BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG LAN QUỲNH
CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MILAN KUNDERA
(QUA CÁC TÁC PHẨM TIÊU BIỂU)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG LAN QUỲNH
CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MILAN KUNDERA
(QUA CÁC TÁC PHẨM TIÊU BIỂU)
Chuyên ngành: Lí luận Văn học
Mã số: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS. LÊ THANH NGA
NGHỆ AN - 2014
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 6
1. Lí do chọn đề tài 6
2. Lịch sử vấn đề 7
3. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 13
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 14
5. Phương pháp nghiên cứu 14
2.3. Sự hoài nghi 49
2.3.1. Sự hoài nghi các bảng giá trị văn hóa
2.3.2. Hoài nghi về sự tồn tại của kiếp người
2.3.3. Sự hoài nghi về các lí giải thế giới và con người
Chương 3 CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MILAN
KUNDERA TRÊN MỘT SỐ BÌNH DIỆN HÌNH THỨC 58
3.1. Tính chất trò chơi và sắc thái giễu nhại 58
3.1.1. Tính chất trò chơi và sắc thái giễu nhại nhìn từ cốt truyện
3.1.2. Tính chất trò chơi và sắc thái giễu nhại của tình huống
3.1.3. Tính chất trò chơi và sắc thái giễu nhại trong chi tiết
3.2. Liên văn bản với thủ pháp liên tưởng, ám gợi 71
3.2.1. Ám gợi về một bản nhạc (con số 7)
3.2.2. Các văn bản triết học
3.2.3. Các văn bản sử học, chân dung, tiểu luận văn học
3.3. Sự dịch chuyển liên tục các điểm nhìn và ngôi kể 81
3.3.1. Sự dịch chuyển liên tục các điểm nhìn - một kiểu quan niệm về cấu
trúc thế giới và vấn đề bản ngã cá nhân
3.3.2. Trò chơi hoán đổi vị trí ngôi kể
3.3.3. Sự cộng sinh của những huyền thoại
KẾT LUẬN 89
5
TÀI LIỆU THAM KHẢO
6
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Milan Kundera là một trong những hiện tượng độc đáo đáng được chú
ý trong văn học Châu Âu hiện đại. Kudera được Russell Banks đánh giá là “nhà
văn uyên bác nhất hành tinh”. Nhiều lần ông là ứng cử viên sáng giá cho giải
Nobel văn chương và được trao tặng các giải thưởng vào các năm 1985, 1987,
2000 và 2007. Tác phẩm của Milan được rất nhiều độc giả trên thế giới hâm mộ
Milan Kundera. Hiện nay, nghiên cứu về Milan đã bắt đầu thu hút được nhiều
đóng góp trong nước và quốc tế.
2.1. Những nghiên cứu về Milan Kundera ở nước ngoài
Đồng bào của Milan Kundera, nhà văn Tiệp Khắc nổi tiếng Bomihur
Herabar bình luận: “Ông là một thân sĩ giỏi giang, một nhà tiểu thuyết xuất sắc,
một nhà nghệ thuật sáng suốt sâu xa, thăm dò tầng sâu của thế giới đạo đức”.
Những năm gần đây, Kundera nhiều lần được đề cử giải Nobel văn học. Người
ta tin rằng Kundera hoàn toàn có tố chất và năng lực để đứng vào hàng ngũ các
nhà văn ưu tú nhất thế giới.
Trong tiểu luận Sứ mệnh của tiểu thuyết (1997 - Ngân Xuyên dịch),
Svetlana Zherlaimova (Nga) cho rằng, “Một trong những hiện tượng độc đáo
đáng được chú ý một cách nghiêm túc trong văn học châu Âu hiện đại, có thể nói
một cách chắc chắn, đó là các tiểu thuyết và tiểu luận về tiểu thuyết của Milan
Kundera. Thực tế là tất cả những gì ông viết ra, kể từ những tập thơ đầu tiên xuất
bản vào những năm 50, đều thu hút sự chú ý của độc giả và làm dấy lên những
cuộc tranh cãi phê bình, mặc dù nhìn chung thơ của ông, cũng như vở kịch
Người giữ nguồn nước (1962) từng gây tiếng vang, vẫn nằm trong khuôn khổ
những quan niệm vốn có hồi ấy về văn học xã hội chủ nghĩa, còn những xung
đột tình yêu từng được coi là mạnh bạo trong tập thơ Độc thoại (1957) đến hôm
8
nay cảm thấy là thường. Nhưng tận trong tính cách và tài năng của Kundera ngay
từ đầu đã có tính phi chuẩn mực, tính luận chiến, chúng sẽ được bộc lộ đầy đủ
trong văn xuôi và các bài luận lí thuyết của ông.” [74]. Svetlana Zherlaimova
xem nhà văn Pháp gốc Tiệp Khắc này là một “hiện tượng” văn học-“hiện tượng
Kundera”- và nhấn mạnh: “Thực chất là ở chỗ các cuốn tiểu thuyết cô đọng của
Kundera, mỗi cuốn đều đáng được phân tích cặn kẽ, mang lại cho độc giả một
cái nhìn độc đáo về thế giới hiện đại và vị trí của con người trong đó, một thứ
triết học riêng về cuộc sống và các quan hệ liên cá nhân. Trong chúng, chủ đề
sắc sảo và các tính cách con người sinh động được kết hợp với những suy tư về
các đề tài triết học và hiện sinh mang tính toàn cầu, còn những bài tiểu luận lí
ngoài và sau cùng là tâm trạng nhớ cố hương, quay về thăm lại quê nhà” [70] và
đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “Tại sao Kudera được dịch giới thiệu ở Việt Nam
mà ít được dịch giới thiệu ở hải ngoại?” [70].
Ở Trung Quốc, theo nhà xuất bản dịch thuật Thượng Hải, chỉ trong năm
2002, 9 cuốn sách của Milan Kundera đã bán được hơn 1 triệu bản. Zhao
Wuping, phụ trách biên tập sách tâm sự: “…Kundera được coi là nhà văn viết
truyện nghiêm túc, các tác phẩm của ông cần cho sinh viên nghiên cứu văn học
tại các trường đại học. Nhưng khi 4 cuốn sách đầu tiên được xuất bản và được
độc giả đón nhận nồng nhiệt, chúng tôi mới biết chúng tôi đánh giá quá thấp sức
cuốn hút của Kundera”. Jin Yijun, đã tốt nghiệp Cao đẳng thời trang London và
là độc giả trung thành của Kundera, bộc lộ: “Tôi đọc hầu hết các tác phẩm của
ông. Milan Kundera kể về nhân loại bằng một văn phong giản dị và trực diện”.
Zhou Kexi, nhà văn kiêm dịch giả tiếng Pháp cho biết, tác phẩm của Kundera,
đặc biệt là The Unbearable Lightness of Being (Đời nhẹ khôn kham) đánh mạnh
vào trí tưởng tượng của độc giả. Sách của Kundera đã xuất hiện ở Trung Quốc từ
20 năm trước và nay lịch sử lại lặp lại.
Dịch giả Pháp, Francois Kérel, lại chú ý đến Milan Kundera với tập truyện
ngắn Những mối tình nực cười: “Các nhà nghiên cứu văn chương Kundera
10
thường chỉ tập trung vào các tiểu thuyết mà bỏ qua tập truyện ngắn có thể nói là
mở đầu văn nghiệp của ông: Những mối tình nực cười . Là tác phẩm đầu tay,
song bảy truyện ngắn trong Những mối tình nực cười không phải là những thử
bút non nớt, nhiều khi tệ hại và ngớ ngẩn như ở trường hợp nhiều nhà văn, ngay
cả các nhà văn lớn nhất. Kundera của Những mối tình nực cười (được viết tại
Bohême từ 1959 đến 1968) đã ngay lập tức khẳng định được “đường cày” cho
riêng mình trong cánh đồng văn xuôi rộng lớn. Các tiểu thuyết sau này sẽ tiếp
tục triển khai các ý tưởng, khung cảnh, ngay cả cách hành văn và kết cấu của
những truyện ngắn này…”
Do hạn chế về ngoại ngữ và tư liệu, những gì mà chúng tôi có dịp tiếp xúc
chắc chắn còn rất ít ỏi so với những nghiên cứu về tác giả này. Tuy nhiên, các tài
hẹp hòi để nhìn bản thân tồn tại. […] Độ sâu mà mũi khoan tư tưởng của Kundera
có thể đạt tới, của cải tinh thần dồi dào về tồn tại ông khai quật lên, đối với chúng
ta vĩnh viễn là được hưởng lợi ích vô cùng” [2]. Bài viết của Hoài Anh lược thuật
lại quá trình viết văn của Kundera với tư cách là một nhà tiểu thuyết, chưa có cái
nhìn tổng quát về sự “cách tân” của Milan trong lĩnh vực tiểu thuyết.
Đặng Thiều Quang viết Milan Kundera khiến tôi bật cười và hổ thẹn… lại
xem Kundera là “người quá tỉnh táo!”. Và dù “biết chắc chắn một điều, tôi sẽ mặc
nhiên xếp ông vào một trong số các bậc thầy”; dù “những thứ Kundera viết ra rất
hấp dẫn, khiến một người viết văn như tôi không tránh khỏi bị ảnh hưởng”, Đặng
Thiều Quang vẫn cho rằng: Milan “không phải là nhà văn mà tôi yêu thích nhất,
bởi ông tỏ ra quá tỉnh táo trong các tác phẩm của mình, trong những cấu trúc phức
tạp đầy tham vọng của nó. Hơn nữa, sự tiết chế và làm chủ kĩ thuật viết của ông
dường như khiến tác phẩm trở nên xơ cứng, tự giới hạn trong những luận đề của
nó” [56]. Nhà văn một mặt khen ngợi: “Có thể nói Kundera rất thời thượng, khi
ông dùng nhiều thủ pháp và kĩ xảo. Sự sum suê trong tác phầm của ông khiến tôi
kinh ngạc. Ngôi nhà tiểu thuyết (hay lâu đài?) của ông được xây dựng từ rất nhiều
12
chất liệu, nền móng là những quan điểm triết học và mĩ học của ông, quan điểm về
xây dựng tiểu thuyết của ông, đó là những viên đá tảng…” [56]. Mặt khác, Thiều
Quang cũng cho rằng: “lâu đài tiểu thuyết của Kundera dần trở nên chật chội và
bức bí, khó thở, …” và “thật kinh ngạc khi Kundera là một tác giả văn chương
hàng đầu thế giới, […] Văn phong của ông khá nghèo nàn, chủ yếu mô tả tình
huống và phân tích tâm lí. Ở khía cạnh này, ông giống một nhà phân tâm nửa
mùa” [56]. Tuy nhiên, Đặng Thiều Quang cũng khẳng định: “Điều lớn nhất mà
ông đem lại cho độc giả là những nhận thức về tư tưởng, sự thức tỉnh nào đó, qua
những điều nực cười, những tiếng cười chua chát, đầy cay đắng, và cũng cay độc
nữa” [56]. Bài viết khá tinh tế và thuyết phục khi thẳng thắn chỉ ra những ưu điểm
và hạn chế của văn chương Milan Kundera.
Lời tựa sách Điệu Valse giã từ (Tủ sách Đông Tây - Nhà xuất bản Hội nhà
văn): “Đây không phải là một tác phẩm dễ đọc, không phải vì nó dày hay các chi
khác đi ít nhiều khi ở đây Milan có những đánh giá sâu sắc về vai trò của thơ và
kịch; Tinh thần dân chủ hậu hiện đại cũng làm cho không gian nghệ thuật được
mở rộng.
Dịch giả Cao Việt Dũng cho rằng “chắc chắn Kundera có ảnh hưởng
không nhỏ ở Việt Nam, theo tôi là ngang với Garcia Márquez”.
Trên đây chưa phải là tất cả thành tựu nghiên cứu M.Kundera, nhưng do
điều kiện tư liệu, khuôn khổ và đối tượng, mục đích của đề tài nên chúng tôi
chưa thống kê hết. Dẫu chưa thực sự có công trình quy mô nghiên cứu một cách
hệ thống yếu tố hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Milan Kundera với tư cách là
đối tượng chuyên biệt, nhưng trong tất cả những gì đã viết về ông, chúng ta thấy
thấp thoáng nhận định về yếu tố hậu hiện đại. Đó sẽ là những gợi ý quý báu cho
chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
3. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
3.1. Đưa ra một cái nhìn khái quát về cuộc đời, sự nghiệp và phong cách
nghệ thuật của Milan Kundera trong bối cảnh lịch sử xã hội - thẩm mĩ của nýớc
CHDCND Tiệp Khắc và nýớc Pháp mà nhà vãn từng sống và viết.
14
3.2. Chỉ ra những biểu hiện cụ thể của cảm quan hậu hiện đại trong tiểu thuyết
của Milan Kundera trên sự khảo sát nhận thức của nhà văn về con người và thế giới.
3.3. Chỉ ra những biểu hiện của cảm quan hậu hiện đại trong tiểu thuyết
của Milan Kundera trên một số bình diện thi pháp.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu trong đề tài của chúng
tôi là cảm quan hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Milan Kundera.
4.2. Phạm vi khảo sát
Thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu tập trung khảo sát 3 tiểu thuyết
của Milan Kundera: Sự bất tử, Bản nguyên, Chậm rãi. Ngoài ra, chúng tôi còn
khảo sát hai tiểu thuyết nữa là Vô tri và Điệu Valse giã từ.
5. Phương pháp nghiên cứu
đầu từ mĩ học về kiến trúc và triết học. Chủ nghĩa hậu hiện đại tán thành thái độ
hoài nghi có hệ thống cái viễn cảnh lấy lí thuyết làm nền tảng. Áp dụng vào nhân
chủng học, thái độ hoài nghi ấy đổi trọng tâm từ sự quan sát một xã hội khác biệt
sang quan sát người quan sát”. Charles Jencks trong bài viết Chủ nghĩa hậu hiện
đại là gì? đã định nghĩa: chủ nghĩa hậu hiện đại “trên căn bản là một thứ hỗn
hợp mang tính chiết trung của bất cứ truyền thống nào với những gì vừa mới
qua: nó vừa là sự kế tục vừa là sự siêu việt hóa của chủ nghĩa hiện đại” [5;65].
Lyotart lại khẳng định: chủ nghĩa hậu hiện đại là thân phận của tri thức trong
những xã hội phát triển nhất và hậu hiện đại là sự hoài nghi về các siêu văn bản.
Ihab Hassan cho rằng: chủ nghĩa hậu hiện đại là một thứ chủ nghĩa hiện đại
muộn (hay chủ nghĩa hiện đại hậu kì), mang tính phi lí tính, phi xác định nhưng
cũng mang tính nhập cuộc. Cùng chung quan niệm với Ihab Hasan, Hoàng Ngọc
Tuấn trong cuộc phỏng vấn của báo Thể thao và Văn hóa đã tuyên bố: “chủ
nghĩa hậu hiện đại không phải là một thứ lí thuyết được đặt ra để điều hướng văn
hóa, văn nghệ, mà nó là cảm thức của con người, nẩy sinh trong một giai đoạn
nhất định của lịch sử nhân loại”. Nguyễn Văn Tùng thì tóm gọn: “Hiểu đơn giản,
17
Chủ nghĩa hậu hiện đại là một cách nhìn nhận thế giới và con người , là hệ quả
tất yếu của thời đại khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão” [68].
Như vậy, chủ nghĩa hậu hiện đại là một khái niệm chưa hoàn tất và còn
tồn tại nhiều vấn đề tranh luận. Tuy nhiên, các ý kiến đều có điểm tương đồng là
định nghĩa chủ nghĩa hậu hiện đại trên cơ sở xác định mối quan hệ giữa chủ
nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại. Mối quan hệ này cũng có nhiều ý kiến
đánh giá khác nhau. Nhiều học giả như Hassan, Michel Foucault… coi chủ nghĩa
hậu hiện đại như là đỉnh cao của chủ nghĩa hiện đại, là sự phát triển logic của
chủ nghĩa hiện đại. Họ cho rằng chủ nghĩa hiện đại và những đặc trưng của nó
chính là những tiền đề tạo điều kiện cho chủ nghĩa hậu hiện đại ra đời. Jean
Francois Lyotart với công trình Điều kiện hậu hiện đại: Bản tường trình về tri
thức lại có quan điểm cực đoan về chủ nghĩa hậu hiện đại. Ông khẳng định
những đột phá không thể ngờ tới do chủ nghĩa này mang lại và khuyến khích con
quan trọng của nền văn học hiện đại. Tuy nhiên, trong những thập niên vừa qua,
những cuộc tranh luận hậu hiện đại khống chế hiện trường trí thức và văn hóa
trong nhiều lĩnh vực và trên khắp thế giới. Lí thuyết văn hóa và thẩm mĩ đã xuất
hiện những cuộc bút chiến về vấn đề chủ nghĩa hiện đại trong các nghệ thuật là
gì, nó chết chưa, và kế tục nó là loại nghệ thuật hậu hiện đại nào. Những kẻ cổ
vũ cho hậu hiện đại thì hướng sự phê phán đầy gây hấn vào văn hóa cổ truyền, lí
thuyết và chính trị. Những kẻ bảo vệ cho truyền thống hiện đại thì không thèm
đếm xỉa tới kẻ thách đấu mới mẻ ấy, hay bằng nỗ lực tiến tới một thỏa thuận và
chiếm đoạt những luận thuyết cùng những quan điểm mới mẻ ấy. Các nhà phê
bình chủ nghĩa hậu hiện đại quay sang tranh luận rằng chủ nghĩa hậu hiện đại chỉ
là một mốt thời thượng và đang qua (Fo 1986; Guatti-1986) một khám phá đẹp
mã của các nhà trí thức trong cuộc tìm kiếm ngôn từ và nguồn cội mới để làm
vốn liếng văn hóa (Brittion-1988) hoặc, dù gì đi nữa nó cũng chỉ là một hệ tư
tưởng bảo thủ đang ra sức phá hoại những lí thuyết và những giá trị mang tính
19
giải phóng của thời hiện đại (Habermas). Thế nhưng, theo thời gian, người ta
phải công nhận chủ nghĩa hậu hiện đại không chỉ là câu chuyện của các nước tư
bản phát triển mà là vấn đề chung của toàn nhân loại. Không ai có thể phủ nhận
sự tồn tại và những thành tựu của phương cách sáng tác này đem lại.
Quá trình tổng hợp những đánh giá của một số công trình nghiên cứu về
chủ nghĩa hậu hiện đại cho thấy đó là một xu hướng nổi bật và chiếm ưu thế
trong sáng tác văn học nửa sau thế kỉ XX với các tác giả tiêu biểu như Franz
Kafka, J.M.Coetzee, M.Kundera… Chủ nghĩa hậu hiện đại in dấu ấn từ trong
thơ, kịch, đặc biệt là văn xuôi và trở thành phương thức sáng tạo nghệ thuật đặc
sắc, nổi bật trong văn chương hiện đại. Chính vì vậy, sáng tác văn học theo
khuynh hướng hậu hiện đại đã và đang trở thành một trào lưu phổ biến và mang
lại không ít thành công cho các nhà văn thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng.
Điều này được minh chứng một cách cụ thể qua các sáng tác văn chương ở các
nước Mĩ la tinh, Đức, Tiệp Khắc, Nhật Bản, Trung Quốc…
Ở Việt Nam, cho đến thời điểm này, vẫn còn nhiều người nghi ngờ về chủ
không ít thành công của chủ nghĩa hậu hiện đại.
Thành công đầu tiên của chủ nghĩa hậu hiện đại phải kể đến là sự tự do
trong cách viết, trong quan niệm về hiện thực, trong quan hệ giữa nhà văn với tác
phẩm và nhà văn với tác giả… Chủ nghĩa hậu hiện đại đã giúp văn học thoát
khỏi những ràng buộc, công thức, những lối mòn định sẵn. Các nhà văn có ý
thức tự giải phóng, tự thoát mình khỏi những thách đố của dư luận. Chủ nghĩa
hậu hiện đại chính là sự sụp đổ của những cái toàn trị, là sự xóa bỏ những cái lớn
lao, là sự nở rộ của những cái ngoại biên, phân mảnh. Nguyễn Hưng Quốc cho
rằng, đó là “cái chết của niềm tin đối với chân lí” [60].
Thành công thứ hai của chủ nghĩa hậu hiện đại là sự lên ngôi của những
tiểu tự sự, những câu chuyện nhỏ mang tính địa phương, nhất thời, không hướng
tới những hiện thực vĩ đại, lớn lao, loại bỏ tính ổn định, trật tự. Đây chính là “cái
21
chết của các đại tự sự” như ý kiến của Nguyễn Hưng Quốc [60]. Còn Hoàng
Ngọc Tuấn có sự so sánh: “Văn chương hậu hiện đại, do đó, giống văn chương
hiện đại ở chỗ nó là một tập hợp của những mảnh vụn; nhưng nhà văn hiện đại
cố gắng đặt những mảnh vụn vào cấu trúc chặt chẽ nào đó, nghĩa là ban cho
những mảnh vụn ấy một tâm điểm (và tâm điểm này là chiếc chìa khóa mở cửa ý
tưởng chủ đạo của tác phẩm), còn nhà văn hậu hiện đại lại để cho mỗi mảnh vụn
nằm ở một chỗ riêng của nó, mỗi mảnh vụn tự nó là một tâm điểm. Có thể nói đa
tâm điểm là một trong những đặc điểm nổi bật của nghệ thuật hậu hiện đại …”
[5;229]. Đây là biểu hiện của lối sáng tác phi trung tâm hóa.
Thành công nữa của chủ nghĩa hậu hiện đại là đem lại cho độc giả một trò
chơi ngôn ngữ mang tính dân chủ tối đa bởi các nhà hậu hiện đại xem việc sáng
tác như một trò chơi. Với quan niệm không thể làm chủ được ngôn từ, “nhà văn
hoạt động như một kẻ tôi tớ đã để cho văn bản hoạt động một cách tự do vượt ra
ngoài ý định của chính mình” [5; 409], nhiều cây bút hậu hiện đại tiến hành trò
chơi ngôn từ, đảo lộn ngôn ngữ của mình, đoạn tuyệt với ngữ pháp, cố gắng tạo
ra ngôn ngữ của riêng mình. Họ đưa vào tác phẩm rất nhiều chất liệu từ hội họa,
kiến trúc, điêu khắc tới âm nhạc,… Họ muốn làm mờ ranh giới giữa hư cấu và
nghiệm không chỉ của nhà văn mà còn của người đọc. Những thành tựu mà văn
học hậu hiện đại đem lại thật đáng ghi nhận. Nó đã chứng tỏ sức sống mạnh mẽ
của mình sau bao hoài nghi, tranh đấu, thậm chí phủ nhận. Và nó cũng chờ đợi
những sáng tạo mới, thành công mới.
1.2. Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của Milan Kundera
1.2.1. Tiểu sử
Milan Kundera sinh ngày 01 tháng 4 năm 1929 ở Moravia, Brno - thành
phố lớn thứ nhì nước cộng hòa Tiệp Khắc (cũ) - trong một gia đình trí thức trung
lưu. Cha là một nhạc sĩ dương cầm, nhà nghiên cứu âm nhạc nổi tiếng, đồng thời
là người thầy dạy đàn piano đầu tiên của ông. Sau này Kundera cũng theo học
23
nhạc lí. Tham khảo và ảnh hưởng âm nhạc có thể tìm thấy trong các tác phẩm
của ông, thậm chí ông còn đưa các nốt nhạc vào giữa các trang viết của mình.
Kundera tốt nghiệp trung học tại Brno năm 1948, sau đó theo học văn học và mĩ
học tại Khoa Nghệ thuật, Đại học Karlova ở Praha, nhưng chỉ sau hai học kì, ông
chuyển sang Khoa Điện ảnh tại Học viện Nghệ thuật biểu diễn Praha. Năm 1950
ông bị buộc dừng học vì lí do chính trị. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1952, ông
được bổ nhiệm làm giảng viên văn học thế giới tại Khoa Điện ảnh. Milan thuộc
về thế hệ những người Séc mà tuổi trẻ không được trải qua nền cộng hòa trước
thế chiến. Ý thức hệ của họ bị ảnh hưởng nặng bởi Thế chiến thứ hai và tình
trạng quân Đức chiếm đóng. Vì vậy, năm 1948, khi còn rất trẻ, ông tham gia
thành lập Đảng Cộng sản Tiệp Khắc. Năm 1950, ông bị khai trừ khỏi đảng vì lí
do “chống đảng”. Ông được tái kết nạp vào đảng năm 1956 và lại bị khai trừ
năm 1970. Cũng như phần lớn giới cầm bút và trí thức Tiệp lúc bấy giờ, ông
tham gia vào cuộc nổi dậy mùa xuân năm 1968, lên tiếng đòi tự do và dân chủ.
Phong trào ấy bị Nga dẹp tan. Sau đó, Kundera bị đuổi ra khỏi trường đại học;
tất cả sách của ông đều bị loại trừ ra khỏi các thư viện; và ông không còn được
phép xuất bản bất cứ thứ gì trong nước nữa. Năm 1975, Kundera bị bức rời khỏi
tổ quốc ông, lưu vong sang Pháp và được trường Đại học Rennes ở Pháp mời
dạy. Năm 1979, chính quyền Tiệp tước quyền công dân của ông. Hai năm sau,
bỗng thành nhà văn lớn trong nước, và bắt đầu được thế giới chú ý. Năm 1969,
Kundera hoàn thành trứ tác quan trọng Cuộc sống không ở nơi đây nhưng đến năm
1973 tác phẩm mới ra đời bằng bản Pháp văn. Tiểu thuyết này giúp Milan được giải
thưởng văn học ngoại quốc của Pháp năm 1973 - giải thưởng Médicis. Tác phẩm là
sự đan xen với nhau một cách quán xuyến trước sau giữa thanh xuân, tình yêu và
cách mạng, vừa có suy nghĩ về số phận con người dưới tình huống lịch sử đặc định,
vừa thể hiện ra sự thăm dò bản chất của số phận và lịch sử.
Năm 1975, Milan Kundera bị bức rời khỏi tổ quốc, sống lưu vong tại
Pháp. Tại đây, ông tiếp tục sự nghiệp sáng tác của mình. Năm 1975, ông xuất
25
bản tiểu thuyết Điệu Valse giã từ . Tiểu thuyết này được giải thưởng văn học
ngoại quốc của Italia - giải thưởng Mondro. Tác phẩm phản ánh chặng đường
sống và chặng đường tư tưởng của phần tử trí thức Tiệp Khắc trong giai đoạn
lịch sử đặc thù sau chiến tranh thông qua câu chuyện xảy ra ở một khu điều
dưỡng suối nước nóng gần Praha, “nơi tụ họp để giã từ”. Cuộc tụ họp hỗn loạn
này cuối cùng kết thúc bằng bi kịch, trong giọng văn thoải mái và trào phúng hí
hước mang nỗi buâng khuâng và buồn rầu sâu xa. Cùng năm, Kundera còn xuất
bản cuốn tiểu thuyết Sách cười và lãng quên. Bình luận chính trị đã dần biến mất
trong tác phẩm của ông. Tiểu thuyết này tiến hành phân tích và suy nghĩ sâu sắc
giữa hai mệnh đề “cười” và “quên”, chỉ ra “cuộc đấu tranh giữa con người với
cường quyền là cuộc đấu tranh của nhớ và quên”. Sách cười và lãng quên có một
phong cách riêng, tăng cường chủ đề suy nghĩ và chất vấn trong tác phẩm của
Kudera: cường quyền và nhân tính, lịch sử và tồn tại. Năm 1984, Kundera xuất
bản tác phẩm nổi tiếng nhất của mình, được coi là “một trong những tiểu thuyết
vĩ đại nhất thế kỉ XX”: Đời nhẹ khôn kham. Đây là cuốn sách thể hiện suy tư của
tác giả về sự mong manh của kiếp người, ai cũng chỉ sống cuộc đời mình một lần
duy nhất và cũng có thể là đã chẳng sống tí nào. Ở đây không có chỗ cho sự lặp
lại, kinh nghiệm, thử nghiệm và sai lầm. Năm 1986, Kundera dùng Pháp ngữ
xuất bản tiểu luận Nghệ thuật tiểu thuyết. Kundera chủ trương một quan niệm
mới mẻ và độc đáo về tiểu thuyết. Theo ông, tiểu thuyết không chỉ là một thể