cũ. Vấn đề phương pháp
bao gồm phương pháp sư phạm và phương pháp bộ môn, gắn với
toàn bộ thể chế giáo dục, chứ không phải chỉ đổi thay một vài cuốn
giáo trình là giải quyết được.
Trong viễn cảnh thay đổi hai vấn đề cơ bản nói trên thì vấn đề đào
tạo giáo viên mới mong có cơ hội cải thiện. Trong nhiều vấn đề ngổn
ngang và liên quan nhau tôi xin nếu một số suy nghĩ về đạo tạo giáo
đông chỉ có một cách duy nhất là đọc chép, bắt học thuộc và các đề
kiểm tra cũng nhằm nói lại kiến thức đã học.
Hai là lấy đào tạo năng lực ngữ văn toàn diện cho người học
làm một nội dung trọng tâm, bởi đây là tố chất bắt buộc đối
với người giáo viên. Đào tạo khoa học cơ bản tất nhiên vấn là nội
dung quan trọng, cơ bản. Song việc đào tạo năng lực tiếp nhận như
nghe, đọc và năng lực biểu đạt như nói, viết vẫn hết sức quan trọng.
Quan sát trình độ của các học viên cao học, những người đã tốt
nghiệp cử nhân và đã thi tuyển cao học, thì thấy năng lực tiếp nhận
còn rất thấp và năng lực biểu đạt thì phần lớn đều viết sai ngữ pháp
và sai chính tả. Cùng với năng lực tiếp nhận và biểu đạt là năng lực tư
duy với các phẩm chất như tính linh hoạt, tính nhạy bén, tính sâu sắc,
tính độc lập, tính phê phán là không thể thiếu. Các năng lực này
được rèn luyện qua các bài dạy học thuộc các môn có chất lượng cao
và qua các loại bài tập, niên luận, khóa luận. Năng lực viết đúng ngữ
pháp và chính tả phải rèn luyện qua khâu chấm bài, trả bài thường
làm ở trung học. Nên chăng năm đầu đại học cũng cần có môn làm
văn để bổ túc và rèn luyện tiếp?
Hiển nhiên năng lực trí lực như tri thức, kí năng, năng lực quan sát, ,
hiểu, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng… cùng các năng lực phi trí lực như
ý chí, lí tưởng, nhu cầu, động cơ, tình cảm, hứng thú, khí chất, tính
cách…nói chung là năng lực làm người đều phải đào tạo cho người
giáo viên tương lai.
Ba là chuyển hướng đào tạo giáo viên theo hướng lấy người
học làm trung tâm, triệt để đổi mới phươ ng pháp dạy học đại
học và trung học. Hiển nhiên dạy học là hoạt động song hướng, bao
gồm chủ thể dạy (người thầy) và chủ thể học (người học) đều quan
trọng như nhau, nhưng xét theo tính hệ thống thì người học bao giờ
cũng là mục đích của người dạy, không có người học thì nhà trường
và thầy giáo trở nên thừa, cho nên nó là trung tâm của hoạt động giáo
của nó mà riêng ở ta thì không có. Trong điều kiện bộ môn giáo học
pháp môn ngữ văn còn non yếu như hiện nay, môn này chỉ nên dạy
các tư tưởng và thao tác sư phạm chung, còn nội dung phương pháp
dạy học cụ thể như dạy văn học dân gian, văn học trung đại, văn học
hiện đại, văn học nước ngoài, lí luận văn học thì chuyển sang cho các
bộ môn tương ứng, bởi chỉ có giảng viên các môn ấy mới biết hướng
dẫn sinh viên dạy học môn ấy như thế nào, các giảng viên phương
pháp dạy học hiện nay khó mà kham được. Nếu cứ kham thì chỉ làm
hại sinh viên mà thôi. Bộ môn giáo học pháp cần thay đổi triệt để.
Giáo án của giáo viên là giáo án dạy cách học cho học sinh chứ không
phải kế hoạch diễn giảng của thầy ở trên lớp. Lối dạy biểu diễn cho
học sinh xem vẫn đang là một mô hình có hại, tiếc thay nay vẫn có
nhiều người theo.
Năm là đổi mới toàn diện môi trường sư phạm. Người ta chỉ
thích học khi nào sự học tập đem lại hứng thú, niềm vui, nhận thức
mới, sự tự tin, tự tôn, tự hào. Đổi mới môi trường sư phạm là một yêu
cầu bức thiết. Các yếu tố của môi trường đó là người thầy, các phương
tiện học tập, thư viện, các chính sách, đãi ngộ đối với ngành.
Người thầy hấp dẫn ở tài năng, tri thức và kinh nghiệm của họ. Muốn
có các phẩm chất đó người giảng viên, giáo viên phải thuộc loại hình
học tập và tu dưỡng suốt đời. Muốn giảng viên đại học duy trì mình là
người thuộc loại hình học tập thì phải có kinh phí cho họ nghiên cứu
khoa học hàng năm, viết giáo trình, sách chuyên khảo, có nhuận bút
xứng đáng. Thực trạng hiện nay số giảng viên tham gia nghiên cứu
khoa học ngày càng ít. Học hàm giáo sư phó giáo sư cũng không còn
hấp dẫn. Việc viết báo, viết giáo trình không đặt thành yêu cầu bắt
buộc. Nhà nước có lẽ tính toán chưa tới nơi khi coi ngành sư phạm
không có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cơ bản, tách bạch khoa học
cơ bản với khoa học giáo dục, đầu tư rất ít cho các hoạt động này. Ở
các nước tiên tiến các giáo trình thường xuyên được viết lại, đổi thay
có thể đào tạo ở trong nước bằng cách lập các trạm Hậu tiến sĩ, cho
các tiến sĩ ngữ văn nghệ các giảng viên đầu ngành ở trong nước hoặc
mời các giáo sư đầu nhành nước ngoài vào giảng các chuyên đề mới.
Cuối đợt học lại cấp chứng chỉ. Cách thứ hai là có chế độ thực tập sau
tiến sĩ, cho các tiến sĩ mới được bảo vệ được đi thực tập vài năm ở các
nước tiên tiến. Họ sẽ có cơ hội trau giồi thêm ngoại ngữ, làm quen với
các nhà chuyên môn nước ngoài. Có nâng trình độ ngoại ngữ của họ
lên thì mới mong họ nghiên cứu khoa học và viết được nhiều bài báo
bằng tiếng nước ngoài đăng ở tạp chí uy tín quốc tế. Với trình độ tự
học ngoại ngữ trong nước nói chung không ai có trình độ viets bào
đăng được ở tạp chí nước ngoài. Trình độ nghiên cứu khoa học ở nước
ta thấp, đại học ta có thứ hạng thấp, theo tôi chủ yếu là do nhà nước
ta thiếu chế độ đào tạo thích đáng đối với tầng lớp hậu tiến sĩ. Chỉ tốn
tiền cho họ học vài năm mà sử dụng nhân tài chất lượng cao suốt cả
cả đời họ tại sao ta lại không làm? Vấn đề đãi ngộ nhiều người đã nói
xin phép không nhắc lại.
Đổi mới toàn diện và triệt để nền giáo dục quốc gia là chủ trương lớn
của Đảng và nhà nước. Cuộc đổi mới này không phải là phong trào
nhất thời, mà phải là một quá trình, có nhiều bước dài lâu. Thực chất
cuộc đổi mới đó trước hết là đổi mới sự học, thể hiện trong chương
trình, giáo trình, quản lí, chính sách đối với đào tạo giáo viên. Thực
hiện được khát vọng đó không chỉ đòi hỏi hiểu đúng chỗ yếu kém của
ngành, lịch sử của nó, có kế hoạch phù hợp, mà còn phải thay đổi nếp
nghĩ, nếp tư duy của bản thân lãnh đạo các cấp, tức là phải có chính
sách, chủ trương cụ thể, thiết thực, tránh đầu voi đuôi chuột, thích
nói to mà làm bé, ngại đầu tư, như thế sẽ làm thất vọng lớn cho toàn
thể quốc dân.