Đề tài
Thực trạng hoạt động
liên kết kinh tế trong
các doanh nghiệp dệt
may Việt Nam
Đại hoc Kinh tế Quốc dân
Đề án quản lý công nghiệp-Lớp công nghiệp 46A
1
Mục lục:
I. Liên kết kinh tế 3
1.1. Tính tất yếu khách quan của việt liên kết kinh tế 4
1.2. Các hình thức liên kết kinh tế 4
2. Khái quát chung về ngành dệt may 5
2.1. Các lĩnh vực trong ngành dệt may 5
2.2. Lịch sử phát triển ngành may 7
II. Thực trạng hoạt động liên kết kinh tế trong các doanh nghiệp dệt may
kĩ,công nghệ lạc hậu , năng suất lao động thấp , chất lượng sản phẩm chưa cao,
mẫu mã chưa đa dạng… Nhưng theo tôi, nguyên nhân tổng hợp của các nguyên
nhân nói trên là xuất phát từ vấn đề tổ chức sản xuất trong ngành. Hoạt động
sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau chưa có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhau. Nước ta lại vừa gia nhập
tổ chức WTO nên các ngành khác cũng như dệt may cần liên kết kại với nhau là
tất yếu.
Việc xây dựng đề án được sự giúp đỡ chi tiết và nhiệt tình của cô Trần Thị
Thạch Liên.
Em xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội tháng 5 năm 2007
Sinh Viên
Nguyễn Tuấn Hiệp
Đại hoc Kinh tế Quốc dân
Đề án quản lý công nghiệp-Lớp công nghiệp 46A
3
I. Liên kết kinh tế
1. Liên kết kinh tế là gì .
Liên kết kinh tế là phạm trù phản ánh mối quan hệ phối hợp hoạt động
kinh tế giữa các chủ thể kinh tế với nhau với nhau, để thực hiện những nhiệm vụ
sản xuất kinh doanh nhất định , nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho mỗi
bên tham gia .
Liên kết kinh tế diễn ra ở phạm vi không gian hẹp như ở trong cùng khu
công nghiệp ,một điạ phương, vùng kinh tế . Nhưng cũng có thể diễn ra ở phạm
vi không gian rộng như toàn quốc gia , giữa các quốc gia với nhau Nó có thể
thực hiện trong khoảng thời gian ngắn và cũng có thể diễn ra một cách liên tục ,
thường xuyên ,nhiều năm
1.2.1 Căn cứ vào nội dung kinh tế của hoạt động liên kết kinh tế theo trình
tự thực hiện các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng
a. Liên kết kinh tế để tạo các yếu tố đầu vào:
- Liên kết để tạo nguồn vốn : Có nhiều phương thức để tạo nguồn vốn cho
sản xuất công nghiệp. Các chủ thể sở hữu vốn liên kết kinh tế với nhau liên
doanh dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ phần.
- Liên kết để tạo và sử dụng nguyên liệu : Liên kết kinh tế giữa doanh
nghiệp chế biến công nghiệp với cơ sở khai thác sản xuất nguyên liệu nguyên
thủy
- Liên kết để tạo phụ tùng, thiết bị, máy móc : Dể có nguồn thiết bị phụ
tùng cung ứng thường xuyên cho công tác sửa chữa , hiện đại hóa máy móc thiết
bị, doanh nghiệp sử dụng thiết bị có thể thiết lập quan hệ liên kết kinh tế với
doanh nghiệp chế tạo thiết bị
- Liên kết để đào tạo bồi dưỡng đội ngũ lao động , cán bộ kỹ thuật quản lí Đại hoc Kinh tế Quốc dân
Đề án quản lý công nghiệp-Lớp công nghiệp 46A
5
b. Liên kết kinh tế ở khâu sản xuất
- Liên kết ngang : Liên kết giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất mặt hàng ,
nhóm sản phẩm tương tự
- Liên kết dọc : Liên kết giữa các doang nghiệp sản xuất bán thành phẩm
cung cấp cho nhau để tiếp tục chế biến ra sản phẩm cuối cùng
-Liên kết hỗn hợp : Liên kết "ngang" & "dọc" giữa các doanh nghiệp khai
thác,chế biến tiêu thụ
- Liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất chế biến từng bộ phận chi tiết để
lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh
- Liên kết để thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ
1.2.2 Căn cứ hình thức tổ chức thực hiện liên kết kinh tế
dài như là polieste, nilon để làm sợi ngắn. Ví dụ như loại sợi pha giữa bong và
polieste(T/C) được tổng hợp từ sợi dài nhân tạo và sợi bong ngắn.Trong gia
công dệt có nhiều công đoạn quan trọng không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng
của chỉ mà còn quyết định khả năng cung cấp. Trong ngành dệt may, đây là lĩnh
vực cần ưu tiên tập trung vốn, đặc biệt lĩnh vực sản xuất sợi dài. Lĩnh vục này có
tính quy mô nên đòi hỏi đầu tư cho thiết bị lớn hơn so với các lĩnh vực khác.
2.1.2. Lĩnh vực nhuộm: dệt vải, dệt kim.
So với lĩnh vực dệt thì lĩnh vực này tốn niều nhân công hơnvà có đặc trưng
về kỹ thuật và sản xuất đa dạng nhất. Trong sản xuất sợi tổng hợp để chế biến
vải, lĩnh vực này cũng đòi hỏi đầu tư nhiều vốn để hoạt động mang tính quy mô
về kinh tế. Nhưng đối với sợi tư nhiên như bông thì không liên quan nhiều tới
quy mô, nhất là sản xuất dệt kim với quy mô nhỏ cũng có thẻ triển khai được. Ở
đây ta gộp dệt vải và dệt kimvào lĩnh vực nhuộm. lĩnh vực nhuộm ngòai đặc
điểm tập trung nhiều nhân lục so với lĩnh vực dệt còn có đặc điểm về tỏ chức
sản suât mang tính quy mô hóa. Việc chuyên môn hóa được thực hiện thông qua
các công đoạn nhuộm, hiêu chỉnh, gia công in và hoàn thiện sản phẩm. Đại hoc Kinh tế Quốc dân
Đề án quản lý công nghiệp-Lớp công nghiệp 46A
7
2.1.3 Lĩnh vực may.
Lĩnh vực may yêu cầu nhân lực ít nhất và tinh quy mô về kinh tế thấp nhất
nên thu hút nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sản xuất trong lĩnh vực nàyđòi hỏi
vốn đầu tư ban đầu nhỏ, không bị ứ đọng nên được đầu tư nhiều ở các nước
đang phát triển. Nội dung hoạt động chủ yếu của lĩnh vực này là sản xuất hang
dệt may với công đoạn: Cắt vải, may, hoàn thiện sản phẩm( giặt là).
2.2 Lịch sử phát triển ngành dệt may Việt Nam
Ngành dệt may là một trong nhũng ngành công nghiệp có lịch sử phát triển
lâu dài ở Việt Nam. Đặc biệt, ngành dệt sợi có từ lâu và phát triển mạnh trong
bày ở trên.
Trong nèn kinh tế kế hoạch, nối quan hệ giữa các doanh nghiệp dệt, nhuộm,
may rất mật thiết. Các doanh nghiệp may tiến hành sản xuất theo thiết kế, số
lượng và giá đã được Ủy ban Kế hoạch nhà nước quy định. Các doanh nghiệp
này thường xuyên nắm bắt những thông tin như loại vải nào thì sản xuất ở doanh
nghiệp nào và giữ mối quan hệ mật thiết với các doanh nghiệp nhuộm. Đơn giá,
mẫu mã,… của vải sử dụng ở các doanh nghiệp may do Ủy ban Kế hoạch Nhà
nước quy định, nhưng nhà cung cấp vải lại do các doanh nghiệp may trình lên
Ủy ban Kế hoạch Nhà nước nên thực chất quyết định cuối cùng là do các doanh
nghiệp này đưa ra.Đồng thời cá doanh nghiệp nhuộm cũng giữ mối quan hệ
khăng khít với các doanh nghiệp dệt. Xết trên toàn ngành, mối quan hệ khăng
khít cùng chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp được duy trì khá tốt.Tuynhiên,
mối quan hệ khăng khít này đã có sự thay đổi lớn từ khi có Hiệp định thương
mại gia công ủy thác được ký kết giữa chính phủ Liên Xô cũ và Chính phủ
ViệtNam vào năm 1986. Theo hiệp định này, Chính phủ Việt Nam nhập khẩu
nguyên liệu tuqf Liên Xô để tiến hành sản xuất hàng may măc tại cácn daonh
nghiệp nhà nứớc, sau đó xuất khẩu trở lại Liên Xô.Quy định này đã làm giảm
hẳn nhu cầu đối với các sản phẩm của các doanh nghiệp nhuộm và dệt trong
nước và mối quan hệ mật thiế giữa các doanh nghiệp cũng bị rạn nứt. Viếc các
doanh nghiệp dệt, nhuộm đầu tư vào ngành may đã đẩy nhanh rạn nứt này.Các
Đại hoc Kinh tế Quốc dân
Đề án quản lý công nghiệp-Lớp công nghiệp 46A
9
nhà doanh nghiệp dệt nhuộm cùng hoạt động trong cả lĩnh vực may và để tồn tại
họ cần nhận được những đơn đặt hàng gia công ủy thác từ Liên Xô. Các doanh
nghiệp trong các lĩnh vực dệt, nhuộm, may từ mối quan hệ hợp tác đã trở thành
đối thủ cạnh tranh của nhau. Người ta cho rằng đó là nguyên nhân lịch sử chủ
yếu cho sụ phân ngành trong ngành dệt may Việt Nam chưa phát triển.
mặc xuất khẩu của Việt Nam đang đắt hơn sản phẩm cùng loại trong khu vực từ
10-15%. Do trong nước chưa chủ động được nguyên liệu hoặc nguyên liệu sản
xuất trong nước có giá cao.
- Liên kết dệt may cho phép giảm bớt nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, tăng
giá trị gia tăng cho ngành dệt may và tăng đóng gốp của ngành vào nên kinh tế
quốcdân.
Bảng 1. Tỷ trọng ngành dệt- may trong tổng kim nhạch xuất khẩu và nhập khẩu
của nền kinh tế.
1994 1995 1997 1998 1998 2000 2001 2002
Xuất
khẩu
14 16 17 15 15,1 13,1 13,2 16,7
Nhẩp
khẩu
6,7 8,7 9,1 15,0 9,6 9,1 9,8 9,9
Nguồn: Viện kinh tế khoa học Hà Nội, trang 29.
Viện ngiên cứu thương mại, Bộ thương mại.
Các số liệu trong bảng 1 cho thấy, mặc dù đóng góp của ngành dệt may trong
xuất khẩu của cả nước đang tăng lên, nhưng phần nhập khẩu của ngành cũng
tăng tương ứng. Vì vậy, tăng cường liên kết giữa dệt may là nhu cầu cấp thiết
hiện nay.
- Liên kết dệt- may góp phần tạo điều kiện cung cấp vải sợi ổn định, chủ
động cho may xuất khẩu. Thực tế cho thấy, việc nhập khẩu vải sợi và phụ liệu
Đại hoc Kinh tế Quốc dân
Đề án quản lý công nghiệp-Lớp công nghiệp 46A
11
khiến các doanh nghiệp gặp bất lợi, không chủ động được thời gian giao
hàng.Có những doanh nghiệp do vải và phụ kiện chậm, chịu chi phí bổ sung cao
do phải vận chuyển hàng bằng đường không nhằm bảo đảm thời hạn giao hàng.
Vì vậy, nếu được cung cấp vải và phụ liệu ổn địnhtrong nước, các doanh nghiệp
Nhập khẩu Bông xơ Ng.tấn
682 37 42 68 83.3 90.4 113.1
Sợi tổng hợp Ng.tấn
Sợi Ng.tấn
93.8
74.68
113
183
160
237.8
210.7
Vải Tr.USD
108.6
529.5 710.6 774.7 561.8
Nguyên phụ
liệu
Tr.USD
6.2
6660
1998 11245 9.62 10820
1999 11984 9.75 22020
2000 115823 10 16551
2001 16596 11.15 18596
2002 29573 9.8 29000
Đại hoc Kinh tế Quốc dân
Đề án quản lý công nghiệp-Lớp công nghiệp 46A
13
sử dụng bông Việt Nam mà phải nghiên cứu để đưa ra công thức pha trộng giữa
bông nhập ngoại và bông nội địa. Việc mở rộng diện tích tăng năng suất nâng
cao chất lượng và hạ giá thành sản xuất đòi hỏi phải có đầu tư lớn. Mặt khác
việc thu mua và chế biến bông xơ cũng còn bất cập , năng lực chế biến bông xơ
còn thấp kém so với nhu cầu
2.2 Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp dệt và may Việt Nam.
Điểm yếu nhất của ngành dệt nước ta hiện nay là chưa đủ khả năng đáp
ứng các loại vải cho các doanh nghiệp may hàng xuất khẩu cả về số lượng chủng
loại và chất lượng. Theo đánh giá các chuyên gia trong nước thì vải Việt Nam
kém hơn nhiều so với các nước trong khu vực nhưng giá thành lại cao hơn. Tỷ lệ
vải trong nước có chất lượng đáp ứng được yêu cầu ngành may xuất khẩu chỉ
khoảng 10 tới 15 % còn các loại nguyênphuj liệu như xơ , sợi , hóa chất, thuốc
nhuộm hầu hết là phải nhập khẩu. Chính vì vậy , mặc dù kim ngạch xuất khẩu
của ngành dệt may Việt Nam đạt gần 2 tỷ USD vào năm 2001 nhưng giá trị làm
ra trong nước chỉ chiếm 1/4 còn lại là vải và phụ liệu nhập từ nước ngoài. Theo
đánh giá của các doanh nghiệp và các tổ chức liên quan mối quan hệ dệt may ở
Việt Nam hiện nay còn thấp và chưa hiệu quả .
Quan hệ dệt may được thể hệ qua nhiều hình thức các doanh nghiệp dệt
Các nguồn
Nguồn trong
nư
ớc
Nguồn nhập
kh
ẩu
Kênh nhập
kh
ẩu
Trong
nước
Nhập
khẩu
Mua
nội bộ
Nguồn
khác
C.ty
mẹ/chi
nhánh
Nguồn
khác
Trực
tiếp
Ủy
thác
88
21
16
4
50
79
84
96
50
58
63
45
80
42
37
55
20
DN Dệt
Trong đó:
- DNNN
- DNNQD
41
57
58
34
97
43
42
66
13
DN May
Trong đó:
-DNNN
- DNNQD
-ĐTNN
48
47
54
33
52
53
46
67
5
13
1
Nam giữ vị trí chủ đạo của ngành với sản lượng sợi chiếm 88.2% , vaỉ lụa chiếm
45.5% , sợi dệt kim chiếm 27.7% và sản phẩm may chiếm 27.5 % tổng sản
lượng cả nước. Trong thời gian qua các doanh nghiệp thành viên của Tổng công
ty đã quan tâm và thúc đẩy mối quan hệ kinh doanh trong hệ thống Tổng công ty
như các doanh nghiệp dệt mua bông của các công ty bông Việt Nam , các công
ty may mua vải các công ty dệt mhuwng số lượng và giá trị mua bán vẫn còn
khiêm tốn chỉ đạt 10 đến 15 % giá trị toàn bộ. Điều này cho thấy ngay trong
Tổng công ty thì mối quan hệ giữa các doanh nghiệp dệt và các doanh nghiệp
may cũng chưa được khăng khít.
Về liên kết thượng nguồn các doanh nghiệp dệt kết quả điều tra cho thấy
các doanh nghiệp dệt tự sản xuất sợi đặc biệt là các doanh nghiệp dẹt Nhà nước .
Số này chiềm đến 11/14 doanh nghiệp. Các doanh nghiệp này còn cho rằng vải
sợi trong nước không đáp ứng được yêu cầu các doanh nghiệp may. Mặt khác
các dệt mua sợi trong nuocs hoặc nước ngoài cho rằng vải sợi trong nước có thể
đáp ứng được yêu cầu các doanh nghiệp may trong nước .
20 trong số doanh nghiệp được điều tra cho biết họ đã thiết lập được quan
hệ với các doanh nghiệp sợi trong nước . Các quan hệ đó chủ yếu là mua bán và
phân phối sản phẩm. Nhưng 15 doanh nghiệp trong số này cho biết mối quan hệ
của họ từ trước đến nay thường không được suôn sẻ . Lý do chủ yếu là do chất
lượng của sợi không đảm bảo đúng yêu cầu , cac doanh nghiệp cho rằng sản
phẩm sợi trong nước nói chung không đpas ứng được yêu cầu đối với các doanh
nghiệp dệt .
Về liên kết hạ nguồn của các doanh nghiệp dệt . Hầu hết các doanh nghiệp
dệt với các doanh nghiệp may tronng nước . Trong đó 80 % cho rằng họ có mối
quan hệ lâu dìa vói các doanh nghiệp may. Các doanh nghiệp còn lại phân phối
sản phẩm thông qua hình thức bán sỉ hoặc xuất khẩu toàn bộ . Cũng giống như
Đại hoc Kinh tế Quốc dân
Đề án quản lý công nghiệp-Lớp công nghiệp 46A
16
mối quan hệ thượng nguồn mối quan hệ hạ nguồn cũng thường bị trục trặc mà
- Chất lượng vải chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp may do
bông, xơ, sợi chất lượng thấp, năng lực hoàn tất kém .
- Một số khách hàng nước ngoài có khuynh hướng chỉ định nhà cung cấp
vải ở nước thứ ba làm cho các doanh nghiệp dệt vải trong nước mất cơ hội tiếp
cận các doanh nghiệp may
3.2 Ý kiến của doanh nghiệp may
Các doanh nghiệp may mua vải của các doanh nghiệp dệt đưa ra những
nguyên nhân cơ bản sau đây:
- Giá cả của vải sợi trong nước kém sức cạnh tranh . Nếu so sánh các sản
phẩm cảu các doanh nghiệp dệt vải sợi trong nước với các sản phẩm nhập khẩu
cùng loại thì thông thường các sản phẩm nội địa có giá cao hơn từ 5% - 7% ;
thậm chí có ý kiến cho rằng có trường hợp các sản phẩm sợi vải nội địa có giá
cao hơn khoảng 30% so với giá của hàng nhập khẩu cùng loại .
- Chất lượng vải chưa cao . Chất lượng vải sợi nội địa chưa cao thể hiện ở
nhiều điểm. Thứ nhất là độ bền: Vải sợi nội địa có độ bền thấp hơn vải sợi nhập
khẩu. Thứ hai là cấp độ hóa : vải sợi trong nước có cấp độ hóa thấp. Khi khách
hàng yêu cầu vải bông không được chứa một loại chất hóa học nhất định thì các
doanh nghiệp đệt Việt Nam nhiều khi không thể khử được chất đó . Thứ ba là
khả năng đáp ừng yêu cầu cấp độ sản phẩm không cao . Ví dụ các doanh nghiệp
trong nước không thể dệt được những loại vải như Rincofi, một loại vải chống
nhăn để may áo sơ mi. Thứ tư là mầu sắc : mầu sắc cảu loại vải sợi trong nước ít
đa dạng.
Bên cạnh đó, chất lượng cảu vải sợi trong nước giữa các lô hoặc các mẻ
thường không ổn định do doanh nghiệp dệt không có công thức chính xác về
pha mầu nhuộn. Ngoài ra thời gian cung cấp cũng không ổn định, có nhiều
trường hợp doanh nghiệp dệt không thể đáp ứng được yêu cầu sản xuất cảu
doanh nghiệp may nào đó nhưng do không có nguyên liệu.
Đại hoc Kinh tế Quốc dân
Đề án quản lý công nghiệp-Lớp công nghiệp 46A
18
19
khác, ở ngành dệt kim thấp hơn 4-5 lấn ) . Chính vì vậy, giá thành vải Việt Nam
cao hơn 30% so với giá thành vải của Trung Quốc, Pakistan, Ấn Độ, Indonesia.
Các doang nghiệp dệt không đủ sức đáp ứng đòi hỏi của doanh nghiệp may
về chủng loại, số lượng và thời gian giao hàng. Do bị độngtron sản xuất và quản
lí chưa tốt, các doanh nghiệp dệt không đáp ứng được cácdown hàng nhỏ, chủng
loại nhiều (là xu hướng hiện nayddoiws với nhu cầu may mặc ), thời gian ngắn .
- Các doanh nghiệp dệt không thể đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng
về điều chỉnh mẫu mã , các yếu tố kỹ thuật.
Tóm lại, mặc dù nhu cầu về vải trong nước rất cao nhưng các doanh
nghiệp dệt không đáp ứng được. Hầu hết vải của các doanh nghiệp dệt Việt Nam
chỉ đáp ứng những nhu cầu nội địa ở trình độ thấp và trung bình.
III Kiến nghị và giải pháp.
1.Một số giải pháp.
1.1. Các giải pháp phát triển thượng nguồn ngành may và tăng cường
liên kết dệt may.
- Chính sách phát triển nguyên liệu trong nước
Hiện nay , Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 90% bông cho công nghiệp
kéo sợi .Phát tiển thượng nguồn là một trong những điều kiện quan trọng bảo
đảm tính chủ động và hiệu quả của việc phát triển công nghiệp dệt sợi . Theo tôi
để phát triển được cần đảm bảo những điều kiện cơ bản sau :
- Quy hoạch các vùng sản xuất tập trung . Việc lựa chọn vùng trồng bông
phải đảm bảo rằng vùng lựa chọn phải thích ứng với đặc điểm sinh thái cây
bông.
- Giải quyết vấn đề giống . Giống cây bông vải đảm bảo được các yêu cầu
chủ yếu, đặc biệt là yêu cầu thích ứng với điều kiện sinh thái tự nhiên, dễ chăm
sóc , năng suất cao , ổn định.
Đại hoc Kinh tế Quốc dân
Đề án quản lý công nghiệp-Lớp công nghiệp 46A
- Ban hành các chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt với ngành sợi dệt đẻtaoj
động lực khuyến khích các nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài vào
pháttrieenr công nghiệp sợi dệt , không hạn chế hình thức và lĩnh vực đầu tư
Việc đầu tư phát triển công nghiệp sợi dệt nên tập trung theo những vùng
lãnh thổ nhất định . Nếu các doanh nghiệp may mặc có thể phân bố tương đối tự
do thì các doanh nghiệp sợi dệt cần được phân bố tập trung theo các cụm (chẳng
hạn trong các khu công nghiệp). Điều này sẽ mang lại những lợi ích thiết thực cả
về kinh tế và xã hội như hạ thấp suất đầu tư nhờ sự dụng chung hệ thống hạ
tầng; Tạo thuận lợi cho việc xác định quy mô doanh nghiệp , phát triển các
doanh nghiệp có quy mô vừa và (10 - 15 triệu m vải / năm) ; dễ thu hút lao
động; tạo khả năng kết hợp giữa nghiên cứu và triển khai; giảm thiểu đầu tư cho
xử lí chất thải, bảo vệ môi trường sinh thái
Chính sách phát triển nguồn nhân lực
Đội ngũ nhân lực và công tác đào tạo nhân lực cho công nghiệp sợi dệt
hiện nay còn bất cập quá lớn với yêu cầu phát triển của ngành . Đào tạo nhân lực
được coi là vấn đề cơ bản, vừa cấp thiết nhằm phát triển ngánh sợi dệt với tốc đọ
dệt nhanh, quy mô lớn và trình dộ công nghệ ngày càng được nâng cao . Trong
việc đẩy mạnh đào tạo nhân lực cho công nghiệp sợi dệt, cần chú ý đến hai vấn
đề lớn là bảo đảm yêu cầu cân đối trên cả hai mặt cơ cấu ngành nghề và cơ cấu
trình độ chất lượng đào tạo .
Về cơ cấu ngành nghề , phải bảo đảm đào tạo số lượng lao động theo các
khâu của qua trình công nghệ. Về cơ cấu trình độ, cần phát triển đội ngũ công
nhân cán bộ kỹ thuật, bên cạnh đó, cần đặc biệt coi trọng việ đào tạo đội ngũ cán
bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao. Đọi ngũ này có vị trí quan trọng
không phải chỉ trong việc điều hành quá trình công nghệ sản xuất sản phẩm, mà
còn cả trong việc cải tiến, hoàn thiện công nghệ, thiết bị vá sản phẩm hiện có ,
làm các công nghệ, , thiết bị ngoại thích ứng với điều kiện Việt Nam. Ngoài ra
cần coi trọng việc nâng cao chất lượng đào tạo ở tất cả các cấp học. Có thể nói
Đại hoc Kinh tế Quốc dân
Đề án quản lý công nghiệp-Lớp công nghiệp 46A
Đề án quản lý công nghiệp-Lớp công nghiệp 46A
23
- Xây dựng và quản lý thương hiệu
-Chọn từ 3 đến 4 doanh nghiệp Nhà nước đủ mạnh làm nòng cốt ở các
khâu: Sợi, dệt, may. Đây là những doanh nghiệp đầu đàn giữ vai trò chủ đạo để
thu hút các doanh nghiệp thuộc các thành phần khác làm vệ tinh.
- Mỗi doanh nghiệp cần chuyên môn hoá, làm chủ một vài công nghệ để
tạo ra những mặt hàng có chất lượng cao.
* Trong khâu dệt.
- Khu vực kinh tế quốc doanh tập trung sản xuất các sản phẩm đòi hỏi vốn
đầu tư lớn, hàm lượng chế biến và kỹ thuật cao như: Sợi các loại, vải chất lượng
cao, sản phẩm dệt kim, nhuộm hoàn tất và in hoa, thiết kế, tạo mẫu cho vải.
- Khu vực kinh tế dân doanh sản xuất các sản phẩm cần đến kỹ thuật thủ
công và sự khéo léo: Lụa tơ tằm, thảm len và làm vệ tinh sản xuất sợi, vải thô
cung cấp cho doanh nghiệp lớn hoàn thiện.
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cần phát huy ưu thế về kỹ thuật để
sản xuất các sản phẩm: Sợi chất lượng cao, vải chất lượng cao, sản phẩm dệt
kim chất lượng cao, thiết kế thời trang cho may, tạo mốt cho vải.
* Trong khâu may.
- Kinh tế quốc doanh tập trung sản xuất sản phẩm: Quần áo may sẵn có
chất lượng và giá trị gia tăng cao phục vụ xuất khẩu như: áo sơ mi, quần tây, áo
jacket, comple, quần áo thời trang cao cấp.
- Khu vực kinh tế dân doanh sản xuất các sản phẩm: Quần áo may sẵn
phục vụ thị trường trong nước và làm vệ tinh may quần áo xuất khẩu, thực hiện
khâu cuối nhằm hoàn thiện và nâng cao giá trị thẩm mỹ cho sản phẩm như thêu
tay và thêu máy
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Kêu gọi đầu tư hợp tác hoặc
100% vốn nước ngoài để sản xuất nguyên phụ liệu may xuất khẩu, thiết kế mẫu
và hợp tác với doanh nghiệp trong nước về thiết kế mẫu thời trang
- Lập một chương trình kế hoạch tổng thể và phải tổ chức nắm bắt trước
được xu hướng và nhu cầu thị trường hàng năm thì chúng ta mới chủ động trong
liên kết hợp tác sử dụng vải nguyên phụ liệu trong nước. Còn cách làm thụ động
như hiện nay chỉ khi khách hàng giao vải để sản xuất rồi chúng ta mới lấy mẫu