ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VÕ THỊ THU
DẤU ẤN CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NHÀ VĂN THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Dục Tú
Hà Nội-2013 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………… 1
1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………….1
2. Lịch sử vấn đề………………………………………………………… 2
TÀI LIỆU THAM KHẢO MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Chủ nghĩa hậu hiện đại (post modernism) là khái niệm đang ngày càng
phổ biến trên toàn thế giới. Như một sự phản biện chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hậu
hiện đại xuất hiện từ nửa sau thế kỷ XX ở châu Âu với tư cách là một trào lưu văn
hóa và xác lập một hệ chuẩn tư duy mới trên nhiều lĩnh vực: triết học, văn hóa, giáo
dục, văn chương, hội họa, âm nhạc… Được sản sinh và phát triển trên mảnh đất Âu
Mĩ, chủ nghĩa hậu hiện đại đã chứng tỏ tính ưu việt của nó khi xâm nhập vào các
nước phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… rồi ngày càng lan rộng
khắp thế giới. Có thể nói, trong hơn 50 năm qua, chủ nghĩa hậu hiện đại đã trở thành
“tài sản chung” của nhân loại. Nó thẩm thấu rất sâu vào nếp nghĩ, nếp cảm, nếp sống
của các quốc gia, các dân tộc và vẫn đang được tái tạo liên tục, phản biện liên tục.
Trên lĩnh vực văn học, Chủ nghĩa hậu hiện đại trở thành một trào lưu phát triển
mạnh mẽ với các tên tuổi lớn như Umberto Eco, Louis Borge, Italo Calvino…, nó
đem lại hương sắc mới, sự cách tân mới mẻ trên các phương diện nội dung và hình
thức.
1.2 Trong bối cảnh hội nhập thế giới trên nhiều mặt, đặc biệt về văn hóa, văn
học Việt Nam đã và đang có những chuyển động để hòa nhập với không khí chung
này như một vận động tất yếu của sự phát triển. Hành trình này buộc văn học Việt
Nam có nhu cầu và phải học hỏi những kinh nghiệm nghệ thuật mới của nhân loại
để tồn tại và phát triển. Không khí dân chủ càng tạo điều kiện thuận lợi cho việc học
hỏi, tìm tòi và tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, trong đó có Chủ nghĩa hậu
hiện đại. Chủ nghĩa hậu hiện đại cũng được coi là một trong những công cụ để góp
phần giải mã những quy luật vận động của những hiện tượng văn học Việt Nam
đương đại.
1.3 Cùng với những tên tuổi khác, Thuận thuộc vào bộ phận thế hệ nhà văn
mới, giàu tiềm năng sáng tạo, dồi dào bút lực và sẵn sàng chịu mạo hiểm để cách
thiệu của tác giả: Cuốn sách bước đầu giới thiệu với bạn đọc Việt Nam về chủ
nghĩa hậu hiện đại trong văn học thế giới, tập hợp những bài viết của các tác giả
trong và ngoài nước đề cập đến các khía cạnh lý thuyết của một trào lưu rộng lớn
và có ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống văn nghệ thế giới ngày nay” [60;5]. Nhà
xuất bản Hội nhà văn và Trung tâm Văn hóa Đông Tây cũng in kèm tuyển tập
Truyện ngắn hậu hiện đại thế giới (Lê Huy Bắc tuyển chọn) với mục đích giới
thiệu với bạn đọc thực tiễn sáng tác để kiểm chứng lý thuyết.
Giáo trình Lý luận văn học – tập 3, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội ấn hành
(2006) của tập thể tác giả Phương Lựu, La Khắc Hòa, Trần Mạnh Tiến cũng dành
một chương để nói về chủ nghĩa hậu hiện đại. Bên cạnh việc giới thiệu sự ra đời
của chủ nghĩa hậu hiện đại, các tác giả còn tập trung làm rõ sự khác biệt của chủ
nghĩa hậu hiện đại và hiện đại, đồng thời chỉ ra một số đặc trưng cơ bản của phòng
trào sáng tác hấp dẫn và mới mẻ này.
Ở hải ngoại, trên Tạp chí Thơ, có một số bản dịch của Phan Tấn Hải như
Giới thiệu thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ của Paul Hoover (số 11/1997); Chủ nghĩa
hậu hiện đại và văn chương của Steven Connor (số 12/1998); Giới thiệu tiểu
thuyết hậu hiện đại Hoa Kỳ trích từ cuốn Postmodern American Fiction: A
Norton Anthology (số 14/1998). Trên tạp chí Việt số 5 (đầu năm 2000), có bài tiểu
luận Viết, từ hiện đại đến hậu hiện đại của Hoàng Ngọc Tuấn.
Cũng ở Hoa Kỳ, cuốn Văn học Việt Nam, từ điểm nhìn hiện đại (NXB Văn
nghệ, 2000) của nhà nghiên cứu Nguyễn Hưng Quốc và cuốn Văn học hiện đại và
hậu hiện đại qua thực tiễn sàng tác và góc nhìn lý thuyết (NXB Văn nghệ, 2002)
của nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Tuấn đã đưa ra những ý kiến sắc sảo và những
kiến giải độc đáo về chủ nghĩa hậu hiện đại và văn chương thế giới cũng như Việt
Nam. Theo Nguyễn Hưng Quốc, chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam sẽ gồm ba nội
dung chính: một, tiếp nhận chủ nghĩa hiện đại vừa như một khuynh hướng bản địa
được hình thành qua các nỗ lực sáng tạo của giới cầm bút trong nước vừa như một
di sản văn hóa của thế giới; hai, phản bác những nguyên tắc nhận thức và thẩm mỹ
của (những) chủ nghĩa hiện đại ấy; cuối cùng, phản bác của thái độ cực đoan và duy
lý trong chính sự phản bác ấy. Nói cách khác, chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam, nếu
tâm điểm là một trong những đặc điểm nổi bật của văn chương hậu hiện đại.
Không còn cố tình làm độc giả chìm đắm vào cái thế giới hư cấu của tác phẩm, nhà
văn đặt người đọc vào một vị trí khách quan và tỉnh táo để nhìn thấy tác phẩm như
một văn bản đúng nghĩa, một tác phẩm nghệ thuật hư cấu, như một trò chơi tự trình
bày cách chơi của nó và mời gọi người đọc tham dự vào trò chơi ấy”. Là một
người có nhiều năm nghiên cứu về văn học Việt Nam, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc
Tuấn dự đoán: “Tôi tin chắc rằng chẳng bao lâu nữa lối viết hậu hiện đại sẽ trở nên
phổ biến ở Việt Nam”. Tác giả đã rất lạc quan khi “thấy có vài nhà văn Việt Nam
đã sử dụng một số kỹ thuật viết hậu hiện đại, chẳng hạn kỹ thuật “nhại văn”, lối
viết đa tuyến, phi tuyến, hiện thực kỳ ảo, vv và vv…”. Tuy nhiên, theo ông, những
truyện ấy chưa thực sự là truyện hậu hiện đại, vì chưa thực sự chuyên chở cái cảm
quan hậu hiện đại (…). “Các nhà văn Việt Nam sống ở nước ngoài có cơ hội thuận
lợi hơn để tiếp nhận cái cảm quan hậu hiện đại vì họ sống ngay trong xã hội hậu
hiện đại. Tuy thế, vẫn còn rất ít trong số họ thực sự có lối viết hậu hiện đại” [58].
Trên trang điện tử www.tienve.org, tác giả Lê Chí Dũng đã viết bài Phải
chăng “chẳng bao lâu nữa lối viết hậu hiện đại sẽ trở nên phổ biến ở Việt Nam”
như một sự phản biện, đối thoại với ý kiến của nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Tuấn
trên đây. Ông nói: “Chủ nghĩa hậu hiện đại với tư cách là một trào lưu văn học,
không có tiền đồ ở Việt Nam” [17]. Ngay sau đó, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc
Tuấn đã trả lời Lê Chí Dũng bằng bài Chủ nghĩa hậu hiện đại có đáng sợ đến thế
không?: Tôi chỉ tiên đoán rằng lối viết hậu hiện đại sẽ ngày càng được sử dụng ở
Việt Nam dù kết quả sẽ là những tác phẩm không nhất thiết sẽ mang tinh thần hậu
hiện đại thực sự (…). Tôi không bao giờ có hàm ý rằng chẳng bao lâu nữa xã hội
hậu hiện đại sẽ hiện hữu ở Việt Nam (…). Tôi cũng không cho rằng chỉ đến lúc
con người Việt Nam có cảm thức hậu hiện đại, hay đến lúc đất nước Việt Nam đã
là một cơ sở xã hội – tâm lý hậu hiện đại, thì lối viết hậu hiện đại mới trở nên phổ
biến (…). Nhà văn Việt Nam có thể bắt chước, vay mượn, hay sử dụng những lối
viết từ nước ngoài mà không cần phải đợi đến khi đất nước Việt Nam có những
điều kiện xã hội như ở nước ngoài” [91].
Trên báo điện tử www.vietnamnet.vn ngày 17/8/2006 có đăng tải bài viết Chủ
nó là một vấn đề quá phức tạp. Dù phản đối hay đồng tình, họ đều thừa nhận thực tế:
Hậu hiện đại là khuynh hướng lớn trên thế giới, các yếu tố hậu hiện đại cũng đã bắt
đầu xuất hiện ở văn học Việt Nam trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị
Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Thuận… Những
tài liệu trên đây đã cung cấp cho chúng tôi những cơ sở lý luận quan trọng khi khái
quát các đặc điểm tiểu thuyết mang dấu ấn chủ nghĩa hậu hiện đại của nhà văn Thuận
– đối tượng chính của luận văn này. Ở trong luận văn này, chúng tôi không tham vọng
soi chiếu tất cả các yếu tố trong chủ nghĩa hậu hiện đại, “ép khung” vào sáng tác của
Thuận mà sẽ xác lập một cách hiểu tinh thần cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại và lấy
việc khảo sát tác phẩm cụ thể của nhà văn để tìm hiểu điểm giao nhau giữa lý luận và
thực tiễn sáng tác.
2.2 Những bài viết đánh giá về tiểu thuyết của Thuận
2.2.1 Về Thuận và các sáng tác của Thuận
Nhà văn Thuận (tên thật là Đoàn Ánh Thuận) là một tác giả trẻ, sống định cư
tại Pháp. Tâm sự với độc giả gần đây trên báo Tuổi trẻ, ngày 24/10/2012, Thuận nói:
“Khi đã 26 tuổi, gần mười năm xa Việt Nam, tôi mới bắt đầu viết. Không để giãi bày
hay để tâm sự chuyện đời mà để phục vụ nhu cầu tưởng tượng, nhu cầu đi xa khỏi bản
thân. Sau đó là tìm những lối viết khác. Mới đầu tôi viết truyện ngắn. Nhưng thể loại
này nhanh chóng tạo cho tôi cảm giác chật chội và dễ dãi. Tuy vậy, phải đợi năm năm
sau thì Made in Vietnam mới có thể thành hiện thực. Tiểu thuyết là một cuộc phiêu
lưu và như mọi cuộc phiêu lưu, nó cần năng lượng và lòng dũng cảm” [102].
Người đọc biết đến cái tên rất gọn ghẽ - Thuận – qua một loạt các tiểu thuyết
được viết bởi một âm hưởng, giọng điệu và cấu trúc lạ. Không phải ngay từ đầu, cái
tên này đã được chú ý. Cho đến khi những Chinatown, Paris 11 tháng 8 nối tiếp nhau
chào đời, đặc biệt là khi Paris 11 tháng 8 được nhận tặng thưởng của Hội nhà văn
Việt Nam (2006), thì người đọc mới đổ xô ngược dòng tìm đọc Made in Vietnam với
tâm lý háo hức, ngóng chờ. Rồi khi T mất tích, VânVy xuất hiện, cái tên Thuận đã là
một danh từ riêng không còn xa lạ với những ai quan tâm đến thời sự văn học Việt
Nam đương đại.
Và gần đây nhất, tháng 3/2013, Thuận vừa trở về Việt Nam tham dự buổi tọa
văn hoá trong nước, hoà nhập với những vấn đề của văn học Việt Nam, nhưng vẫn
giữ cho mình một cách quan sát “người bên ngoài” cả ưu và nhược điểm của nó”
[26;21]. Từ đặc điểm này, nhà văn hải ngoại có thể khách quan nhìn nhận, đánh giá
đối tượng qua lăng kính đa chiều, đa diện. Hơn hai thập kỷ sống xa Việt Nam,
Thuận đã sống cuộc sống của một “người xa xứ”, một nhà văn xa xứ, như cách nói
trong bài viết Dòng chảy trầm của văn học xa xứ trên báo Người lao động, số ra
ngày 1/11/2007 là với “cách nhìn nhận cuộc sống già dặn, triết lý và ước vọng kiếm
tìm những giá trị nhân sinh tiềm ẩn trong dòng chảy vô biên của cuộc đời”.
2.2.2 Những bài viết nghiên cứu về sáng tác của Thuận
Thuận là tác giả đương đại có nhiều tìm tòi đổi mới, tuy nhiên việc nghiên cứu
và tìm hiểu về Thuận cũng như các sáng tác của cô chưa nhiều và tính hệ thống chưa
cao.
Cuốn tiểu thuyết đầu tiên chính thức ra mắt ở Việt Nam – Chinatown - của
Thuận, đã phần nào kích thích thị hiếu thẩm mỹ của bạn đọc. Trong lời giới thiệu in
trên bìa cuốn tiểu thuyết, Dương Tường khẳng định có dấu ấn hậu hiện đại trong tác
phẩm này: “Ngổn ngang và tung tóe như những mảnh vỡ của một trò chơi ghép
hình, không chương hồi liền mạch suốt 200 trang sách, bề bộn những suy ngẫm,
hình tượng, chi tiết nhấn đi nhấn lại bất tận thành ám ảnh, như lưỡi dao cùn nhay
mãi không dứt, như cái đĩa hát cũ bị vấp rãnh, cuốn sách đậm đặc như một thứ
humour xót xa và không thiếu những yếu tố mà giờ đây người ta gọi là hậu hiện đại
này nhiều lúc làm tôi như nhập đồng” [106].
Trong bài viết Đôi nét về kết cấu và thi pháp của Chinatown trên
evan.com.vn, không như Dương Tường – khẳng định có dấu ấn của hậu hiện đại -
Hoàng Nguyễn không một lần nhắc đến cụm từ “hậu hiện đại” nhưng tác giả đã tìm
hiểu thi pháp hư cấu và kết cấu của tác phẩm dưới cái nhìn hậu hiện đại. Theo đó,
Hoàng Nguyễn cho rằng: Thuận đã sử dụng “kỹ thuật collage (cắt ráp) các chi tiết hư
cấu và phi hư cấu, thật và không thật của Thuận đầy tinh xảo và kết quả là tạo nên
một bức tranh ghép gần như không có đường nối và người đọc phải kiên nhẫn đọc
thật kỹ, so sánh với tiểu sử tác giả, những tác phẩm khác của tác giả mới có thể phân
biệt được đâu là yếu tố phi hư cấu, đâu là yếu tố hư cấu” [57]. Hoàng Nguyễn cũng đã
3. Mục đích nghiên cứu
3.1 Tìm hiểu sơ lược về chủ nghĩa hậu hiện đại làm cơ sở tham chiếu để tiếp
cận với văn học Việt Nam đương đại.
3.2 Nhận diện những yếu tố của chủ nghĩa hậu hiện đại trong sáng tác của nhà
văn Thuận.
4. Phạm vi nghiên cứu
Trong các tiểu thuyết mà chúng tôi đã có dịp trình bày qua ở trên, ngoài
Chinatown, Paris 11 tháng 8, T mất tích, VânVy - những tác phẩm đã được in ấn,
xuất bản và giới thiệu tại Việt Nam - còn có Made in Vietnam- đứa con đầu lòng
được xuất bản tại Văn Mới, Califonia, Hoa Kỳ (tháng 5/2003). Do điều kiện không
cho phép, chúng tôi không có trong tay đầy đủ văn bản tác phẩm này, chỉ có một trích
đoạn ngắn trích nguồn từ www.tienve.org. Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi chỉ
tiến hành nghiên cứu dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Thuận ở bốn tác phẩm
được nhắc đến ở trên.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn của chúng tôi sử dụng các phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp so sánh
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần MỞ ĐẦU và KẾT LUẬN, nội dung chính của luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Khái lược về Hậu hiện đại – dấu ấn hậu hiện đại trong văn
chương Việt Nam
Chương 2: Tiểu thuyết của Thuận – Sự thay đổi khung tự sự truyền thống
Chương 3: Tiểu thuyết của Thuận – Sự phức hợp thể loại
trong các xã hội phát triển nhất” và hai là “sự không tin vào các siêu tự sự”.
Năm 1939, thuật ngữ này được sử dụng bởi Arnold Toynbee. Năm 1942,
thuật ngữ này lại xuất hiện trong công trình Hợp tuyển thơ ca Mỹ La tinh đương
đại của Dudley Fits. Năm 1959, nhà phê bình văn học Irving Howe được coi là
một trong những người đầu tiên đưa ra quan niệm về sự chuyển tiếp từ chủ nghĩa
hiện đại sang chủ nghĩa hậu hiện đại trong bài tiểu luận Xã hội đại chúng và tiểu
thuyết hậu hiện đại. Từ đó, thuật ngữ hậu hiện đại được sử dụng rộng rãi trong các
lĩnh vực khoa học và đời sống xã hội. Trong văn chương, nhiều nghệ sĩ, nhà văn,
nhà phê bình như Rauschenberg, Cage, Buroughs, Barthelme, Fielder, Hassan,
Sontag dùng thuật ngữ này để chỉ trích sự cạn kiệt của chủ nghĩa hiện đại và mô tả
những khuynh hướng nghệ thuật đang hình thành và muốn vượt qua những giới
hạn của luận thuyết này. Đến đầu những năm 70 của thế kỷ 20, khuynh hướng hậu
hiện đại ảnh hưởng rộng hơn, được giới trí thức đại học như Bell, Kristevia,
Lyotard, Derrida, Foucault, Jameson đem ra bàn luận và được thừa nhận như một
hiện tượng đặc thù của văn hóa phương Tây.
Trong khi trên lĩnh vực lý luận, kể cả triết học, mỹ học và phê bình văn học,
chủ nghĩa hậu hiện đại vẫn còn đang gây nhiều tranh cãi thì trên phương diện thực
tiễn, chủ nghĩa hậu hiện đại đã thẩm thấu rất sâu trong đời sống và trở thành một
hiện tượng văn hóa mang tính toàn cầu. Hiện nay, chủ nghĩa hậu hiện đại không
chỉ giới hạn trong phạm vi văn học nghệ thuật mà đã trở thành một cách tư duy,
một thái độ ứng xử thịnh hành ở các xã hội phát triển và đang phát triển.
Với sự khái lược trên đây, có thể thấy, thoạt đầu chủ nghĩa hậu hiện đại xuất
hiện tại Hoa Kỳ vừa như một hiện tượng văn học nghệ thuật vừa như một ý thức
văn hóa trong thời đại hậu kỹ nghệ. Sau đó, giới đại học tại Pháp nâng lên thành lý
thuyết và trở lại ảnh hưởng đến đời sống sáng tác và học thuật Hoa Kỳ. Trào lưu
này đã kết hợp khá hài hòa với các trào lưu đương đại khác trong văn học Hoa Kỳ
như hậu cấu trúc luận, nữ quyền luận, hậu thực dân luận. Cũng từ đó, chủ nghĩa
hậu hiện đại lan rộng sang các nước châu Âu, Úc, Mỹ La tinh và các quốc gia châu
Á (chủ yếu là Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc).
Hiểu theo nghĩa rộng, chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện sau chủ nghĩa hiện
với đồng tính, trắng với đen, đế quốc với thực dân. Chủ nghĩa hậu hiện đại đã ảnh
hưởng tới nhiều lĩnh vực văn hóa, bao gồm cả phê bình văn học, xã hội học, ngôn
ngữ học, kiến trúc, nghệ thuật thị giác, và âm nhạc.
Tư tưởng hậu hiện đại là sự giải thoát có chủ ý từ những cách tiếp cận của
chủ nghĩa hiện đại đã thống trị trước đó. Thuật ngữ “hậu hiện đại” bắt nguồn từ sự
phê phán tư tưởng khoa học về tính khách quan và tiến bộ gắn liền với sự khai
sáng của chủ nghĩa hiện đại.
1.1.2 Các tư tưởng cơ bản và đặc điểm sáng tác hậu hiện đại trong văn chương
Để tìm hiểu về chủ nghĩa hậu hiện đại, chúng tôi lấy chủ nghĩa hiện đại làm
mốc quy chiếu để “soi rõ”.
1.1.2.1 Sơ lược về chủ nghĩa hiện đại
Ib.Hassan coi chủ nghĩa hiện đại là một thứ chủ nghĩa hiện đại muộn, hay
còn gọi là chủ nghĩa hiện đại hậu kỳ. Jean Francois Lyotard coi nó là đỉnh cao của chủ
nghĩa hiện đại, là “cơn kịch phát của cái hiện đại”. Dù còn nhiều ý kiến tranh cãi về
mối quan hệ giữa hai khái niệm này nhưng các nhà phê bình, nghiên cứu trên thế giới
đều khẳng định giữa chúng có nhiều điểm tương đồng nhưng không ít khác biệt.
Thời hiện đại gắn liền với các tên tuổi lớn của triết học phương Tây như
Kant, Hegel, Jean Jacques Rousseau, Sigmun Freud, Karl Max,… Chủ nghĩa hiện
đại nhấn mạnh tính duy lý và quá trình hợp lý hóa để tạo nên trật tự từ sự hỗn độn.
Chủ nghĩa hiện đại tin vào sự tiến bộ của con người nhờ tri thức, do vậy, luôn cố
gắng phá vỡ những hệ giá trị cũ, xây dựng nên những giá trị mới với hi vọng sẽ tạo
nên một nền văn hóa cao cấp, hoàn chỉnh cho nhân loại. Nền văn hóa đó đối lập
với văn hóa bình dân vốn giản đơn và dung tục. Với niềm tin vào chân lý, vào sự
thật như là cái đúng, cái tốt đẹp, chủ nghĩa hiện đại luôn tìm sự thống nhất trong
mọi yếu tố, sắp xếp các yếu tố thành một cấu trúc vững bền và quy nó vào một
trung tâm. Đó cũng là thời kỳ mà người ta luôn hướng tới tương lai, cổ vũ cho các
cuộc cách mạng cả xã hội lẫn tri thức, muốn phủ định và phản kháng cái cũ với
niềm tin sẽ lập được trật tự ổn định cho toàn thế giới. Con người hiện đại luôn
muốn đứng ở vị trí bên ngoài, bên trên thế giới hỗn mang để làm chủ và điều chỉnh
nó theo những lý tưởng nhất định.
Thứ tự
Hỗn loạn
Thông thạo/Ngôn từ (Điều
khiển/biểu trưng)
Cạn kiệt/im lặng
Đối tượng nghệ thuật/tác phẩm
hoàn chỉnh
Quá trình/trình diễn/đang diễn ra
Khoảng cách, gián cách
Tham dự vào
Sáng tạo/chỉnh thể hóa
Phá bỏ sáng tạo/giải cấu trúc
Hiện diện
Vắng mặt
Trung tâm
Phân tán
Thể loại, ranh giới
Văn bản, liên văn bản
Ngữ nghĩa học
Tu từ học
Hệ hình
Ngữ đoạn, cú pháp
Quan hệ phụ thuộc (câu chính
phụ)
Quan hệ đẳng lập (câu đẳng lập)
Ẩn dụ
Hoán dụ
Chọn lựa
Kết hợp
Gốc rễ, chiều sâu
1.1.2.2 Các tư tưởng và đặc điểm cơ bản của văn chương hậu hiện đại
Khác với thời kỳ hiện đại và chủ nghĩa hiện đại, thời kỳ hậu hiện đại
(postmodernity) và chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism) xuất hiện hầu như đồng thời.
Tùy mức độ và phạm vi ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại đến từng
quốc gia, từng lĩnh vực của đời sống mà biểu hiện của các khái niệm trong khuynh
hướng hậu hiện đại khác nhau. Chủ nghĩa hậu hiện đại vẫn còn đang vận động,
không đóng khung, gò bó vào bất cứ một hệ thống hay lý thuyết nào, tuy nhiên, để
dễ mường tượng, chúng tôi xin giới thiệu một số khái niệm, thuật ngữ có liên quan
trực tiếp đến đề tài Luận văn:
- Bất tín nhận thức (Epistermological Uncertainty)
Đây được coi là “một phạm trù thế giới quan tiêu biểu nhất cho ý thức hậu
hiện đại” [60]. Sự nảy sinh phạm trù này gắn với quá trình khủng hoảng niềm tin
vào tất cả những giá trị tồn tại trước đó. Để xác định tính hoài nghi đối với nhận
thức trong ý thức hậu hiện đại, nhà nghiên cứu văn học người Anh Ch.Brooke –
Rose cho rằng, do sự hoài nghi vào khả năng nhận thức của con người ngày càng
phổ biến, tính lịch sử của nhận thức đã không thể với tới được cách biểu hiện hiện
đại được xác định bởi cả tình trạng chính trị xã hội của xã hội đương thời, lẫn
những quan niệm được hình thành trong lịch sử. Nói cách khác, tư tưởng hậu hiện
đại đã đi đến kết luận rằng tất cả những gì được coi là hiện thực, trên thực tế không
phải là cái gì khác hơn chính sự hình dung về nó, sự hình dung vốn phụ thuộc vào
việc người quan sát lựa chọn điểm nhìn nào và sự thay đổi điểm nhìn dẫn tới sự
thay đổi cơ bản chính sự hình dung đó. Do vậy, sự tiếp nhận của con người buộc
phải “đa viễn cảnh”, luôn luôn thấy những dạng thức biến đổi và thực tại trong sự
thay đổi chớp nhoáng ấy không cho con người cái khả năng nắm bắt bản chất của
nó, những quy luât và những dấu hiệu cơ bản của nó.
- Đại tự sự (Grand - narratives) – Tiểu tự sự (Little - narratives)
Đây là khái niệm do Jean Francois Lyotard đưa ra trong cuốn sách nổi tiếng
La Condition Postmoderne (Điều kiện hậu hiện đại) xuất bản ở Paris năm 1979.
Lyotard dùng nhóm từ này để chỉ những hệ thống ý thức chủ đạo chi phối mọi hoạt
động của con người trong những thời đại khác nhau. Đại tự sự có thể là những câu