ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
VÕ THỊ THU
DẤU ẤN CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NHÀ VĂN THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
VÕ THỊ THU
DẤU ẤN CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NHÀ VĂN THUẬN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Dục Tú
Hà Nội-2013
1.2.2 Dấu hiệu hậu hiện đại trong đời sống văn chƣơng Việt Nam đƣơng
đại….. 31 Chƣơng 2: TIỂU THUYẾT CỦA THUẬN – SỰ THAY ĐỔI KHUNG TỰ
SỰ TRUYỀN THỐNG…………………………………………………………..… 39
2.1 Cốt truyện phân rã…….…………………………………………….. 39
2.1.1 Cốt truyện mảnh vỡ……….……………………………………….. 39
2.1.2 Cốt truyện “mất tích” ……………………………………………. 46
2.2 Nhân vật – truy tìm bản thể ý nghĩa cá nhân ………………….…...50
2.2.1 Cái tôi cô đơn giữa hiện thực thậm phồn……………………………..50
2.2.2 Nhân vật – phi nhân vật…………………………………………. .56
Chƣơng 3: TIỂU THUYẾT CỦA THUẬN – NHẠI VĂN VÀ PHỨC HỢP THỂ
LOẠI……………………………………………………………………………. 66
3.1 Nhại văn………………………………………………………………..66
3.1.1 Nhại tự truyện của Duras……………………………………….....66
3.1.2 Nhại tiểu thuyết trinh thám……………………………………….. 73
3.2 Phức hợp thể loại……………………………………………………..81
3.2.1 Tiểu thuyết trong tiểu thuyết………………………………………. 81
3.2.2 Báo chí trong tiểu thuyết…………………………………………..86
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
1.1 Chủ nghĩa hậu hiện đại (post modernism) là khái niệm đang ngày càng phổ
một cây bút dũng cảm và quyết liệt trong việc làm mới văn chương cũng như làm
mới chính mình. Bằng chính những nỗ lực cách tân về kỹ thuật tự sự, quan niệm
nghệ thuật mới mẻ về con người và cuộc đời, Thuận dã dần định hình cho mình
một phong cách tiểu thuyết ấn tượng. Cho dù cô chưa bao giờ tuyên ngôn mình
viết theo trào lưu hay chủ nghĩa nào, nhưng rõ ràng, với những gì cô thể hiện trong
tác phẩm của mình, Thuận đã xuất hiện với tư cách là một nhà văn hậu hiện đại.
Xuất phát từ mong muốn bước đầu tìm hiểu về chủ nghĩa hậu hiện đại và
những dấu ấn của nó thể hiện qua các sáng tác của Thuận, để nhằm nhận diện một
trào lưu lớn đang góp phần làm biến đổi diện mạo Văn học Việt Nam đương đại,
chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài Dấu ấn chủ nghĩa hậu hiện đại trong tiểu thuyết
của nhà văn Thuận.
2.
Lịch sử vấn đề
2.1 Về tình hình dịch thuật và nghiên cứu chủ nghĩa hậu hiện đại
Tại Việt Nam, thuật ngữ “hậu hiện đại” lần đầu tiên xuất hiện trong bản dịch
của Nguyễn Trung Đức đăng trên Tạp chí Văn học số 5, năm 1991 có tên là Vài
suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại của Antonio Blach.
Sau đó, các tạp chí Văn học, Nhà văn, Văn học nước ngoài, Thông tin Khoa
học xã hội đã in một số bài giới thiệu hoặc dịch thuật về Chủ nghĩa hậu hiện đại.
Có thể kể đến như Sự suy tàn của phong trào tiền phong nghệ thuật hậu hiện
đại (tác giả Luc Ferry, Tạp chí khoa học xã hội, số 2/1995, dịch giả Nguyễn Văn
Dân);
Về chủ nghĩa hậu hiện đại (John Verhaar, tạp chí Văn học, số 5/1997); Chủ
nghĩa hậu hiện đại cuả tác giả Phương Lựu trên tạp chí Nhà văn số 7/2000… Năm
2003, Nhà xuất bản Hội nhà văn và Trung tâm Văn hóa Đông Tây tập hợp và tuyển
chọn các bản dịch và bài nghiên cứu của các dịch giả và tác giả trong nước cũng
chính: một, tiếp nhận chủ nghĩa hiện đại vừa như một khuynh hướng bản địa được
hình thành qua các nỗ lực sáng tạo của giới cầm bút trong nước vừa như một di sản
văn hóa của thế giới; hai, phản bác những nguyên tắc nhận thức và thẩm mỹ của
(những) chủ nghĩa hiện đại ấy; cuối cùng, phản bác của thái độ cực đoan và duy lý
trong chính sự phản bác ấy. Nói cách khác, chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam, nếu
có, chỉ là một kết hợp cùng lúc giữa chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại,
trong đó, các yếu tố mang tính hậu hiện đại được đẩy lên thành yếu tố chủ đạo” [65].
Còn Hoàng Ngọc Tuấn lại cổ súy việc Tiến tới một nền văn chương Việt Nam
hoàn cầu hóa [92]. Nhà nghiên cứu này đã chỉ ra nguyên nhân “tinh thần hậu thuộc
địa và chủ nghĩa dân tộc cách ly khiến nhiều người dị ứng với những ý tưởng hiện đại
và hậu hiện đại” và nhà văn trong thời đại mới phải là một công dân hoàn cầu “dứt
khoát vứt bỏ cung cách tư duy chật hẹp của những người núp sau khung cửa dân tộc,
vứt bỏ mặc cảm nhược tiểu, vứt bỏ mặc cảm tự tôn dân tộc theo kiểu cách ly chủ
nghĩa, vứt bỏ những lối mòn vô dụng của những đường lối mỹ học hiện đại, và vứt bỏ
những hàng rào hay song sắt của những ý thức hệ. Đồng thời, nhà văn phải tự nhận
cho mình một nghĩa vụ mới: nghĩa vụ sáng tạo cống hiến cho hoàn cầu” [92].
Những nhận định của hai nhà nghiên cứu rất phù hợp với nhận định trên đây
chúng tôi đã đề cập: kêu gọi các nhà văn Việt hãy tìm tòi, đổi mới để đưa nền văn
học nước nhà hội nhập chung với không khí thời đại, thế giới.
Tạp chí Văn học nước ngoài số 8 + 9/2004 có bài Hậu hiện đại được tác
giả Diễm Cơ viết dựa trên Điều kiện hậu hiện đại: Bản tường trình về tri thức của
Lyotard.
Bên cạnh những công trình được in thành sách, trong những năm gần đây,
trên nhiều diễn đàn, tạp chí, báo điện tử… những vấn đề về chủ nghĩa hậu hiện đại
nói chung và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn học Việt Nam đương đại được
nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm, trở thành những cuộc đối thoại rộng lớn
trong đời sống văn học nước nhà.
không?: Tôi chỉ tiên đoán rằng lối viết hậu hiện đại sẽ ngày càng được sử dụng ở
Việt Nam dù kết quả sẽ là những tác phẩm không nhất thiết sẽ mang tinh thần hậu
hiện đại thực sự (…). Tôi không bao giờ có hàm ý rằng chẳng bao lâu nữa xã hội
hậu hiện đại sẽ hiện hữu ở Việt Nam (…). Tôi cũng không cho rằng chỉ đến lúc con
người Việt Nam có cảm thức hậu hiện đại, hay đến lúc đất nước Việt Nam đã là
một cơ sở xã hội – tâm lý hậu hiện đại, thì lối viết hậu hiện đại mới trở nên phổ
biến (…). Nhà văn Việt Nam có thể bắt chước, vay mượn, hay sử dụng những lối
viết từ nước ngoài mà không cần phải đợi đến khi đất nước Việt Nam có những
điều kiện xã hội như ở nước ngoài” [91].
Trên báo điện tử www.vietnamnet.vn ngày 17/8/2006 có đăng tải bài viết
Chủ nghĩa hậu hiện đại và ảnh hưởng ở nước ta của tác giả Đông La. Tác giả đã
đưa ra nhận định: “Tinh thần hậu hiện đại đã và đang phảng phất đâu đó trong văn
chương Việt Nam cũng là lẽ thường tình, nhưng không có tài, không hiểu biết dến
nơi đến chốn mà mê muội bắt chước thì chỉ làm ra được sản phẩm tồi mà thôi.
Cũng như những nhóm cực đoan đúng là đã làm ra được những thứ văn chương
hậu hiện đại thứ thiệt nhưng tiếc là chỉ mới ở dạng thấp nhất của nó” [45].
Ngày 3-4/11/2006, Hội thảo “Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn
hóa khu vực và quốc tế” do Viện Văn học phối hợp cùng Harvard – Yenching Institste
(Hoa Kỳ) tổ chức, có một số bài viết ứng dụng lý luận hậu hiện đại để nghiên cứu văn
học Việt Nam, như Những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam trong tương
quan so sánh loại hình với văn xuôi hậu hiện đại Nga (Đào Tuấn
Ảnh), Lịch sử trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết của hệ hình thi
pháp hậu hiện đại (Cao Kim Lan), Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại
trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài
(La Khắc Hòa).
Trên báo Văn nghệ ngày 8/12/2007 đăng tải bài viết Dấu ấn hậu hiện đại
trong văn học Việt Nam sau 1986 của tác giả Phùng Gia Thế. Theo tác giả này,
“Khi đã 26 tuổi, gần mười năm xa Việt Nam, tôi mới bắt đầu viết. Không để giãi bày
hay để tâm sự chuyện đời mà để phục vụ nhu cầu tưởng tượng, nhu cầu đi xa khỏi bản
thân. Sau đó là tìm những lối viết khác. Mới đầu tôi viết truyện ngắn. Nhưng thể loại
này nhanh chóng tạo cho tôi cảm giác chật chội và dễ dãi. Tuy vậy, phải đợi năm năm
sau thì Made in Vietnam mới có thể thành hiện thực. Tiểu thuyết là một cuộc phiêu
lưu và như mọi cuộc phiêu lưu, nó cần năng lượng và lòng dũng cảm” [102].
Người đọc biết đến cái tên rất gọn ghẽ - Thuận – qua một loạt các tiểu thuyết
được viết bởi một âm hưởng, giọng điệu và cấu trúc lạ. Không phải ngay từ đầu,
cái tên này đã được chú ý. Cho đến khi những Chinatown, Paris 11 tháng 8 nối
tiếp nhau chào đời, đặc biệt là khi Paris 11 tháng 8 được nhận tặng thưởng của
Hội nhà văn Việt Nam (2006), thì người đọc mới đổ xô ngược dòng tìm đọc Made
in Vietnam với tâm lý háo hức, ngóng chờ. Rồi khi T mất tích, VânVy xuất hiện,
cái tên Thuận đã là một danh từ riêng không còn xa lạ với những ai quan tâm đến
thời sự văn học Việt Nam đương đại.
Và gần đây nhất, tháng 3/2013, Thuận vừa trở về Việt Nam tham dự buổi tọa
đàm T. mất tích- tìm T hay tìm tôi tại Trung tâm văn hóa Pháp (24 Tràng Tiền- Hà
Nội) để giới thiệu bản dịch tiếng Pháp của tiểu thuyết thứ tư của cô - T. mất tích. Bản
dịch do dịch giả Đoàn Cầm Thi thực hiện, Nhà xuất bản Riveneuve, Paris xuất bản, ra
mắt độc giả vào tháng 9/2012. Cũng do dịch giả Đoàn Cầm Thi chuyển ngữ, trước đó,
Chinatown cũng ra mắt độc giả Pháp. Đoàn Cầm Thi cũng tiết lộ trong bài phỏng vấn
do báo Thể thao & Văn hóa (Thông tấn xã Việt Nam) thực hiện Đoàn Cầm Thi và
cuộc phiêu lưu mang văn học Việt đến Pháp: Cùng với Blogger của Phong Điệp,
Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương, Song Song của Vũ Đình Giang, Giữa dòng
chảy lạc của Nguyễn Danh Lam, Paris 11 tháng 8 sẽ là tác phẩm tiếp theo của Thuận
được dịch ra tiếng Pháp. Cuốn thứ sáu của nhà văn mang tên Thang máy Sài Gòn
cũng sẽ được xuất bản vào đầu năm tới (2014) tại Pháp.
Thuận là tác giả đương đại có nhiều tìm tòi đổi mới, tuy nhiên việc nghiên
cứu và tìm hiểu về Thuận cũng như các sáng tác của cô chưa nhiều và tính hệ
thống chưa cao.
Cuốn tiểu thuyết đầu tiên chính thức ra mắt ở Việt Nam – Chinatown - của
Thuận, đã phần nào kích thích thị hiếu thẩm mỹ của bạn đọc. Trong lời giới thiệu
in trên bìa cuốn tiểu thuyết, Dương Tường khẳng định có dấu ấn hậu hiện đại trong
tác phẩm này: “Ngổn ngang và tung tóe như những mảnh vỡ của một trò chơi ghép
hình, không chương hồi liền mạch suốt 200 trang sách, bề bộn những suy ngẫm,
hình tượng, chi tiết nhấn đi nhấn lại bất tận thành ám ảnh, như lưỡi dao cùn nhay
mãi không dứt, như cái đĩa hát cũ bị vấp rãnh, cuốn sách đậm đặc như một thứ
humour xót xa và không thiếu những yếu tố mà giờ đây người ta gọi là hậu hiện
đại này nhiều lúc làm tôi như nhập đồng” [106].
Trong bài viết Đôi nét về kết cấu và thi pháp của Chinatown trên
evan.com.vn, không như Dương Tường – khẳng định có dấu ấn của hậu hiện đại Hoàng Nguyễn không một lần nhắc đến cụm từ “hậu hiện đại” nhưng tác giả đã tìm
hiểu thi pháp hư cấu và kết cấu của tác phẩm dưới cái nhìn hậu hiện đại. Theo đó,
Hoàng Nguyễn cho rằng: Thuận đã sử dụng “kỹ thuật collage (cắt ráp) các chi tiết
hư cấu và phi hư cấu, thật và không thật của Thuận đầy tinh xảo và kết quả là tạo
nên một bức tranh ghép gần như không có đường nối và người đọc phải kiên nhẫn
đọc thật kỹ, so sánh với tiểu sử tác giả, những tác phẩm khác của tác giả mới có thể
phân biệt được đâu là yếu tố phi hư cấu, đâu là yếu tố hư cấu” [57]. Hoàng Nguyễn
cũng đã chỉ ra kiểu cấu trúc “tiểu thuyết trong tiểu thuyết” và tính “liên văn bản” ở
“những đường links giữa Chinatown, I’m yellow, Made in Vietnam” [57].
Trong các bài viết về Chinatown, chúng tôi đánh giá rất cao bài viết trên
www.tienve.org I’m yellow: Khoái cảm văn bản – Đọc Chinatown của Thuận
của tác giả Đoàn Cầm Thi. Đoàn Cầm Thi nhận ra tác giả Chinatown đã “nháy
mắt” với Duras (tác giả Người tình) để “kéo người đọc vào mê lộ của nghệ thuật
viết”. Mê lộ ấy được Đoàn Cầm Thi chỉ rõ ở ba luận điểm: Viết không phải để nhớ
lại. Cũng không phải để quên đi”, “I’m yellow: Truyện lồng truyện” và “I’m
Phạm vi nghiên cứu
Trong các tiểu thuyết mà chúng tôi đã có dịp trình bày qua ở trên, ngoài
Chinatown, Paris 11 tháng 8, T mất tích, VânVy - những tác phẩm đã được in ấn,
xuất bản và giới thiệu tại Việt Nam - còn có Made in Vietnam- đứa con đầu lòng
được xuất bản tại Văn Mới, Califonia, Hoa Kỳ (tháng 5/2003). Do điều kiện không
cho phép, chúng tôi không có trong tay đầy đủ văn bản tác phẩm này, chỉ có một
trích đoạn ngắn trích nguồn từ www.tienve.org. Vì vậy, trong luận văn này, chúng
tôi chỉ tiến hành nghiên cứu dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Thuận ở bốn
tác phẩm được nhắc đến ở trên.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn của chúng tôi sử dụng các phương pháp cơ bản sau:
-
Phương pháp thống kê phân loại
-
Phương pháp loại hình
-
Phương pháp so sánh...
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần MỞ ĐẦU và KẾT LUẬN, nội dung chính của luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Khái lược về Hậu hiện đại – dấu ấn hậu hiện đại trong văn
thuật ngữ này lại xuất hiện trong công trình Hợp tuyển thơ ca Mỹ La tinh đương
đại của Dudley Fits. Năm 1959, nhà phê bình văn học Irving Howe được coi là
một trong những người đầu tiên đưa ra quan niệm về sự chuyển tiếp từ chủ nghĩa
hiện đại sang chủ nghĩa hậu hiện đại trong bài tiểu luận Xã hội đại chúng và tiểu
thuyết hậu hiện đại. Từ đó, thuật ngữ hậu hiện đại được sử dụng rộng rãi trong các
lĩnh vực khoa học và đời sống xã hội. Trong văn chương, nhiều nghệ sĩ, nhà văn,
nhà phê bình như Rauschenberg, Cage, Buroughs, Barthelme, Fielder, Hassan,
Sontag dùng thuật ngữ này để chỉ trích sự cạn kiệt của chủ nghĩa hiện đại và mô tả
những khuynh hướng nghệ thuật đang hình thành và muốn vượt qua những giới
hạn của luận thuyết này. Đến đầu những năm 70 của thế kỷ 20, khuynh hướng hậu
hiện đại ảnh hưởng rộng hơn, được giới trí thức đại học như Bell, Kristevia,
Lyotard, Derrida, Foucault, Jameson đem ra bàn luận và được thừa nhận như một
hiện tượng đặc thù của văn hóa phương Tây.
Trong khi trên lĩnh vực lý luận, kể cả triết học, mỹ học và phê bình văn học,
chủ nghĩa hậu hiện đại vẫn còn đang gây nhiều tranh cãi thì trên phương diện thực
tiễn, chủ nghĩa hậu hiện đại đã thẩm thấu rất sâu trong đời sống và trở thành một
hiện tượng văn hóa mang tính toàn cầu. Hiện nay, chủ nghĩa hậu hiện đại không
chỉ giới hạn trong phạm vi văn học nghệ thuật mà đã trở thành một cách tư duy,
một thái độ ứng xử thịnh hành ở các xã hội phát triển và đang phát triển.
Với sự khái lược trên đây, có thể thấy, thoạt đầu chủ nghĩa hậu hiện đại xuất
hiện tại Hoa Kỳ vừa như một hiện tượng văn học nghệ thuật vừa như một ý thức
văn hóa trong thời đại hậu kỹ nghệ. Sau đó, giới đại học tại Pháp nâng lên thành lý
thuyết và trở lại ảnh hưởng đến đời sống sáng tác và học thuật Hoa Kỳ. Trào lưu
này đã kết hợp khá hài hòa với các trào lưu đương đại khác trong văn học Hoa Kỳ
như hậu cấu trúc luận, nữ quyền luận, hậu thực dân luận. Cũng từ đó, chủ nghĩa
hậu hiện đại lan rộng sang các nước châu Âu, Úc, Mỹ La tinh và các quốc gia châu
Á (chủ yếu là Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc).
Hiểu theo nghĩa rộng, chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện sau chủ nghĩa hiện
mạnh vai trò của ngôn ngữ, những quan hệ quyền lực, động cơ thúc đẩy; đặc biệt
nó tấn công việc sử dụng những sự phân loại rõ ràng như nam với nữ, bình thường
với đồng tính, trắng với đen, đế quốc với thực dân. Chủ nghĩa hậu hiện đại đã ảnh
hưởng tới nhiều lĩnh vực văn hóa, bao gồm cả phê bình văn học, xã hội học, ngôn
ngữ học, kiến trúc, nghệ thuật thị giác, và âm nhạc.
Tư tưởng hậu hiện đại là sự giải thoát có chủ ý từ những cách tiếp cận của
chủ nghĩa hiện đại đã thống trị trước đó. Thuật ngữ “hậu hiện đại” bắt nguồn từ sự
phê phán tư tưởng khoa học về tính khách quan và tiến bộ gắn liền với sự khai
sáng của chủ nghĩa hiện đại.
1.1.2 Các tư tưởng cơ bản và đặc điểm sáng tác hậu hiện đại trong văn chương
Để tìm hiểu về chủ nghĩa hậu hiện đại, chúng tôi lấy chủ nghĩa hiện đại làm
mốc quy chiếu để “soi rõ”.
1.1.2.1 Sơ lược về chủ nghĩa hiện đại
Ib.Hassan coi chủ nghĩa hiện đại là một thứ chủ nghĩa hiện đại muộn, hay còn
gọi là chủ nghĩa hiện đại hậu kỳ. Jean Francois Lyotard coi nó là đỉnh cao của chủ
nghĩa hiện đại, là “cơn kịch phát của cái hiện đại”. Dù còn nhiều ý kiến tranh cãi về
mối quan hệ giữa hai khái niệm này nhưng các nhà phê bình, nghiên cứu trên thế giới
đều khẳng định giữa chúng có nhiều điểm tương đồng nhưng không ít khác biệt.
Thời hiện đại gắn liền với các tên tuổi lớn của triết học phương Tây như
Kant, Hegel, Jean Jacques Rousseau, Sigmun Freud, Karl Max,… Chủ nghĩa hiện
đại nhấn mạnh tính duy lý và quá trình hợp lý hóa để tạo nên trật tự từ sự hỗn độn.
Chủ nghĩa hiện đại tin vào sự tiến bộ của con người nhờ tri thức, do vậy, luôn cố
gắng phá vỡ những hệ giá trị cũ, xây dựng nên những giá trị mới với hi vọng sẽ tạo
nên một nền văn hóa cao cấp, hoàn chỉnh cho nhân loại. Nền văn hóa đó đối lập
với văn hóa bình dân vốn giản đơn và dung tục. Với niềm tin vào chân lý, vào sự
thật như là cái đúng, cái tốt đẹp, chủ nghĩa hiện đại luôn tìm sự thống nhất trong
tượng trưng
Hình thức (liên kết, khép kín)
Có mục đích
Được thiết lập, sắp đặt
Thứ tự
Thông thạo/Ngôn từ (Điều
khiển/biểu trưng)
Đối tượng nghệ thuật/tác phẩm
hoàn chỉnh
Khoảng cách, gián cách
Sáng tạo/chỉnh thể hóa
Hiện diện
Trung tâm
Thể loại, ranh giới
Ngữ nghĩa học
Hệ hình
Quan hệ phụ thuộc (câu chính
phụ)
Ẩn dụ
Chọn lựa
Gốc rễ, chiều sâu
Giải thích, hiểu
Cái được biểu đạt
Để đọc
Tự sự, đại tự sự
Ngôn từ tinh luyện, hệ thống
đại được xác định bởi cả tình trạng chính trị xã hội của xã hội đương thời, lẫn
những quan niệm được hình thành trong lịch sử. Nói cách khác, tư tưởng hậu hiện
đại đã đi đến kết luận rằng tất cả những gì được coi là hiện thực, trên thực tế không
phải là cái gì khác hơn chính sự hình dung về nó, sự hình dung vốn phụ thuộc vào
việc người quan sát lựa chọn điểm nhìn nào và sự thay đổi điểm nhìn dẫn tới sự