Khoá luận tốt nghiệp Văn học Tự sự hậu hiện đại trong tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư - Pdf 26

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận “Tự sự hậu hiện đại trong tiểu thuyết Sông của
Nguyễn Ngọc Tư” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai. Những
số liệu, kết quả ghi trong khóa luận là trung thực và chưa công bố ở công trình khác.
Nội dung bài khóa luận có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải
trên các trang web, tạp chí theo danh mục tài liệu tham khảo của khóa luận. Nếu sai tôi
hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Quảng Bình, tháng 6 năm 2014
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Hồng Vân
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến quý thầy cô giáo Trường
Đại học Quảng Bình đã tận tâm dạy dỗ, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu
trong suốt khóa học vừa qua.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô giáo trong khoa Khoa học
Xã hội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Tha thiết và trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến cô giáo – Thạc sĩ Trần Thị Mỹ
Hồng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn
thành khóa luận.
Xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm học liệu trường Đại học Quảng Bình đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi về tài liệu, cảm ơn gia đình cũng như bạn bè đã luôn động viên,
khích lệ tôi trong suốt khóa học và trong suốt thời gian nghiên cứu, hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp.
Trong quá trình thực hiện khóa luận này do điều kiện thời gian và năng lực còn
hạn chế nên chắc chắn vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý
của quý thầy cô và toàn thể các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Kính chúc quý thầy cô giáo và các bạn sức khỏe, hạnh phúc và thành công
trong cuộc sống!
Trân trọng cảm ơn!
Quảng Bình, tháng 6 năm 2014
Sinh viên

những cảm quan về cuộc sống và con người của các nhân vật, đồng thời đó cũng chính
là của Nguyễn Ngọc Tư. Ở cuối tác phẩm, khi chuyến hành trình khám phá sông Di
chưa đến thượng nguồn, nhân vật “Cậu” đã quyết định kết thúc hành trình nơi rốn Túi,
một rốn nước “Mười người ra chín người mất” của sông Di, cùng những người đồng
hành. Đó cũng là sự trải nghiệm cuối cùng của các nhân vật trong cuộc sống này.
Nguyễn Ngọc Tư đã trải nghiệm với thể loại tiểu thuyết mà “Sông” chính là tác
phẩm đầu tay của chị. Tiểu thuyết “Sông” đã được đăng tải rộng rãi trên các báo, tạo
thành một “hiện tượng văn học” đáng chú ý của năm 2012. Nguyễn Ngọc Tư ngay lập tức
chiếm được cảm tình của đông đảo độc giả bằng một văn phong nhẹ nhàng, một tấm lòng
trong trẻo, một sự tài hoa mộc mạc đầy nắng gió phương Nam.
1
1.2. Thời điểm chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài khóa luận này,
gia tài tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư chỉ có “ Sông”. Đây quả là một con số còn rất
khiêm tốn và chỉ mới bắt đầu đối với một nhà văn trẻ. Cuộc sống vốn luôn vận động
không ngừng và đời sống văn học cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Bằng chứng là
văn chương nước ta đang từng ngày từng giờ khởi sắc với sự đóng góp đặc biệt mạnh
mẽ của các nhà văn trẻ, trong đó có Nguyễn Ngọc Tư. Vì lẽ đó, việc kịp thời tìm hiểu
đặc điểm tự sự hậu hiện đại của tác giả Nguyễn Ngọc Tư là một công việc có ý nghĩa
thực tiễn cao để bổ sung cho công tác phê bình - nghiên cứu văn học hiện nay. Hiếm
có nhà văn nào mới sáng tác mà đã sớm khẳng định được vị trí, vùng sáng tác và
phong cách sáng tác chuyên biệt như Nguyễn Ngọc Tư. Từ nay, chúng ta có Nguyễn
Ngọc Tư, một nhà văn của nông thôn và nông dân Nam Bộ, một nhà văn sáng tác bằng
ngôn ngữ Nam Bộ rặt ròng để bản thân tác giả và tác phẩm nghiễm nhiên trở thành
“đặc sản miền Nam”. Vì vậy, nghiên cứu tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư một cách
khoa học và có hệ thống không chỉ có ý nghĩa đối với công việc nghiên cứu - phê bình
văn học đơn thuần mà nó còn có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu văn hóa nông thôn
Nam Bộ.
Việc nghiên cứu, đánh giá tác phẩm của một tác giả đã có vị trí ổn định trên văn
đàn đã khó khăn, tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật, đánh giá tài năng và khẳng
định những dấu hiệu phong cách của một tác giả mà hành trình sáng tạo còn đang vận

vừa men theo dòng chảy tâm trạng để nhân vật bộc lộ mình. Từng chương, từng
chương của “Sông” hiện lên như những truyện ngắn. Lối viết nhẩn nha, dẫn dụ tạo nên
sự hấp dẫn từ những mảng miếng tưởng như rời rạc, chắp vá, câu chuyện dần mở ra
theo từng trang sách. “Sông” như đời người với những khúc quanh. Sông vừa quen
vừa lạ, vừa là Tư của hiện tại vừa là Tư của một chuyển tiếp ” Viết một cách hồn
nhiên, chân thành, nghiệp viết như mối duyên tiền định với Nguyễn Ngọc Tư, đến nỗi
chị bảo mình không làm việc gì tốt hơn nghề viết. Và ở Sông, chị đã thực hiện một
cuộc hành trình đi tìm chính mình, cho dù có vất vả, mệt mỏi nhưng để tìm ra được
mình, biết mình cần gì, biết mình phải làm gì là điều cần nhất.
Nguyễn Thế Thanh nhận xét: “Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư đậm tính nhân
văn và tiếp tục là hành trình đổi mới của nhà văn trên mảnh đất ngọn nguồn phù sa.
“Tôi nghĩ “Sông” đặc biệt với Tư bởi cô đã bước ra khỏi vùng quen thuộc của mình.
Vùng quen thuộc của Tư là truyện ngắn. Một vùng quen thuộc khác là tản văn rất hấp
dẫn người đọc. Bây giờ Ngọc Tư bỏ lại sau mình tất cả những thói quen ấy, sở trường
ấy để bước vào một thử thách mới là tiểu thuyết. Bản thân cô không nghĩ rằng sẽ viết
một tác phẩm hoành tráng, cô chỉ biết là cô sẽ tự đổi mới mình. Cách viết cũng lạ lẫm
3
hơn, cách xây dựng nhân vật cũng lạ lẫm hơn. Có người cũng nhận xét về cuốn tiểu
thuyết mới Sông của Nguyễn Ngọc Tư là nó đẹp, nó hư ảo và nó cũng đáo để nữa”.
Trên báo “Người lao động” trang Văn hóa giải trí ngày 13/09/2012 trong bài
viết “Đi dọc Sông với Nguyễn Ngọc Tư” có đăng lời nhận xét của nhà văn Nguyễn
Nhật Ánh như sau: “ Văn chương là thứ không thể sốt ruột được. Với nhà văn quê Đất
Mũi này cũng vậy. Có vẻ như thời gian “náu” mình vào tản văn cũng là lúc chị chọn
cho mình cách nương náu trong những điều thẳm sâu của cuộc sống, quan sát, thu
lượm những sự kiện chuẩn bị cho một bước sông dài”. Tiểu thuyết Sông được đánh giá
là độc đáo, đầy tính thời sự mà cũng giàu chất thơ. Nguyễn Ngọc Tư nói chị không có
chủ đích “hoạch định chỉ tiêu” hay lập trình tác phẩm cho từng năm, từng chủ đề, chỉ
viết bằng “sự mơ mộng, tưởng tượng về một thế giới chưa từng tới, về những con
người chưa từng thấy, những con người chưa từng gặp hoàn toàn không vì một trải
nghiệm nào”.

giọng văn sắc lạnh hơn, đáo để hơn.
Hoài Phương với bài viết “ “Sông” và hành trình “bản ngã” của Nguyễn Ngọc
Tư” đã nhận xét: “Đọc Sông ta cảm nhận được những “áp lực” đè lên Nguyễn Ngọc
Tư. Điều đó dễ hiểu. Từ độ Cánh đồng bất tận đến nay đã là một khoảng thời gian đủ
cho người đọc có quyền mong đợi ở chị một sự bứt phá, hoặc, chí ít, một sự khác đi.
Chưa kể Sông còn là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của cây bút văn xuôi xuất sắc này. Có
phải vì cái áp lực vô hình đó mà ở Sông, ta gặp một giọng văn dường như có chút phân
vân, chênh chao, đôi chỗ gồng lên, như thể muốn dứt khỏi cái mình đã là nhưng chưa
tới được cái mình muốn là. Thật thú vị, cái giọng văn đang đi tìm chính mình ấy, vô
tình, hay nếu là chủ ý thì trong một xếp đặt khéo léo đến mức không còn dấu vết của
tính toán, lại phù hợp kỳ lạ với cái ý tưởng xuyên suốt tiểu thuyết Sông, làm nên cái
“duyên” riêng của nó”. Hoài Phương đã nhận xét rất đúng và sát thực về cây bút
Nguyễn Ngọc Tư cũng như giá trị của tiểu thuyết Sông. Sông chính là một sự bứt phá
của tác giả từ thể loại truyện ngắn sang thể loại tiểu thuyết. Mặc dù còn có những hạn
chế nhất định, chưa thật hoàn chỉnh nhưng tiểu thuyết vẫn thể hiện được cái “duyên”
của riêng mình.
Trong bài viết “Không gian sông nước trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc
Tư” của Thụy Khuê, tác giả đã nhận xét: “Nguyễn Ngọc Tư nổi tiếng về những truyện
ngắn khá hay viết theo lối truyền thống. Chị thường kể lại những nổi u hoài trầm lặng, sự
nhẫn nại chịu đựng cam phận trong tâm hồn người dân quê miền Nam, mà đời sống gắn
bó với con kinh, con rạch. Giọng văn và tinh thần sông nước của chị như một truyền
thống nối dài từ Bình Nguyên Lộc, người đã gắn liền hai yếu tố đất và nước, thành ý
5
nghĩa thiêng liêng của hai chữ đất nước. Tư tưởng này, truyền qua Sơn Nam, đến Nguyễn
Ngọc Tư, là thế hệ thứ ba, tuy đã bớt đậm đặc đi, nhưng vẫn đem lại cho người đọc, nhất
là người đọc khác miền, những cảm xúc mới”.
Trên báo Văn nghệ (số 39), ra ngày 24/09/2004, tác giả Hoàng Thiên Nga có
bài: “Đọc Nguyễn Ngọc tư qua Cánh đồng bất tận”. Hoàng Thiên Nga đã nêu lên
những ý kiến cảm xúc khá chân thành của mình về truyện ngắn. Trong đó tác giả đề
cập đến: “Các nhân vật trong truyện đầy tính thiện nhưng cái vòng luẩn quẩn của đói

“Sông” của Nguyễn Ngọc Tư.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1. Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu đánh giá chính xác nhất những nét
nổi bật trong đề tài nghiên cứu. Chúng tôi khảo sát các hiện tượng lặp lại ở một số các
yếu tố thuộc về nội dung và hình thức của tác phẩm. Sau đó, chúng tôi dựa vào tần số
xuất hiện của các yếu tố đó để hệ thống hoá và khái quát hóa lên thành những đặc
điểm riêng và ổn định của nhà văn.
Ngoài ra việc sử dụng phương pháp này để thống kê những hình ảnh, biểu
tượng, những cách thức diễn đạt theo kiểu ngôn ngữ Nam Bộ để phục vụ cho việc tìm
hiểu về ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
4.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp được sử dụng một cách phổ biến để phân tích những đặc điểm về
nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Nguyễn Ngọc Tư, các bình diện khảo sát gồm:
cảm quan về con người và cuộc sống, thế giới nhân vật, không gian, thời gian, ngôn
ngữ và giọng điệu, các biểu tượng…Rồi từ đó, chúng tôi rút ra những nhận xét chung,
khái quát, tiêu biểu cho tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư.
4.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Để thấy được phong cách riêng của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng như sự đóng
góp của Nguyễn Ngọc Tư cho nền văn học Việt Nam đương đại, trong quá trình nghiên
cứu người viết có tiến hành so sánh đối chiếu Nguyễn Ngọc Tư với một số cây bút tiểu
thuyết khác ở từng vấn đề có liên quan để thấy được những nét tương đồng và khác biệt,
từ đó thấy rõ hơn về thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư.
7
5. Đóng góp của khoá luận
Về mặt lí luận, đề tài nghiên cứu “Tự sự hậu hiện đại trong tiểu thuyết “Sông”
của Nguyễn Ngọc Tư” dưới ánh sáng của lí thuyết hậu hiện đại, từ đó đưa ra một cách

sau tạp chí đăng tập truyện Đổi thay, tác giả mới nhận thấy rằng không ai có thể sống
mà không có hi vọng và ước mơ. Chị nói “Tôi quyết định nuôi dưỡng khát vọng sống
của tôi và mọi người quanh tôi thông qua các tác phẩm. Đây là hoài bão lớn nhất của
tôi.” [48]. Từ đó, cái tên Nguyễn Ngọc Tư dần tỏa sáng trên bầu trời văn nghệ. Chị
được nhận vào làm văn thư và làm phóng viên tại tạp chí Văn học và nghệ thuật Cà
Mau. Tác phẩm đầu tay là tập kí sự Nỗi niềm sau cơn bão dữ đã đưa chị vào nghề văn
chính thức với giải ba báo chí toàn quốc năm 1997 và sau đó là rất nhiều giải thưởng
khác. Chị đã gia nhập Hội nhà văn Việt Nam và được coi là một trong những nhà văn
trẻ gây được chú ý ở Việt Nam. Hiện nay, Nguyễn Ngọc Tư cùng gia đình sinh sống
tại thành phố Cà Mau, làm việc tại Hội Văn học Nghệ thuật Cà Mau.
Trong đời thường, Nguyễn Ngọc Tư thích cuộc sống giản đơn nhưng nội tâm
đầy phức tạp, chị tâm sự: “Chúng ta từng bị xơ cứng bởi cuộc sống tẻ nhạt buồn tênh,
nhưng nguy hiểm hơn chúng ta lại trở nên trơ lì bởi chính cuộc sống bon chen, bận
rộn, khi người ta không còn đủ thời gian để mà vui hay buồn…” [50]. Còn trong văn
chương, chị ví truyện ngắn của mình như trái sầu riêng, nhiều người thích nhưng
9
không ít người dị ứng. Số lượng tác phẩm chính đã xuất bản lên đến hàng chục ở rất nhiều
thể loại: truyện ngắn, tạp văn, tản văn, tạp bút, …trong đó phải kể đến một số tác phẩm
tiêu biểu: Ngọn đèn không tắt, Cánh đồng bất tận, Gió lẻ, Ngày mai của những ngày mai,
…Cùng với đó, số lượng giải thưởng dành cho Nguyễn Ngọc Tư cũng khá nhiều.
Đặc biệt, Nguyễn Ngọc Tư thành công với thể loại truyện ngắn. Trong cuốn
“Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại” của Đào Duy Thiệp có rất nhiều trích dẫn
được gọi là “quan điểm về truyện ngắn”. Chế Lan Viên nói: Truyện ngắn là “một
chương…của cả đời văn tác giả”, Bùi Hiển cho rằng: Truyện ngắn là “một khoảnh
khắc trong cuộc đời một con người”, Nguyễn Minh Châu quan niệm: Truyện ngắn là
“chọn trong cái dòng đời xuôi chảy một khoảnh khắc thời gian mà ở đó có cuộc sống
đậm đặc nhất, một khoảnh khắc đời sống”. Còn theo Nguyễn Thành Long thì: “Truyện
ngắn không phải là truyện dài tóm tắt, ta chưa tìm ra được cái mô- măng ấy thì còn
chưa viết được truyện ngắn”. Đó là những quan điểm khác nhau của những nhà thơ,
nhà văn tên tuổi. Với Nguyễn Ngọc Tư, truyện ngắn của chị cũng là con đường, cũng

nông dân chân chất với những ước mơ và cuộc sống hết sức bình dị đời thường rất
đáng cảm thông, trân trọng, nhưng đôi khi cuộc đời nghiệt ngã cũng không cho họ
được như ý, được toại nguyện như: Chuyện của Điệp, Nhớ sông, Đau gì như thể, Cải
ơi, Cánh đồng bất tận,
Truyện ngắn Cải ơi đề cập tình cảnh của ông già Năm Nhỏ phải chịu tiếng oan
là “giết con” khi nhỏ Cải - con gái của vợ ông làm mất đôi trâu, sợ đòn, bỏ trốn. Cuộc
hành trình dài tìm con, với nhiều cách khác nhau của một người cha dượng, có nhiều
chi tiết hết sức tình người và đầy xúc động. Những chi tiết này là cuộc sống sinh hoạt
đời thường, bình dị, giàu chất Nam Bộ và cũng thấm đượm tình người: “Ông già Năm
Nhỏ lặng đi, tự hỏi, bây giờ ông lên tivi, con Cải có nhận ra ông không. Câu trả lời là
có, ông đã dắt con nhỏ đi hái xoài chín trong vườn hoang, đã chặt chuối làm bè dạy
cho nó lội, thả trâu, chơi diều, ông đã cõng con nhỏ đi tắt mấy vạt đồng đến khám
bệnh chỗ ông bác sĩ già, mỗi khi nó nhức đầu, sổ mũi. Cây kẹp nhỏ, mớ dây thun
khoanh, mấy cục kẹo dừa vung vinh trong túi áo mỗi khi ông đi chợ về Tất cả những
thứ đó, ông nhớ mồn một thì nhỏ Cải chắc chưa quên. Ông già muốn lên tivi để nhắn
đứa trẻ bỏ nhà rằng, về đi con ơi, đôi trâu có sá gì!” [46]. Nhân vật trong truyện của
Nguyễn Ngọc Tư phần lớn là những con người ít phản kháng trước những ngang trái,
bất công, nhưng giỏi sự chịu đựng. Cụ thể như gia đình Tư Nhớ trong truyện Đau gì
như thể , hoặc một nhóm người nông dân nghèo ở Trảng Cò trong truyện Lỡ mùa.
Người nông dân khổ vì không có đất canh tác do những quy hoạch treo. Họ mất đất,
11
nên luôn ao ước được cày bừa trên mảnh đất của chính mình, mỗi khi thấy mưa về,
nhưng giờ đây cũng không được: “Trời vẫn trĩu đầy nước, tối âm u, ông Ba thấy núi
mây đen thẫm dựng lên một mảng trời phía Trảng Cò, ông chặc lưỡi như xót xa lắm,
điệu này dưới mình mưa lớn dữ, đất chắc chìm hết rồi, đồng chỉ chắc còn loi ngoi cỏ,
muốn cày, bừa cũng khó lắm đây. Ông Ba già nghe ruột mình nôn lên, từng khúc, từng
khúc, nghẹn ứ đến mức ông không lên tiếng được”.
Trong những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, có rất nhiều truyện đề cập tới tình
yêu đôi lứa ở nông thôn, với những ước mơ đơn giản, bình dị. Có những tình yêu gắn
kết nhưng phải qua bao nhiêu thăng trầm, sóng gió như truyện Bến đò xóm Miễu,

sự am hiểu tường tận của nhà văn về vùng đất đồng bằng và tâm lý của con người
Nam Bộ.
Ngôn từ truyện ngắn mà Nguyễn Ngọc Tư sử dụng hết sức dân dã, đậm chất
Nam Bộ. Từ ngôn ngữ dẫn truyện đến ngôn ngữ nhân vật, nhất là ngôn ngữ nhân vật,
đều khá thuần chất Nam Bộ. Số lượng từ ngữ Nam Bộ được dùng trong tác phẩm của
chị khá lớn. Đặc điểm này tạo nên ở truyện của chị một văn phong riêng mà nhiều
người cảm thấy yêu thích. Trong các truyện của chị có rất nhiều từ ngữ địa phương
Nam Bộ được chị sử dụng khá thích hợp, thậm chí có những từ dùng rất đắt phản ánh
được đặc trưng của một vùng quê Nam Bộ. Tất cả đã góp phần tạo nên văn phong
riêng của chị.
Cùng với thể loại truyện ngắn, thì thể loại tản văn cũng đóng vai trò lớn trong sự
nghiệp văn chương của Nguyễn Ngọc Tư (Rừng bần, Người đi ngang cửa, Bánh trái mùa
xưa, Nửa nọ nửa kia,…) Với cách viết, đề tài, ngôn ngữ giọng điệu, nhân vật,…quen
thuộc như ở thể loại truyện ngắn, tản văn Nguyễn Ngọc Tư cũng đang dần khẳng định vị
trí của mình trong sáng tác của tác giả và của văn học Việt Nam.
Thể loại tản văn đang dần chiếm vị trí xứng đáng trong phong cách sáng tác của
Nguyễn Ngọc Tư. Vẫn là giọng điệu thủ thỉ tâm tình của nhà văn vùng Đất Mũi về
những câu chuyện “nhỏ xíu” quanh mình. Vẫn là chút lòng “để gió cuốn đi” của người
ăn cơm nông dân, tắm nước sông và nghĩ về nông thôn với tất cả sự thuần hậu yêu
thương. Ta đã từng gặp điều ấy trong những truyện ngắn làm nên phong cách Nguyễn
Ngọc Tư. Viết tản văn - viết những chuyện nhỏ bé, tưởng như dễ nhưng thực chất lại
rất khó. Làm sao để tạo một dư vị đằm sâu trong lòng độc giả vốn là việc “thiên nan
vạn nan”. Nói chuyện nhỏ mà vấn đề thực chất lại lớn, nói chuyện thời thế mà chạm
đến đáy những tấm lòng trong thiên hạ là việc chẳng dễ dàng gì. Thế mà bằng giọng
điệu nhỏ nhẹ ấy, Nguyễn Ngọc Tư đã làm được. Đọc sách, để nghe chị kể về miền quê
đất Mũi: “ Gió mùa phây phẩy, gió đưa trời lộng lên cao, phù sa bắt đầu nôn nả lấn
13
biển rồi không lâu lắm đâu, từ bãi bồi, đất sẽ cồn lên, một rừng mắm xanh non rào rạt
tiến về phía trước giữ đất lại cho người ” [45; 12]. Đọc sách, ta cùng chị ghé những
quán chợ ven đường với những buổi họp chợ dường như “chỉ để trao đổi, san sẻ với

ấy, nhưng rõ ràng tiểu thuyết Sông đã cho thấy sức sáng tạo không mệt mỏi của một
cây bút còn đầy nội lực. Nguyễn Ngọc Tư của truyện ngắn hay của những tản văn là
ám ảnh lòng người với những lát cắt. Sông trải dài, kể thừa một câu chuyện qua trang
sách, qua những câu chuyện trong một hành trình dấn thân, chạy trốn đầy đau đớn của
chính các nhân vật trong tiểu thuyết.
Tiểu thuyết Sông đã thực sự đem đến cho nguời đọc cảm giác ngỡ ngàng bằng
một chuyến hành trình khám phá dòng sông Di bí ẩn của nhân vật chính và các bạn
đồng hành của mình. Ở đây đã không còn nữa những hình ảnh một vùng quê trù phú,
với những người nông dân phóng khoáng, giàu nghĩa hiệp như trước đây vốn đã xuất
hiện rất nhiều trong các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư. Thay vào đó là một thế
giới của sự trải nghiệm, chiêm nghiệm cuộc sống của các nhân vật. Ở đó có Ân, nhân
vật muốn vứt bỏ những gì hoa lệ, quen thuộc của cuộc sống hiện đại thường ngày để
tìm đến với những vùng đất dọc sông Di, vừa quen thuộc, vừa mới lạ, nhân vật vừa
như muốn vứt bỏ những gì đã qua vừa như muốn tìm lại, níu giữ lấy nó. Ở đó còn có
những cảnh đời vất vả, sống vô định như Bối, Xu, Ánh, San,…họ đã trải qua vất vả,
những khó khăn trong cuộc đời, theo đuổi đam mê như muốn quên, muốn nắm giữ một
thứ gì đó hoàn toàn không có thực. Ở đó còn có người em gái dám rút ống thở của anh
mình như là một sự giải thoát cho bản thân, đồng thời cũng muốn cho anh mình tìm
được hạnh phúc. Hay một ông già trở về sau chiến tranh, mang đầy thương tích, muốn
gội sạch tất cả những tội lỗi, nhơ nhuốc trong qúa khứ, song đó chỉ là sự chạy trốn,
sống giả với chính mình.
Trên nền những tình tiết truyện như vậy, Nguyễn Ngọc Tư đưa người đọc đến
những khái quát, những triết lý sâu sắc, những bài học trong cuộc sống. Cho dù con
nguời có rơi vào bị kịch khổ đau, cô đơn thế nào, không tìm thấy mình trong thực tại
ra sao thì họ vẫn không buông tay, đằng sau mỗi bi kịch là một niềm hy vọng khôn
nguôi về một sự đổi thay của số phận. Dẫu số phận con người có tủi nhục, cô đơn đến
đâu thì họ vẫn luôn muốn vượt lên nó, khát vọng nổi loạn, dấn thân, khẳng định bản
thân vẫn không hề thay đổi.
Nguyễn Ngọc Tư được hỏi khi ra mắt tiểu thuyết Sông: “Chị mang theo gì và
bỏ lại gì ?” Nhà văn đã trả lời: “Mình bỏ lại Cánh đồng”. Chị giải thích, trong khi mọi

Nguyễn Ngọc Tư giống như những trang viết của chị, không son phấn, không
điệu đà. Ngay cả cách nói chuyện cũng vậy, ngắn và không vòng vo. Nhiều ý kiến cho
rằng, với cách viết miêu tả hiện thực nhưng lại được xử lý theo kiểu “hư ảo” như ở
tiểu thuyết Sông, có lẽ tác phẩm sẽ không làm mách lòng ai ngoài đời nhưng sẽ khiến
người đọc phải suy ngẫm về nó một cách nghiêm túc. Hành trình đi tìm lại con người
16
thật của Ân, khao khát hạnh phúc của Xu, sự nổi loạn của San, vẻ buông xuôi của Tú
và niềm riêng của biết bao nhiêu con người trong tác phẩm cũng có thể là của chung
cho những thân phận người trong thế giới hôm nay. Chắc chắn từ Sông, Nguyễn Ngọc
Tư sẽ tiếp tục hành trình khắc họa những dằn vặt, những khao khát của con người
trong cuộc sống vốn không giản đơn này.
Có thể nói Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn có tài năng thiên bẩm. Cùng với
Sông, chị đã tự mình gõ tay vào một thể loại mới, một phong cách mới. Cũng như các
nhân vật trong tiểu thuyết, phải chăng Nguyễn Ngọc Tư cũng đang như vậy, đang
muốn dấn thân, nổi loạn trong phong cách viết của mình. Có chị, dòng văn học Nam
Bộ được biết nhiều hơn trong cả nước. Bằng chính tài năng và tâm huyết của mình,
Nguyễn Ngọc Tư đã đóng góp một phần công lao vào sự nghiệp phát triển văn chương
chung của nước nhà.
Tiểu thuyết Sông ra đời một lần nữa khẳng định được tài năng văn chương của
Nguyễn Ngọc Tư. Nếu như trước đây, trong truyện ngắn hay tản văn của chị thấp
thoáng hình ảnh dòng sông, thì bây giờ trong tiểu thuyết dòng sông là hình ảnh chủ
đạo, xuyên suốt tác phẩm. Dòng sông Di mang tính biểu tượng nhưng cuốn theo dòng
chảy của nó là dòng đời của những con người ở những vùng đất khác nhau có mặt
trong hành trình khám phá của nhân vật “cậu” và những người đi cùng. Mỗi con người
một số phận, mỗi con người một tính cách không ai giống ai. Điều đó đã làm nên sự đa
dạng, đa chiều trong cách nhìn cuộc sống cho mỗi đọc giả. Thông qua mỗi nhân vật,
con người có thể soi chiếu bản thân mình, tìm thấy cho mình hình ảnh thật nhất.
1.2. Quan niệm văn chương
1.2.1. “Tôi viết như cảm xúc của mình”
Cảm xúc hay tình cảm là một hình thức trải nghiệm cơ bản của con người về

bền vững, và Nguyễn Ngọc Tư đã làm được điều đó.
Với Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn phải luôn là chính mình cho dù có những nhận
xét, dư luận thậm chí trái chiều, không đồng tình với những sáng tác của mình. Do đó,
cũng chính bởi quan niệm là văn viết bắt nguồn từ những cảm xúc nên Nguyễn Ngọc
Tư trước tiên quan tâm nhất vẫn là những ǵ ḿnh viết có thực sự làm thỏa măn chính
bản thân ḿnh không. Muốn được bạn đọc đón nhận thì những sáng tác đó phải tự bản
thân người viết thấy hài lòng, tự tin thì mới mong tìm được sự đồng cảm trong dư luận
bạn đọc. Còn không thì sáng tác ðó cũng nhý là một thứ rác rýởi, một ðồ vật mà cũng
ðang bị chính chủ nhân nó ruồng bỏ.
Nguyễn Ngọc Tư là một tác giả trẻ, một phong cách mới. Những sáng tác của
Nguyễn Ngọc Tư vì vậy cũng nhận được rất nhiều dư luận đánh giá khen chê xung
18
quanh các tác phẩm của chị. Tuy vậy, với Nguyễn Ngọc Tư cảm xúc thật của mình thì
luôn quan trọng hơn bao giờ hết. Tiếp nhận những dư luận khen chê nhằm hoàn thiện
bản thân, rút kinh nghiệm trong cách viết về sau. Nguyễn Ngọc Tư vẫn luôn cố gắng
được là chính mình sau những ồn ào xung quanh những vấn đề liên quan đến tác phẩm
của mình, vẫn làm chủ cảm xúc và đưa tới những sáng tác làm thỏa mãn chính bản
thân cũng như bạn đọc.
1.2.2. Cái “Tôi” nhà văn là cái “Tôi” cô đơn
Bao giờ cũng vậy, con người cô đơn rất dễ hình thành xúc cảm để làm văn, làm
thơ. Cũng như nhiều nhà văn khác, Nguyễn Ngọc Tư sớm cảm nhận và ý thức về sự
khắc nghiệt của nghề văn, về sự cô đơn trong sáng tạo của người nghệ sĩ. Do đó,
Nguyễn Ngọc Tư cũng tự nhận mình là người cô đơn. Nhà văn cũng phát hiện ra một
thế mạnh của người phụ nữ là phụ nữ dễ nuôi cô đơn để viết. Bởi thế chị cũng rất biết
cách tận dụng lợi thế này để viết. Theo chị sự cô đơn là cần thiết cho hành trình sáng
tạo nghệ thuật của mỗi nhà văn.
Nhà văn cô đơn, nhà văn viết, nhà văn xóa bỏ sự cô đơn của chính bản thân
bằng những sáng tác của mình. Đó như là con đẻ, là đứa con rứt ruột đẻ ra trong sự cô
đơn. Đặc biệt, đối với nhà văn nữ như Nguyễn Ngọc Tư, sự cô đơn lại dễ dàng là động
lực để chị khẳng định phong cách của bản thân, dễ lấy cảm hứng từ chính sự cô đơn

trong chính vùng đất mà chị đang sinh sống, vùng đất Nam Bộ. Tất cả những tác phẩm
mà Nguyễn Ngọc Tư đã ra mắt độc giả đều ẩn chứa những hương vị quê hương trong
đó. Bằng tất cả tình cảm chân thành với vùng đất này, với những người dân lao động
chất phác đã tạo cho những tác phẩm mang một cảm xúc rất riêng của chính chị, của
chính cảm xúc, tình cảm mà chị đã dành cho nó. Có ý kiến chị nên đổi “vùng thẩm mĩ”
sáng tác, song Nguyễn Ngọc Tư cho rằng chị vẫn còn rất nhiều cảm hứng và còn có
thể viết nhiều hơn thế.
Nguyễn Ngọc Tư không chạy theo những trào lưu sáng tác của giới trẻ hiện nay
mà có cách cảm nhận của riêng mình về hiện thực đời sống. Chị vẫn trung thành với
phong cách viết của chính mình, vẫn một niềm đam mê với phong cách đó. Chị không
quá vội vàng mà “chậm thôi” để “giữ lửa”, giữ cảm xúc trong bản thân, đến một ngày
ngọn lửa đó sẽ cháy sáng, tỏa xa, đó mới là điều quan trọng. Tất cả phải biết nhẫn nại
và làm chủ chính mình. Chính vì thế mà người đọc luôn có những cảm nhận sâu sắc
và chân thành về các tác phẩm của chị.
20
CHƯƠNG 2
CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT “SÔNG”
CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
“Cảm quan” có thể hiểu đó là những cảm nhận của con người về thế giới xung
quanh. Các nhà hậu hiện đã xem tồn tại của thế giới là một khối hỗn độn. Các sự vật,
hiện tượng cứ đan bện, chồng chéo nhau, xuất hiện, biến mất rồi lại xuất hiện mà
không tuân thủ trật tự nào. Ở đây, trong tiểu thuyết Sông, chúng tôi nhận thấy tác giả
đưa vào trang viết những cảm nhận về cuộc sống xung quanh và trung tâm của cuộc
sống chính là con người. Cuộc sống vẫn còn tồn tại những điều phi lí, những mảnh vỡ
khác nhau, hiện thực chưa bao giờ là một màu hồng, các sự vật hiện tượng cứ lần lượt
xuất hiện rồi biến mất đối với cuộc đời mỗi nhân vật. Hiện thực đỗ vỡ, mất mát, bất công
khiến những con người sống trong sự phi lí ấy luôn cảm thấy cô đơn, mòn mỏi, đau khổ
và bản thân họ sẽ là những người cóp nhặt những mảnh vỡ của cuộc đời mình để bước
tiếp, đó cũng chính là nguyên tắc sáng tác “mảnh vỡ” của văn học hậu hiện đại.
2.1. Cảm quan về cuộc sống

xuống mùi một câu vọng cổ, quát tháo con. Có thể thấy áo đàn ông căng trên dây phơi.
Có thể biết họ đang ở đâu đó trong hình ảnh những đứa nhỏ đi mua rượu về tha thẩn
bắt chuồn chuồn trên con đường đất. Nhưng không hiểu sao bọn cậu chỉ thấy bóng
những người đàn bà lai vãng ở đường mòn bên sông, bên hiên nhà, qua cây cầu khỉ,
dưới chòi vó…” [47; 41] Hình ảnh về một cuộc sống phi lý hiện ra, Nguyễn Ngọc Tư
đã cho người đọc tự cảm nhận số phận của những người phụ nữ nông thôn, ven sông
diễn ra như thế nào? Những khó khăn của cuộc sống mà họ phải gánh vác ra sao?
Để nhìn nhận cuộc sống phi lý mà Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện trong tiểu
thuyết, chúng ta còn cảm nhận ở chính những câu chuyện mà các nhân vật đã gặp phải
trong chuyến hành trình khám phá sông Di. Đó là cuộc sống của đôi vợ chồng giáo
chức già ở thị trấn Lệ Kiều, do nghèo khó cũng như không đủ điều kiện trong vụ tranh
chấp đất đai của hai anh em ruột, họ đã chịu bị ức hiếp, sống trong căn chòi lẹm vào
khuôn viên của nhà máy mía cùng với nỗi oan khuất của mình: “Hai mươi hai năm qua
họ không sửa lại nhà, trên nóc oằn đầy xác mía bị ném qua. Người bên đó thỉnh thoảng
lại đứng bên rào cười hô hố với nhau, bảo cứ quăng rác sang giúp người ta chống dột.
Nhưng xác mía lại rất mê dụ rắn. Cô giáo kể về những tổ rắn trên đầu mình, giọng kẹt
giữa đôi hàng răng sin sít” [47; 94]. Cuộc sống của họ đã bị bóp nghẹt do không đủ
điều kiện để tìm công lý cho mình, đôi vợ chồng vẫn sống mòn mỏi như tượng gỗ nhà
mồ. Nhưng họ không hề chấp nhận, họ vẫn hy vọng và mong muốn một cuộc sống
khác bây giờ: “Cô giáo dúi vào tay cậu xấp đơn dày khự dù cậu đã bảo là không phải
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status