Những dấu hiệu hậu hiện đại trong tiểu thuyết nguyễn bình phương - Pdf 30

NHỮNG DẤU HIỆU HẬU HIỆN ĐẠI
TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG

Phùng Gia Thế
Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trên thực tế, từ nửa sau thế kỉ XX, nền văn học thế giới chuyển qua giai
đoạn hậu hiện đại. Khảo sát tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương từ các phương diện:
kiểu cảm quan đời sống đặc thù và những dấu hiệu cách tân nghệ thuật, bài viết
nhằm chứng tỏ: văn xuôi Việt Nam sau 1986 có một dòng mạch vận động theo
khuynh hướng hậu hiện đại, hoà nhập với tiến trình văn học thế giới.

1. "Chủ nghĩa hậu hiện đại là một hiện tượng văn hoá tinh thần phức tạp, có nguyên
nhân sâu xa từ cơ sở xã hội và ý thức của thời đại"
(1)
. Giới nghiên cứu phương Tây từ lâu đã
nêu ra những thuật ngữ, khái niệm để lí giải nó từ cơ sở triết học, văn hoá - xã hội và thực
tiễn nghệ thuật. John Watkin Chapman, hoạ sĩ người Anh được cho là người đầu tiên dùng
thuật ngữ này. Năm 1870, ông đã dùng chữ “postmodern painting”, “postmoderrn style of
painting” (“hội hoạ hậu hiện đại”, “phong cách hội hoạ hậu hiện đại”) để chỉ các khuynh
hướng sáng tác hiện đại hơn, avant – garde hơn trường phái ấn tượng của Pháp. Năm 1917,
Rudolf Pannwitz lại dùng thuật ngữ “con người hậu hiện đại” để chỉ tình trạng suy đồi và hư
vô chủ nghĩa trong nền văn hoá châu Âu bấy giờ
(2)
. Năm 1934, nhà thơ, nhà phê bình Tây
Ban Nha Fedrico de Onis trong Hợp tuyển thơ ca Tây Ban Nha và thơ ca các nước châu Mỹ
nói tiếng Tây Ban Nha tiếp tục dùng thuật ngữ này để chỉ “sự vượt qua” (dépassement) chủ
nghĩa hiện đại những năm 1905 – 1914
(3)
. Năm 1946, nhà thơ Mĩ Randall Jarrel gọi Robert
Lowell là một nhà thơ “hậu hiện đại”. Năm 1947, A. Toynbee dùng thuật ngữ “thời hậu hiện

ở điểm chung nhất, đa số các nhà nghiên cứu đều thừa nhận hậu hiện đại như một trào lưu
văn hoá, một thái độ, và, trước hết là, nói như I.P. Ilin, một giai đoạn lịch sử xã hội qui định
hình thái văn hoá, thể hiện trạng thái tinh thần (mentalite) của thời đại, phương pháp tiếp
nhận và cảm thụ thế giới, sự đánh giá những khả năng nhận thức của con người cũng như vị
trí và vai trò của nó trong thế giới
(6)
.
Hậu hiện đại không phải là lí thuyết đặt ra để điều chỉnh nghệ thuật, mà là cảm thức
của con người được sinh ra trong một thời đại nhất định. Tuy nhiên, trong nghiên cứu lí luận,
việc khái quát, đúc kết nó lại là một yêu cầu tất yếu. Trong sự đối sánh với chủ nghĩa hiện
đại, các nguyên tắc mĩ học hậu hiện đại đã được xác lập. Về cơ bản, đó là: kiểu cảm quan đời
sống thể hiện cách nhìn thế giới đặc thù; sự phản ánh tâm thức con người thời đại, đặc biệt
thể hiện ở sự khủng hoảng niềm tin, bất tín nhận thức; sự xóa nhoà ranh giới giữa nghệ thuật
và đời sống hàng ngày; phá bỏ những giai tầng văn hoá quí phái và văn hoá đại chúng; nhấn
mạnh phong cách trộn lẫn giữa nhân vật và sự can thiệp của chính tác giả vào tác phẩm; tính
chất kết dính nhiều mảng kết cấu khác nhau trong cùng một tác phẩm tựa như một bức tranh
có nhiều chất liệu dị biệt; tính phân mảnh, phi cấu trúc, phi trung tâm, không chú ý chiều sâu;
nhại;
Tuy xuất hiện rất sớm ở phương Tây song thuật ngữ hậu hiện đại mới bước đầu đi vào
đời sống nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam mấy năm gần đây
(7)
. Có thể coi năm 2003 là
một dấu ấn quan trọng trong việc nghiên cứu hậu hiện đại ở Việt Nam với sự ra đời của hàng
loạt bài viết, dịch, các buổi thảo luận, Phần lớn các công trình này đã được in trong cuốn
Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lí thuyết và Truyện ngắn hậu hiện đại thế giới
(Nxb. Hội nhà văn, Trung tâm VHNN Đông Tây, 2003). Gần đây nhất, ngày 22 – 8 – 2007
tại Viện KHXH Việt Nam, Nxb. Tri Thức, quĩ dịch thuật Phan Chu Trinh đã tổ chức buổi toạ
đàm với chủ đề “Xung quanh khái niệm hậu hiện đại” với sự góp mặt của nhiều học giả, nhà
nghiên cứu, dịch giả, những người quan tâm nhân việc sắp ra mắt cuốn sách quan trọng Hoàn
cảnh Hậu hiện đại của J.F. Lyotard (do Ngân Xuyên dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính).

thuyết Nguyễn Bình Phương từ kiểu cảm quan đời sống và những dấu hiệu cách tân nghệ
thuật, bài viết nhằm chứng tỏ: văn xuôi Việt Nam đương đại có một dòng mạch vận động theo
khuynh hướng hậu hiện đại, hoà nhập với tiến trình văn học thế giới
(10)
.
2. Nhà văn Nguyễn Bình Phương sinh năm 1965 tại Thái Nguyên, hiện làm biên tập
viên cho Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nguyễn Bình Phương quan niệm: “Không có sự sáng
tạo, nhà văn sẽ tự tiêu diệt mình”
(11)
. Nỗi khắc khoải này đã được Nguyễn Bình Phương thể
hiện quyết liệt trong mỗi tác phẩm của anh, ở nhiều thể loại, và, dường như, quyết liệt hơn
trong tiểu thuyết, đúng hơn là, trong mỗi tiểu thuyết. Với Nguyễn Bình Phương, mới, đó là
một tiêu chuẩn thẩm mĩ. Bởi vậy, tiểu thuyết của anh là một sự rốt ráo kiếm tìm. Chúng tôi
cho rằng, trong bộn bề tiểu thuyết Việt Nam hôm nay, đã có một phong cách Nguyễn Bình
Phương, không thể trộn lẫn
(12)
.
Thế giới tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương không có những bản tụng ca, không có
cái lí tưởng xuất hiện trực tiếp. Ở đó chỉ có những "vũng" đời sống ngưng đọng, ngắc ngoải
bóp nghẹt con người. Cái đời sống "ban mai đã chết, đêm thì chưa đi" (Người đi vắng).
Nguyễn Bình Phương là nhà văn của cái đương đại. Dầu có nói về quá khứ thì cảm quan đời
sống của nhà văn vẫn tràn ngập hơi thở hôm nay: sự đổ vỡ, khủng hoảng niềm tin, những
vùng đau. Đọc Nguyễn Bình Phương, người ta bàng hoàng đau đớn về thân phận con người.
Tiểu thuyết của anh dung chứa và thể hiện sinh động bao câu chuyện tâm thức của con người
thời đại. Chúng tôi cho rằng dấu hiệu hậu hiện đại trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thể
hiện trước tiên ở kiểu cảm quan đời sống đặc thù biểu hiện qua những thế giới nghệ thuật độc
đáo.
Những đứa trẻ chết già được xuất bản cách đây 17 năm. Dầu không phải là hiện
tượng văn học, song đây là một tiểu thuyết có sức ám ảnh đặc biệt. Tiểu thuyết khó đọc và sẽ
làm những người quen vồ vập với tính nhân quả của sự kiện thất vọng, bởi, ở đây, nhà văn

Rồi tiếng “vắt diệt”, tiếng xe “lọc xọc”, những câu nói vô nghĩa của đám người đi trên xe,
Nghe chẳng được. Nhiều khi nghe được mà không hiểu. Tác giả gọi đó là “Vô thanh”. Trên
đất Linh Nham, ở cả cõi sống và cõi chết, nhân vật đều là những kẻ ham hố kiếm tìm, những
cái thấy được, như của cải, tình yêu, và cả cái “cái gì đấy” mơ hồ, không ai rõ. Và, trên cái
nền đời sống đầy phi lí, hung bạo, thô tục, thiếu sự gần gụi mang tính người, họ đương nhiên
thảm bại. Tất thẩy cuối cùng đều vô nghĩa. Hạnh phúc không phải là thứ mà người ta có thể
nắm bắt, nói chi thụ hưởng. Hình như, trong tăm tối, con người ta chẳng hiểu gì về mình, về ý
nghĩa sự tồn tại của mình. Cứ sống. Vậy thôi. Và cứ thế, Những đứa trẻ chết già của Nguyễn
Bình Phương đổ nỗi buồn mênh mông vào tâm can người đọc. Có lẽ sau 1986, đây là tiểu
thuyết đầu tiên ở ta sử dụng bút pháp hiện thực huyền ảo không phải chỉ như một sự trú chân,
một yếu tố, mà là hình thức của cái nhìn. Mở rộng cõi bờ hiện thực, bằng một lối tư duy mới,
tự do tưởng tượng, Nguyễn Bình Phương đưa ta đến những bến bờ khác của cuộc đời, để hiểu
sâu thêm về chính cuộc đời này.
Thoạt kì thuỷ (1995 – 2003) là cuốn tiểu thuyết có cái tên lạ - cái tên như gợi về một
tiền kiếp xa xăm. Tuy được trình bày theo một cấu trúc lạ song đó vẫn là câu chuyện văn
chương muôn thuở về thân phận con người. Có thể ví Thoạt kì thuỷ như một bức tranh có
nhiều mảng ghép. Một bức tranh với một ít gam màu nhẹ và rất nhiều gam nóng. Dải nền cho
bức tranh ấy, hoạ sĩ “bôi” rất nhiều những vệt màu buồn gợi một không gian u ám xa xôi, trì
đọng đến nghẹt thở. Trên cái nền ấy là một đám đông không ai rõ mặt người. Rất nhiều người
điên, què quặt, bản năng. Đây là cảnh ăn uống, kia là giết mổ, đánh đập và tình dục. Trong
bức tranh Thoạt kì thuỷ, không thấy nhân vật nào có hình người tròn vành rõ chữ. Ông
Phước, cha của Tính như một kẻ khùng, nghiện rượu nặng, ưa đánh đập. Hiền, vợ Tính, hiện
thân cho tâm lí kẻ chịu trận, gánh nỗi khổ nhục đàn bà từ tiền kiếp. Hưng bản năng, thất thần,
và đáng thương. Ông Phùng là nhà văn điên dở. Bản thảo “điên” của ông cũng viết về một
mụ điên, truyện Và cỏ. Ngụp lặn trong cõi sống miên man, nhân vật trong đây không có khát
khao, không điểm tựa, không chút lờ mờ cá tính. Họ chẳng rõ gốc tích gì và rồi cũng biến đi
vô tăm tích giữa cuộc đời: “Quê ông Phùng nghe đâu xa lắm”; gia đình ông Phước ở đâu
“không rõ”; Hiền bỏ đi đâu “không ai rõ”; ông Sung “sau đợt đưa tân binh lên biên giới phía
bắc không thấy quay về xã”; Nam “nghe đồn hi sinh ở Trùng Khánh”; Trên cái nền tăm tối
ấy, Tính, nhân vật chính hiện ra: “Tay dài. Chân ngắn. Lông tay đỏ hồng, ngón không phân

Người đi vắng, đó là Sơn. Sơn có chỗ đáng thương như Tính nhưng không lơ ngơ như Tính.
“Sơn không biết yêu, không bao giờ mơ, hắn chỉ có nhu cầu”. Sơn chết khi vừa chạm tới cái
gọi là tình yêu của con người. Chỉ vì muốn xem bộ dàn compắc, và muốn anh mình nghe
nhạc “thả cửa”, hắn trèo vào nhà người khác. Bị thằng bé “nửa người nửa ngợm” con chủ nhà
phát hiện, Sơn bóp chết nó, rồi thoát ra cửa sổ. Ngã xuống đất. Chết. Cái chết của Sơn, cả của
thằng bé nữa đều bởi một lí do như chẳng phải là lí do gì cả. Thì ra, sống thì đau đớn, khốn
khó lao lung còn chết thì giản đơn vô nghĩa biết chừng nào. Bản nhạc Người đi vắng triền
miên, u mê hỗn độn như “không ai kết thúc được đêm”. Kết thúc tác phẩm là cảnh làm tình
giữa Thắng và Thư (bạn Hoàn). Thắng sững sờ bởi câu hỏi của Thư: - Thế từ trước đến nay
anh làm gì?, bởi thực sự anh “không nhớ nổi bao nhiêu năm qua cơ quan anh làm gì và bản
thân anh làm gì”, “mọi thứ cứ đều đặn trôi cùng thời gian, u mê, vô nghĩa”.
Có thể coi một nửa của Người đi vắng là cuộc đối thoại với hiện thực khốc liệt của
đời sống: sự bê tha nhếch nhác của con người, sự suy đồi ghê gớm của đạo đức và phong hoá
xã hội; một nửa khác, là những đối thoại với cô đơn, trống vắng, vong thân. Phải chăng, sức
hấp dẫn của tác phẩm là ở chỗ, vấn đề mà nghệ sĩ quan tâm ở đây cũng là cái mà con người
thời đại quan tâm?
Không chấp nhận đường mòn, Trí nhớ suy tàn lại là một hướng khai thác riêng của
Nguyễn Bình Phương trong tiểu thuyết. Bằng một lối văn triệt để không chủ ngữ, tác giả đã
dựng nên một thế giới kí ức với bao nhiêu mơ hồ. Viết, ở đây, như ghi lại cái mơ hồ. “Em”,
một cô gái đã tốt nghiệp đại học nhưng hình như không biết mình phải làm gì, không có hứng
thú với điều gì, và cũng chẳng rõ lí do mình tồn tại. Cảm nhận của cô về đời sống là sự tẻ
nhạt, vô nghĩa hết sức. Cái ám ảnh duy nhất với cô là người đàn ông điên và cây điệp hoa
vàng. Lang thang trong mê cung của kí ức, rồi cạn kiệt, cô quyết định ra đi, mà cũng chẳng
biết đi đâu. Tiểu thuyết không còn là sự thể hiện cái bức bối về thời cuộc, mà là sự tô đậm
cảm giác hiện sinh. Các nhân vật khác trong đây cũng chỉ như cái bóng. Đi ra. Đi vào. Thế
thôi. Hơn thế, theo cách gọi của “em”, các nhân vật khác còn bị lược mất tên, chỉ còn là “ô
hay nhỉ”, “chủ hiệu cầm đồ”, “thằng trí thức”, “con bướm”, “hai mươi bảy vết thương”,
Chờn vờn giữa thực tại và kí ức, Nguyễn Bình Phương như làm thơ trong tiểu thuyết. Trí nhớ
suy tàn là sự chuẩn bị cho một cuộc ra đi, không hẹn ngày trở lại. Ở đoạn cuối, tiếng xích lô
kẽo kịt đưa người vào nghìn trùng xa vắng. Mờ mịt. Mênh mông.

cái nhìn riêng nào đó mà thôi. Tất nhiên cái riêng đó không thể đồng nhất với sự tuỳ tiện.
Chúng tôi cho rằng, nhà văn đương đại vẫn có trách nhiệm công dân rất cao đối với đời sống.
Chỉ có điều, họ cảm thấy rất rõ sự bất lực, chán nản và cả sự "vô nghĩa lí" của mình. Tiểu
thuyết Nguyễn Bình Phương, tràn ngập sự ám ảnh khủng hoảng niềm tin, sự đổ vỡ của những
trật tự xã hội và gia đình, sự tha hoá, tối tăm của con người, sự đánh mất bản ngã, phương
hướng, sự lạc lõng bơ vơ của kiếp người, Chúng tôi cho rằng, đây chính là cái gọi là cảm
quan hậu hiện đại trong văn chương như một số nhà nghiên cứu gần đây thường nói tới?
(14)

3. Như một qui luật tất nhiên, để chuyên chở, thể hiện câu chuyện tâm thức của mình,
nhà văn phải sáng tạo những hình thức nghệ thuật tương ứng. Trong phạm vi bài viết, chúng
tôi không thể quan tâm hết mọi yếu tố hình thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, mà
chỉ nói tới các biểu hiện nổi bật của nó với tư cách là hình thức của cái nhìn – hình thức thể
hiện thế giới quan hậu hiện đại.
Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, mới, trước hết bởi cấu trúc. Vượt qua những mô
hình truyền thống, cấu trúc truyện của anh thường lỏng, đa dạng, song hành xoắn vặn, nhiều
khi được cố ý sắp đặt, lắp ghép lộn xộn, do thế, nó có thể dung chứa ngồn ngộn những hỗn
tạp, khốc liệt đau đớn của cuộc đời. Những đứa trẻ chết già xen cài hai tuyến hiện thực âm –
dương. Thoạt kì thuỷ gồm ba phần: A. Tiểu sử, B. Chuyện, C. Phụ chú với hai câu chuyện:
người – cú. Trí nhớ suy tàn trôi nổi giữa hiện tại và kí ức. Người đi vắng diễn tả hai thế giới
song hành: lịch sử và đương đại, thực tại và tâm thức. Ngồi là dòng chảy ào ạt những xô bồ
đời sống và cõi vô thức miên man. Cách tân và có cấu trúc lạ song ở tuyến chính vẫn là
những câu chuyện có thể kể lại được. Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương không phải là cuộc
chia tay vĩnh viễn với truyền thống. Do vậy, đọc Nguyễn Bình Phương thấy lạ nhưng không
"nhạt", có thể đọc một mạch mà không gây cảm giác mệt,
Ngôn ngữ tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương "phức tạp" như ngôn ngữ đời sống. Ở đó,
có những thanh âm trong trẻo và cả những tạp âm. Những đứa trẻ chết già dung chứa bao
tiếng nói lạ, bao cuộc đối thoại cô đơn, những câu nói vô nghĩa của đám người đi trên chuyến
xe trâu, kiểu: Ngủ chiều khác gì đi đái trong mơ/Mình đã bỏ lại cây trẩu sau lưng/ Dễ đến
trăm năm đấy nhỉ?/Hừ, chỉ bốn ngày là hết cứt!/Những cặp môi xanh xao Rồi điệp khúc

ngôn từ của người làm thơ đã giúp ích cho anh rất nhiều.
Nguyễn Bình Phương có lẽ là nhà văn ở ta sử dụng triệt để các yếu tố bản năng vô
thức và tính dục để giải phẫu cõi nhân tâm con người. Tiểu thuyết của anh có rất nhiều ám
ảnh, giấc mơ, mộng mị. Có thể tìm thấy điều này qua nhân vật “ông” trong Những đứa trẻ
chết già, “em” trong Trí nhớ suy tàn, Thắng, Hoàn, Cương trong Người đi vắng, Khẩn trong
Ngồi, và đặc biệt là Tính trong Thoạt kì thuỷ. Có thể xem Tính là “điểm nhìn người điên”
thực sự, và triệt để nhất trong tiểu thuyết Việt Nam, tính đến lúc này. Qua Tính, những vùng
tối tăm, khuất lấp tận đáy vô thức mộng mị con người được phô bày tận độ: “Trôi ở giữa
những đụn khói, ai cũng lẫn vào nhau, lẫn vào nhau. Tất cả đều mờ. Trăng không xuống
được tóc, chỉ lơ lửng trên đầu. Trăng cười, vàng sắp thành đen rồi. Cứ nở mãi, nở mãi giữa
những đụm khói đặc quánh. Mẹ không có, bố không có, Hiền có ”; “Mắt chó vàng như
trăng”; “Chúng nó đã ngủ, lợn đã ngủ. Hiền về thì về đi. Nghe người lục bục lắm, có lẽ trăng
sẽ vỡ mất. Mắt chó vàng như trăng. Nó giàn giụa sáng. Mẹ ạ, phải làm gì bây giờ. Kiến đấy
thôi, xọc một nhát vào cổ thì thành lợn. Mẹ biết máu chảy từ chỗ nào không? Mỗi hòn đá bị
vỡ là máu túa ra. Da thịt của đá mỏng manh lắm. Sánh sao được với nước sông Cái” Với
điểm nhìn người điên này, Nguyễn Bình Phương muốn đưa văn chương tới những cõi bờ mà
người tỉnh táo không thể giải thích, minh định, gọi tên. Trong đây, những giấc mơ của Tính
được nhà văn thảng thốt ghi lại, “theo dõi mà không phê phán những sự kết nối của mỗi giấc
mơ, rồi sẽ tìm ra được cả một chuỗi ý nghĩ và ở đó sẽ có những yếu tố hợp thành những giấc
mơ trở đi trở lại”
(15)
. Không bằng lí tính mà viết nhanh như sợ bỏ qua mất những vệt sáng vô
thức, Nguyễn Bình Phương cho ta thấy, cái chấn thương tâm lí ghê gớm của con người trước
bạo hành, trước những đe doạ hiện hữu, cả những ám ảnh lo sợ về cái gì đó vô hình, mơ hồ,
nhưng khi nào cũng có. Nhà phê bình Đoàn Cầm Thi nhận xét: “Nguyễn Bình Phương có lẽ
là nhà văn Việt Nam đương đại đã đẩy cuộc thăm dò về vô thức đi xa nhất Thoạt kì thuỷ
( ) như mọi tác phẩm nghệ thuật đích thực, sẽ góp phần làm biến đổi thẩm mĩ người đọc
đương thời. Bằng ngôn ngữ điên”
(16)
.

hậu hiện đại. Hậu hiện đại trong văn chương ở ta hiện nay, chỉ tồn tại ở dạng những dấu hiệu,
yếu tố. Các dấu hiệu, yếu tố đó ở mỗi tác giả lại có thể rất khác nhau, bởi, nghệ thuật hậu hiện
đại vốn dung chứa trong bản thân nó nhiều yếu tố khác biệt.
Có thể nói, với một kiểu cảm quan đời sống độc đáo, mang đậm hơi thở thời đại và
những cách tân nghệ thuật không ngừng trên một lối đi riêng, tiểu thuyết Việt Nam hôm nay,
đã có một phong cách Nguyễn Bình Phương, không thể trộn lẫn. Văn chương Nguyễn Bình
Phương không có những ám chỉ này nọ, cũng không hô hào gào thét. Vấn đề nhân bản nằm
ngay trong chiều sâu cái nhìn nhà văn: thân phận con người, cuộc vật lộn làm người. Có một
điều đáng quí là, trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, giữa cái mênh mông vô lối và khốc
liệt của đời sống, vẫn thấy lấp lánh hiện ra trong sâu thẳm con người là thiện tính, là nhân
tính, nhiều khi trong trẻo hồn nhiên đến đáng thương. Còn gì để tin không ở cuộc đời này, dù
cho đó là niềm tin được chắt chiu sau chót? Câu hỏi xót xa day dứt ấy gợi nhớ tới một câu hát
của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Chờ cây non trên núi đầu thai”. Câu hát buồn nhưng chất chứa
trong đó cả tình yêu và niềm đam mê sự sống. Phải chăng, đấy cũng là bức thông điệp mong
manh mà Nguyễn Bình Phương gửi gắm?
Chú thích: (1)
Phương Lựu, Chủ nghĩa hậu hiện đại (Post - modernism), trong sách: Văn học hậu hiện đại thế
giới - Những vấn đề lí thuyết (Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh sưu tầm, biên
soạn), Nxb. Hội nhà văn, TTVHNN Đông Tây, 2003, tr.71.
(2)
Theo Nguyễn Hưng Quốc, Văn học Việt Nam, từ điểm nhìn h(ậu h)iện đại, Văn nghệ, California,
2000, xem trên ; Bùi Văn Nam Sơn, Xung quanh khái niệm hậu hiện đại, Toạ
đàm “Xung quanh khái niệm hậu hiện đại” tại Viện KHXH Việt Nam, ngày 22 – 8 – 2007.
(3)

chuông tận thế (phần dư luận), Nxb. Đà Nẵng, 2003;
(10)
Chúng tôi đã có những tiếp cận ban đầu khi tìm hiểu văn xuôi sau 1986 theo tinh thần này. Xin
xem: Phùng Gia Thế, Cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Tạp chí khoa học,
ĐHSP Hà Nội, số 2, 2007, tr. 31 – 35; Cảm quan đời sống và những cách tân nghệ thuật trong tiểu
thuyết của Nguyễn Bình Phương, Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 3, 2007, tr. 70 – 73; Chất
hậu hiện đại trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà - từ “Cơ hội của Chúa” đến “Khải huyền muộn”, Hội
thảo Tự sự học, ĐHSP Hà Nội, 2007;
(11)
Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Bình Phương với thói quen quan sát người điên (Thu Hà thực
hiện),
(12)
Nguyễn Bình Phương sáng tác trên nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết. Bài viết này quan
tâm đến các tiểu thuyết của anh, thể loại gây tiếng vang nhất, và cũng nhiều tranh luận nhất. Các tác
phẩm được khảo sát, gồm: Những đứa trẻ chết già, Nxb. Văn học, 1994; Người đi vắng, Nxb. Văn
học, 1999; Trí nhớ suy tàn, Nxb. Thanh niên, 2000; Thoạt kì thuỷ, Nxb. Hội nhà văn, 2004; và Ngồi,
Nxb. Đà Nẵng, 2006.
(13)
Nguyễn Gia Nùng, Hội chứng ngợm hoá nhân vật, loạn hoá xã hội, Văn nghệ, số 11, 17 – 3 –
2007.
(14)
Xin xem thêm bài trao đổi của chúng tôi về vấn đề này: Phùng Gia Thế, Ngợm hoá nhân vật, loạn
hoá xã hội – Liệu có đơn giản như thế không?, Văn nghệ, số 13, 31 – 3 – 2007.
(15)
Sigmund Freud, Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ, Nxb. Thế giới, 2005, tr. 56.
(16)
Đoàn Cầm Thi, Sáng tạo văn học: giữa mơ và điên (Đọc Thoạt kì thuỷ của Nguyễn Bình Phương),


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status