5
TẠP CHÍ KHOA HỌC, ðại học Huế, Số 66, 2011
QUAN NIỆM VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ðẠI
TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM
Phan Tuấn Anh, Nguyễn Hồng Dũng
Trường ðại học Khoa học, ðại học Huế
TÓM TẮT
ðối với nghiên cứu văn học Việt Nam cuối thế kỉ XX - ñầu thế kỉ XXI, hiếm có trường
phái lý thuyết nào gây ñược nhiều sự hào hứng và cả hoài nghi hơn chủ nghĩa hậu hiện ñại.
Chính vì vậy, việc nhìn nhận lại các quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện ñại trong nghiên cứu văn
học Việt Nam thời gian qua là một việc làm cần thiết. Bắt ñầu từ các tranh luận – ñối thoại của
giới nghiên cứu văn học Việt Nam về những vấn ñề lý thuyết văn học, bài viết ñi sâu vào việc
phân tích những ñặc trưng của văn học hậu hiện ñại Việt Nam theo các quan niệm khác nhau
của các nhà lý luận – phê bình.
Bất cứ quá trình tiếp nhận lý thuyết văn học ở một quốc gia nào cũng ñược ghi
dấu ấn bằng những cách hiểu mang bản sắc riêng của không gian văn hoá và tính truyền
thống trong tư duy lý luận văn học ở quốc gia ñó. Bao giờ cũng vậy, bản thân những bản
dịch từ nguyên tác chỉ mới là giai ñoạn khởi ñầu cho việc tiếp nhận một trường phái lý
thuyết. Tuy bản thân quá trình chuyển ngữ cũng ñã bao hàm tính chất của sự tiếp nhận,
bởi dịch thuật phần nào ñó vẫn mang tính sáng tạo cá nhân của người dịch trong cách
hiểu, tuy nhiên, phải ñến sự xuất hiện của những cách hiểu mang tính sáng tạo bản ñịa,
và sau ñó là những ứng dụng vào thực tiễn, thì một lý thuyết mới thực sự bước vào ñời
sống của không gian tiếp nhận. Chính vì vậy, sự sôi ñộng, thậm chí là tranh luận trong
ñời sống học thuật nước nhà về vấn ñề hậu hiện ñại gần 20 năm qua (tạm lấy ñiểm mốc
bắt ñầu từ năm 1991) cũng ñã ñể lại một “di sản” nhất ñịnh. Dẫu còn nhiều bề bộn,
nhưng những cách hiểu hậu hiện ñại mang bản sắc Việt cũng ñã chứng minh cho sức
sống và sự lan toả của một vấn ñề lý thuyết văn học, hơn thế nữa, một khát vọng hoà
trang 126]. Tuy nhiên, Lê Huy Bắc trong các bài viết của mình, ñặc biệt là hai bài viết
Truyện ngắn hậu hiện ñại [1, trang 415] và Khái niệm chủ nghĩa hậu hiện ñại [ñăng
trong kỉ yếu hội thảo Hậu hiện ñại – Lý luận & tiếp nhận do khoa Ngữ văn – ðH Khoa
học tổ chức] lại xem chủ nghĩa ða ða là một trào lưu nghệ thuật thuộc hậu hiện ñại.
Trong bài viết Truyện ngắn hậu hiện ñại, Lê Huy Bắc vẫn còn ngập ngừng, dù vẫn xếp
ða ða vào chung trong trào lưu nghệ thuật hậu hiện ñại : “Còn với chủ nghĩa hậu hiện
ñại thì ta có : chủ nghĩa ða ða (theo Hassan, nhưng có lẽ không ổn vì ða ða ra ñời và
tồn tại trong khoảng 1916 – 1922), tiểu thuyết mới, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, chủ
nghĩa cực hạn” [1, trang 424]. Tuy nhiên, ñến bài viết Khái niệm chủ nghĩa hậu hiện ñại
thì tác giả ñã xác ñịnh rõ quan niệm của mình là : “Từ tất cả các căn cứ trên, chúng tôi
ñề xuất cách hiểu khái niệm Chủ nghĩa hậu hiện ñại trong văn học như sau: Bắt ñầu từ
thơ ða ña (1916) và kịch Phi lí từ những năm 1950, chủ nghĩa hậu hiện ñại trong văn
học thực sự phát triển mạnh ở văn xuôi vào những năm 1960”. Và ñiều cơ bản nhất
trong cuộc tranh luận này, ñó là với Nguyễn Văn Dân và một số nhà nghiên cứu khác ở
Việt Nam, chủ nghĩa hậu hiện ñại chỉ là một hiện tượng “chồng chéo khái niệm, một ý
ñồ tư tưởng - chính trị, chẳng có ý nghĩa gì cả, mốt sính khái niệm, vô nghĩa”. Ngược lại,
với Lê Huy Bắc và một số nhà nghiên cứu khác: “Nói tóm lại, thế giới hiện nay là thế
giới của kỉ nguyên hậu hiện ñại. Nhưng tuỳ vào ñặc ñiểm riêng của từng quốc gia mà
chủ nghĩa hậu hiện ñại có những sắc thái khác nhau”. ðối với những nhà nghiên cứu
Việt Nam có ý kiến khác nhau về những vấn ñề lý thuyết văn học hậu hiện ñại nói
chung, thông thường các luận ñiểm ñược trình bày gián tiếp trong các công trình, chứ 7
không trực tiếp ñối thoại, và có thể tóm gọn trong một số các vấn ñề chính như sau:
- Tranh luận – ñối thoại về thời ñiểm xuất hiện của chủ nghĩa hậu hiện ñại
trên thế giới (giữa Ngân Xuyên, Phương Lựu, Hoàng Ngọc Tuấn, Trịnh Lữ, Hoàng
Ngọc Hiến…).
- Tranh luận – ñối thoại về các thuộc tính và thủ pháp của chủ nghĩa hậu
hiện ñại trong văn học, về nội hàm thuật ngữ hậu hiện ñại (giữa Nguyễn Văn Dân,
tự sự mạnh mẽ, chủ trương không ngừng giải cấu trúc các hiện trạng ñã có, ñi kèm với 8
tính chất dung hợp, bảo vệ cho các “tiểu tự sự”, cái ñối lập, cái khác, sẽ khiến nền văn
học Việt Nam phá bỏ sức ỳ, phát triển một cách ña màu sắc hơn, mang tính ñối thoại
hơn. Ngược lại, những nhà nghiên cứu có quan ñiểm xem lý thuyết hậu hiện ñại sẽ
mang lại nhiều tác hại hoặc không có lợi ích gì ñáng kể cho nền văn hóa – văn học nước
nhà như ðỗ Minh Tuấn, Thích Thanh Thắng, Bùi Công Thuấn… lại xem chủ nghĩa hậu
hiện ñại là một “yêu nữ”, “bóng ma chập chờn”, “một con ma hậu hiện ñại”. Với các
nhà nghiên cứu này, chủ nghĩa hậu hiện ñại ñã du nhập vào Việt Nam dưới những mặt
trái và tiêu cực, làm biến ñổi các giá trị văn hóa, hoặc rằng, ñã có những âm mưu sử
dụng thuật ngữ hậu hiện ñại ñể gán cho những sự kiện văn hóa suy ñồi. ðỗ Minh Tuấn
trong Chập chờn bóng ma hậu hiện ñại viết: “yêu nữ Hậu hiện ñại ñã tinh quái nấp sau
thương hiệu lớn của FPT ñể lặng lẽ giải thiêng, dọn ñường cho một văn hóa mới, thứ
văn hóa ngoại lai thực dụng hay có người còn gọi là hạ văn hóa, văn hóa suy ñồi” [7].
- Các ñặc trưng nghệ thuật của văn học hậu hiện ñại Việt Nam (nếu có).
Tiêu biểu cho cuộc tranh luận này là hai bài viết Giải minh hậu hiện ñại của
Inrasara và Phải chăng nỗi sợ hãi hậu hiện ñại là có thật của Bùi Công Thuấn. Nếu theo
quan ñiểm của Inrasara – một nhà nghiên cứu luôn ủng hộ cho sự phát triển của văn học
hậu hiện ñại của Việt Nam, người luôn nỗ lực bảo vệ các nhóm thơ trẻ mang tính nổi
loạn như Ngựa trời, Mở miệng, văn học hậu hiện ñại ở Việt Nam mang tính ngoại biên,
phản kháng và chối bỏ các ñại tự sự. Chủ nghĩa hậu hiện trong văn học Việt Nam có thể
tính từ Bùi Giáng trở ñi, ñược tiếp nối bởi các nhà thơ như Phan Bá Thọ, Bùi Chát, Lý
ðợi, Khúc Duy, Trần Tiến Dũng, Nguyễn ðăng Thường, ðỗ Kh, Nguyễn Hoàng Nam,
Khế Iêm… Tuy nhiên, theo Bùi Công Thuấn, Bùi Giáng là thơ “tinh ròng Việt Nam…
Gán cho Bùi Giáng là hậu hiện ñại là không ñúng tinh thần Bùi Giáng” [8]. Riêng các
nhóm thơ như Mở miệng thì Bùi Công Thuấn không xem họ làm thơ, mà chỉ “viết
những thứ rác và dơ”, “chỉ là những lời văng tục chửi thề, chửi tất cả” [8].
- Tương lai và sự tương thích giữa lý thuyết văn học hậu hiện ñại với nền
khấu…) mà ở mỗi lĩnh vực lại có một ñặc thù quan niệm riêng về hậu hiện ñại, ñã khiến
cho hệ lý thuyết này về thực chất mang tính chất “mở”, không cố ñịnh thành một bộ
kinh ñiển với những nguyên tắc cơ bản. Từ ñó, dẫn ñến những cách hiểu khác nhau về
hậu hiện ñại trong giới nghiên cứu nước nhà.
Thứ hai: cơ sở và nền tảng tri thức về hậu hiện ñại của các nhà nghiên cứu Việt
Nam nhìn chung là có sự khác biệt, bởi những tài liệu và nguồn thông tin mà họ kế thừa
nhằm xây dựng nên quan niệm của mình là khác nhau. Trên thế giới, lý thuyết văn học
hậu hiện ñại nhìn chung có sự khác biệt tương ñối giữa những trường phái như Hoa Kỳ,
Pháp, Nga và Trung Hoa. Có thể nhận ra quan ñiểm về hậu hiện ñại của Lê Huy Bắc,
Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Ước, Trần Quang Thái… ảnh hưởng
từ cách hiểu và quan niệm về hậu hiện ñại của Hoa Kỳ, mà tiêu biểu là các quan niệm
của Ihab Hassan, Mary Klages, Terry Eagleton, Charles Jencks, Barry Lewis, David
Harvey, Jan Flax, F.Jameson… Trong ñó, ta dễ dàng phát hiện ra quan ñiểm ghép chủ
nghĩa ða ða vào chung trong trào lưu hậu hiện ñại của Lê Huy Bắc là sự kế thừa quan
ñiểm của Ihab Hassan trong Toward a Concept of Postmodernism. Trên phương diện
khác, một số các nhà nghiên cứu, mà tiêu biểu là Thụy Khuê, Bùi Văn Nam Sơn, Ngân
Xuyên, Trịnh Lữ… lại dựa trên những quan niệm về hậu hiện ñại ở Pháp, mà chủ yếu là
quan niệm của J.F.Lyotard, Derrida, Baudrillard M.Foucault, J.Lacan, J.Kristeva
Những nhà nghiên cứu ảnh hưởng quan niệm hậu hiện ñại của Nga và một số nước
ðông Âu, ñặc biệt là quan ñiểm về hậu hiện ñại của I.P.Ilin, Mikhail Epstein,
V.L.Inozemsev, Mihaela Constantinescu… có thể kể ñến ðào Tuấn Ảnh và Nguyễn Văn
Dân. Một số nhà nghiên cứu khác như Inrasara thì lại chịu ảnh hưởng bởi các nhà
nghiên cứu hải ngoại, mà ñặc biệt là những nhà hải ngoại tại Úc như Hoàng Ngọc Tuấn
hay Nguyễn Hưng Quốc. Riêng Phương Lựu lại chịu ảnh hưởng bởi các nhà “Marxism
phương Tây” (Western Marxism) và các nhà triết học ít nhiều chịu ảnh hưởng từ chủ 10
nghĩa Marx như F.Jameson, Derrida, Lyotard, M.Foucault… Chính nền tảng kế thừa và
chịu ảnh hưởng về mặt lý thuyết của các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam thuộc về các
rõ nét trong nhiều tác phẩm văn học.
- ðặc trưng hai quá trình song hành trong việc phát triển văn học hậu hiện
ñại ở Việt Nam.
Văn học hậu hiện ñại ở Việt Nam ñược phát triển trong hoàn cảnh diện mạo nền
nghệ thuật hiện ñại chưa thực sự hoàn chỉnh, các kinh ñiển triết mỹ về hậu hiện ñại thế
giới còn chưa ñược giới thiệu nhiều, tư duy triết học về ngôn ngữ chưa ñầy ñủ, chính vì 11
vậy, cái nền tảng, ñiều kiện về “kiến trúc thượng tầng” cho văn học hậu hiện ñại ra ñời
và vận ñộng là khá bấp bênh. Bởi vì, dù có kế thừa hay lược bỏ, có quay về hay thoát ly,
có phủ ñịnh hay tiếp nối, ñể hiểu và viết về chủ nghĩa hậu hiện ñại vẫn phải dựa trên
nền của nghệ thuật hiện ñại. Hoàng Ngọc Hiến nhận ñịnh: “Chủ nghĩa hậu hiện ñại
trước hết là một phản ứng với chủ nghĩa hiện ñại, do ñó phải tìm hiểu chủ nghĩa hiện ñại
thì mới cảm nhận ñược chủ nghĩa hậu hiện ñại” [2]. Chính từ nhu cầu bức thiết trên, nền
văn học Việt Nam theo các nhà nghiên cứu, mà ñặc biệt là những ý kiến của Nguyễn
Hưng Quốc trong một loạt các bài viết như Chủ nghĩa h(ậu h)iện ñại và văn học Việt
Nam, Chủ nghĩa hậu hiện ñại và những cái (cần) chết trong văn học Việt Nam, Toàn cầu
hoá và văn học Việt Nam… phải tiến hành song hành hai quá trình: vừa hiện ñại hóa vừa
hậu hiện ñại hóa. Hiện ñại hóa nhằm tạo tiền ñề và nền tảng cho việc phát triển văn học
hậu hiện ñại, mặt khác, hậu hiện ñại hóa nhằm ngõ hầu bắt kịp với không khí, trình ñộ
và tinh thần chung của thời ñại.
Như vậy, chủ nghĩa hậu hiện ñại trong văn học Việt Nam, nếu có, chỉ là sự pha
trộn và kết hợp giữa những yếu tố hiện ñại và hậu hiện ñại, trong ñó, yếu tố hậu hiện ñại
ñóng vai trò chủ ñạo. Từ luận ñiểm trên, Nguyễn Hưng Quốc ñã ñề xuất một thuật ngữ
có tính lai ghép là “văn học hậu hiện ñại” [6]. Nói cách khác, chủ nghĩa hậu hiện ñại
trong văn học Việt Nam là một chủ nghĩa hậu hiện ñại mang tính nguyên hợp
(syncretism). Nếu không trải nghiệm qua hiện ñại, rõ ràng sẽ thiếu ñi một cơ sở quan
trọng nhằm ñến với cái hậu hiện ñại một cách bền vững. Tóm lại, tương lai văn học hậu
công trình, nhưng theo chúng tôi vấn ñề cốt lõi xuyên suốt vẫn là tâm thức hậu hiện ñại
(mentality postmodern). Chính cái tâm thức quan niệm về thế giới trong sự hỗn ñộn
(chaos), với sự khủng hoảng niềm tin, dẫn ñến thái ñộ bất tín nhận thức
(epistemological), giễu nhại (pastiche), giải thiêng… mới là căn nguyên tư tưởng cho
văn học hậu hiện ñại ở Việt Nam.
Theo Phương Lựu và một số nhà nghiên cứu, mà ñặt biệt là ðoàn Ánh Dương
trong Tự sự hậu thực dân: lịch sử và huyền thoại trong “Mẫu thượng ngàn” của
Nguyễn Xuân Khánh (tạp chí Nghiên cứu văn học, tháng 9 năm 2010), tâm thức hậu
hiện ñại ở Việt Nam mang dấu ấn của tâm thức “hậu thực dân” (Postcolonialism), nhất
là trong các tiểu thuyết lịch sử viết về thời kì ñất nước ñang còn là thuộc ñịa. Tâm thức
hậu thực dân trong văn học Việt Nam dẫu không phổ biến, nhưng lại cung cấp nhiều cái
nhìn quan trọng, mới mẻ mang tính hậu hiện ñại về lịch sử dân tộc, ñặc biệt là cảm thức
bênh vực và bảo vệ cho những “cái khác”, “cái nhược tiểu”, “cái bản ñịa” so với cái
thực dân ñóng vai trò như một ñại tự sự. Với ðào Tuấn Ảnh trong Những yếu tố Hậu
hiện ñại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga, cảm thức hậu hiện ñại ở
Việt Nam gắn với cảm thức “hậu hiện thực xã hội chủ nghĩa”, một cảm thức gần gũi với
cảm thức Nga hậu Xô Viết. Các nhà văn Việt Nam ñã mang một tâm thức mới trong
sáng tạo nghệ thuật, không còn mô phỏng và viết như hiện thực nữa, mà ñề cao tính hư
cấu, tính trò chơi, tính giễu nhại, giải thiêng trong sáng tạo, bỏ qua mô thức cơ bản nhất
trong chủ nghĩa hiện thực là “nhân vật ñiển hình trong hoàn cảnh ñiển hình”. Với
Inrasara trong Nhập lưu hậu hiện ñại kì 7 lại xem tâm thức hậu hiện ñại ở Việt Nam còn
gắn với nội dung nữ quyền luận, bênh vực cho “giới tính hạng hai”, không phải nhằm
ñòi bình ñẳng giới, mà là “hậu hiện ñại quyết phá tan và ñánh sập tinh thần ñó. Không
phải bởi nữ giới quan trọng hơn nam giới, càng không phải lật ñổ chế ñộ phụ hệ ñể ñưa
mẫu hệ lên ngôi, mà là giải trung tâm: bình ñẳng giới trong một xã hội công bằng” [4].
Nhìn chung, từ tâm thức hậu hiện ñại mang các nội dung ñặc thù Việt Nam như
ñã trình bày, các nhà nghiên cứu văn học nước nhà ñã ñi sâu vào phân tích các thủ pháp
hậu hiện ñại trong những tác phẩm và tác gia cụ thể. Có thể kể ñến những bài viết của
Inrasara với loạt bài mang tên Nhập lưu hậu hiện ñại và Giải minh hậu hiện ñại, ðào
Tuấn Ảnh với Những yếu tố hậu hiện ñại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn
Kế thừa các quan ñiểm này, các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam tin rằng quá trình
phát triển văn học hậu hiện ñại ở Việt Nam sẽ không sản sinh ra một nền văn học “yêu
nữ”, “bóng ma”, mà sẽ tạo dựng ñược những thành tựu mang bản sắc bản ñịa với truyền
thống dân tộc. Với tính chất dung nạp và che chở cho các tiểu tự sự, cái khác (the
others) của lý thuyết hậu hiện ñại, nền văn học Việt Nam sẽ không mang mặc cảm tự ti,
“nhược tiểu” trong quá trình phát triển. Trên thực tiễn phân tích các tác phẩm văn học
có “yếu tố” hậu hiện ñại của nước nhà, các nhà nghiên cứu ñã chỉ ra không ít những ñặc
thù riêng của các nhà văn, góp phần bước ñầu xây dựng một diện mạo hậu hiện ñại Việt
Nam. Trước tiên là các chủ ñề khai thác trong tác phẩm, theo Lã Nguyên và Cao Kim
Lan trong hai công trình nghiên cứu riêng, ñã chỉ ra Nguyễn Huy Thiệp ñã sử dụng rất
nhiều chất liệu lịch sử và chất liệu dân gian trong Phẩm tiết, Vàng lửa, Kiếm Sắc, Con
gái thủy thần… nhưng dưới một cảm quan mới – cảm quan hậu hiện ñại, với các thủ
pháp tiêu biểu như nhại lịch sử, giải thiêng, siêu hư cấu sử kí, giả thể loại… Tư duy của 14
của hai nhà văn trên cũng ñược Lã Nguyên xem là tư duy theo lối “câu ñố” và “ñồng
dao”, các hình thức diễn ngôn văn học dân gian. Inrasara thì chỉ ra tính giễu nhại và cắt
dán của các nhà thơ hậu hiện ñại Việt Nam. Trong ñó, Nguyễn Hoàng Nam ñã sử dụng
các chất liệu truyền thống ñã có sẵn trong kho tàng văn học Việt Nam (bài thơ Ngậm
ngùi của Huy Cận) nhằm cấu trúc lên những tác phẩm phản – lãng mạn của mình.
Với Lê Huy Bắc trong Truyện ngắn hậu hiện ñại, Nguyễn Hưng Quốc trong Chủ
nghĩa hậu hiện ñại và văn học Việt Nam, văn học hậu hiện ñại là một trào lưu quốc tế có
sự phân bố ñồng ñều ở các nước ñang phát triển, chứ không chỉ gói gọn vào trong
những nền văn hóa lớn ở phương Tây. Một loạt các tác giả ở Zaire (Y.Mudimbe),
Mexico (C.Fuentes), Maroc (A.Khatibi), Sri Lanka (M.Ondaatje), Kenya (Ngugi),
Somali (N.Farah), Nigeria (B.Okri), Czech (M.Kundera), Colombia (G.Marquez), Nam
Phi (M.Coetzee), Peru (V.Llosa) ñã khẳng ñịnh ñược ñặc tính nghệ thuật ñịa phương
của mình trong dòng chảy hậu hiện ñại, mà không phải chịu một mặc cảm tiểu nhược
khi ñối diện với các cây bút hậu hiện ñại lừng danh ở phương Tây. Nhìn sang bên cạnh,
hoặc xa hơn một chút là Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… Chủ yếu các
sáng tác của khuynh hướng này gắn với thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn. Trong ñó,
các tiểu thuyết lịch sử và truyện ngắn lịch sử ñóng một vai trò quan trọng. ðây là xu
hướng ñổi mới không quyết liệt và không hoàn toàn hậu hiện ñại, không tuyên ngôn
sáng tác của mình là tác phẩm hậu hiện ñại. Tuy nhiên, các sáng tác của khuynh hướng
này thực sự là những tác phẩm có giá trị quan trọng trong ñời sống văn học Việt Nam
ñương ñại. Mặc dù mang lại nhiều thành tựu, nhưng các tác phẩm thuộc khuynh hướng
này mới chỉ dừng lại ở dạng mang “yếu tố” hậu hiện ñại, chứ chưa thể hoàn toàn xem
ñó là các sáng tác mang ñầy ñủ diện mạo và bản chất của chủ nghĩa hậu hiện ñại. Cũng
chính bởi lí do này, nên sự tranh luận, nghi ngờ diễn ra thường xuyên trong nghiên cứu
văn học Việt Nam về việc phân ñịnh và xác ñịnh các tác phẩm, tác giả hậu hiện ñại.
Xu hướng thứ hai là sự ñổi mới triệt ñể, từ hình thức cho ñến nội dung theo
hướng hậu hiện ñại, cách ly hẳn với những truyền thống văn học cũ, ñây là xu hướng
hậu hiện ñại toàn diện và “có ý thức”. Có thể kể ñến một số cây bút trong xu hướng này
như Khế Iêm, Trần Tuấn, Inrasara, Bùi Chát, Lý ðợi, ðặng Thân, Phan Bá Thọ… Các
sáng tác của xu hướng này chủ yếu gắn với thể loại thơ, mà ñặc biệt là thơ Tân hình
thức, thơ văn xuôi, kịch ñường phố, thơ trình diễn… Tuy nhiên, những sáng tác của họ
ña phần chỉ mới nằm ở “ngoại biên” ñời sống văn học, dừng lại ở mức những thể
nghiệm ban ñầu, chưa thực sự ñược giới nghiên cứu văn học ñánh giá cao. Mặc dù vậy,
bản chất của nghệ thuật là những thể nghiệm, còn giá trị lại chỉ ñược tạo lập qua sự thử
thách của thời gian. Chính vì thế, ñịnh mức giá trị của những thể nghiệm này cần một
ñộ lùi về thời gian. Chưa nên vội phán xét suy ñồi hay vội tung hê ñó là một cuộc cách
mạng trong nghệ thuật.
Trong chỉ hơn hai mươi năm, vừa tiến hành tiếp thu lý thuyết, vừa triển khai ứng
dụng vào sáng tạo, lại tiến hành song hành trong việc tiếp thu và ứng dụng hàng loạt các
hệ hình lý thuyết văn học khác, có thể nói văn học hậu hiện ñại ñã mang những thành
tựu nổi bật nhất ñịnh không thể không tính ñến trong nghiên cứu văn học Việt Nam
ñương ñại. Mặc dầu vẫn còn nhiều tiếng nói e ngại, cái nhìn phiến diện, sự rụt rè và
hoài nghi về hệ hình lý thuyết văn học mới mẻ này, nhưng không thể phủ nhận, những
năm cuối thế kỉ XX và ñầu thế kỉ XXI, hậu hiện ñại là một trong những tiêu ngữ mang
[7]. ðỗ Minh Tuấn, Chập chờn bóng ma hậu hiện ñại,
ngày truy cập 1/12/2010.
[8]. Bùi Công Thuấn, Phải chăng nỗi sợ hãi hậu hiện ñại là có thật?,
ngày truy cập 1/12/2010.
17
THE CONCEPT OF POSTMODERNISM
IN RESEARCHING VIETNAMESE LITERATURE
Phan Tuan Anh, Nguyen Hong Dung
College of Sciences, Hue University
SUMMARY
For the research of Vietnamese literature in the late twentieth century and the beginning
twenty-first century,there have been few theoretical schools which create more excitement and
even suspicion than the Postmodernism does. Therefore, it is necessary to review the concepts of
Postmodernism in studying Vietnamese literature in recent years. Starting from the debate and
dialogue of Vietnamese literature researchers about theories, the article deeply analyzes the
characteristics of Vietnamese postmodern literature under the different viewpoints of theorists
and critics.